Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền Sư Thích Mật Thể

24/06/201100:24(Xem: 2696)
Thiền Sư Thích Mật Thể


thiensuthichmatthe_01
TIỂU SỬ THIỀN SỬ THÍCH MẬT THỂ

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

1.- Thân thế :

Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa.

Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyệt Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.

2.- Sự Nghiệp Tu Học :

Năm Bính Thìn (1916), lên 5 tuổi, theo Nho học.
Năm Giáp Tý (1924), được 12 tuổi, xuất gia đầu Phật tại chùa Diệu Hỷ.
Năm Mậu Thìn (1928), được 16 tuổi, theo học chúng Từ Quang và thọ giáo với ngài Giác Bổn.
Ngài Giác Bổn nhận thấy ngài quá thông minh xuất chúng, có nhiều năng khiếu, có nhiều chí khí nên đưa vào học chúng Trúc Lâm.
Năm Canh Ngọ (1930), tổ Giác Tiên cho thọ Sa di Thập giới .
Pháp danh : Tâm Nhất,
Pháp tự : Mật Thể,
Thuộc dòng Lâm tế Chánh tông đời thứ 43.

Năm Quý Dậu (1933), làm giảng sư của hội An Nam Phật Học.

Từ năm 1933 đến năm 1938, đạy học các trường Phật học của sơn môn Thừa Thiên.

Năm Đinh Sửu (1937), được gởi qua tu nghiệp ở Phật học viện Tiêu Sơn (Trung Hoa), dưới sự chủ trì của thiền sư Tinh Nghiêm.

Năm Mậu Dần (1938), chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, ngài không được phép ở lại Trung Hoa lâu hơn, đành phải về nước.

Năm 1941-1942, cho ra đời tác phẩm Phật Giáo Yếu Lược và Phật Giáo Khái Luận. Cùng năm 1942, tập thơ “Xuân Đạo Lý” do ngài biên khảo với ý nghĩa chủ xướng là : Xuân Là Sứ Mạng Phật Hóa.

Trong tác phẩm nầy, còn đề cập đến vấn đề : Phật giáo với hiện đại, trong đó : Văn hóa đạo Phật có thể mở đường thoát cho một nhân loại đang sống trong hoài nghi, đau khổ, chán đời và bê tha, trụy lạc …

Năm Tân Tỵ (1941), được mời vào giảng dạy ở Phật học đường Lưỡng Xuyên, Trà Vinh

Năm Quý Mùi (1943), cho ra đời tác phẩm : Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (Tân Việt Hà Nội xuất bản).

Năm Giáp Thân (1944), ngài thọ Tam đàn Cụ túc giới tại Đại giới đàn Thuyền Tôn do ngài Giác Nhiên làm Đàn đầu Hòa thượng. Ngài đổ Thủ khoa.

Năm Ất Dậu (1945), nhận chức Trú trì chùa Phổ Quang, gần dốc Bến Ngự . Nơi đây Tổ Giác Tiên đã từng trông coi một thời trước khi khai sơn Trúc Lâm Đại Thánh tự.

Năm Bính Tuất (1946), tham gia phong trào Phật giáo Cứu quốc, rồi ra Bắc

Vì chiến tranh của hai miền trên 30 năm, nên sự hành hoạt của ngài ở trong vòng khiêm tốc . Được biết ngài tịch vào năm Tân Sửu (1961), thọ 49 tuổi (*). Hiện mộ phần được an táng tại nghĩa trang Nghệ An. (Khi thống nhất đấ nước, người viết bôn tẩu ra hải ngoại ; tuy nhiên, được biết môn phái Tổ đình Trúc Lâm, thầy Thanh Toàn là pháp đệ của người viết đã cùng các cháu gọi Ngài bằng chú ruột là ông Nguyễn Hữu Tôn, ở Đà Nẵng, đã cùng nhau ra tận nghĩa trang nầy để cải táng và đưa nhục thân ngài về lại tổ đình Trúc Lâm).

3.- Sự Nghiệp Văn Học :

Các tác phẩm của ngài trước tác gồm có :

Việt Nam Phật Giáo Sử Lược,
Phật Giáo Dị Giảng,
Thế Giới Quan Phật Giáo,
Đại Thông Vô Lượng Nghĩa,
Xuân Đạo Lý (thơ)

Trên đây là những tác phẩm mà ngài đã trước tác hay dịch thuật. Hiện tất cả đều còn lưu truyền trong quần chúng.

Đặc biệt sách của ngài đã được thiền sư Phước Huệ ở tổ đình Thập Tháp, Bình Định có lời tán ngữ ở đầu quyển.

Thiền sư viết như sau :

“…Giữa mùa Xuân năm Quý Mùi (1943), Pháp sư Mật Thể vào Nam thăm, lấy trong tay áo bản thảo cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược viết bằng quốc văn đưa cho tôi mà nói :Đây là công trình sưu tầm biên khảo nhiều năm của con, xin Hòa thượng đọc và chứng minh cho.

Tôi tiếp nhận bản thảo mà đọc. Mỗi khi đêm vắng dưới ngọn đèn khêu cao, cầm bản thảo nơi tay, tôi tự nói một mình là pháp sư tuy đã theo học với tôi nhiều năm tháng nhưng tôi chưa biết được hết chí hướng và nguyện vọng của ông . Trong cuộc đời tu học, thì ra không lúc nào ông không lưu tâm đến sự nghiệp hoằng pháp bằng phương tiện phiên dịch và trước thuật.

“… Từ khi tới Đông Độ, Phật giáo đã đi vào nước Nam ta một ngàn mấy trăm năm rồi ; trong thời gian ấy đạo tổ và Thánh Tăng kế tiếp nhau xuất hiện, công đức ấy chiếu sáng trên lịch sử, ta chẳng nên để cho nó phai mờ mai một. Ngày nay, có được cuốn sách nầy thì chẳng những là Pháp sư có công với Phật giáo mà còn có công với Phật học nữa. Vì vậy mà tôi rất được vui sướng và an ủi, vô lượng vô biên, viết mấy dòng nầy để tán dương…”

(Lời tán dương nầy nguyên bằng chữ Hán, Giáo sư Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Sử Lược quyển ba, trang 186).

Ngài thường kết bạn tâm giao với các vị như : Văn hào Nhất Linh, Văn hào Khái Hưng, Học giả Phạm Quỳnh, Cụ Trần Văn Giáp, Cụ Phan Văn Hùm,… để trao tặng cho nhau những áng thơ hay, hoặc luận đàm giáo lý Phật đà.

Sau đây là bài thơ thiền của ngài còn lưu truyền mà quần chúng Phật tử tại cố đô Huế và miền Trung đều thuộc lòng :

Trăng sáng sau khi trời vừa tạnh,
Ngoài hiên văng vẳng tiếng chuông đưa,
Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng,
Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa ?

Tư Tưởng Của Thiền Sư Mật Thể

Thiền sư Mật Thể, người có chí nguyện lớn. Ông chủ trương phải : “Cải tổ Sơn môn” và đã xuất bản một tài liệu với nhan đề : “Cải Tổ Sơn Môn Huế”. Cũng như Thiện Chiếu ở miền Nam, ông rất nóng lòng vì bước chân đi chậm chạp trong quá trình đổi mới chế độ Tăng già. Ông cũng va chạm rất nhiều trong thời gian vận động, nhưng khác với Thiện Chiếu ông được đào tạo trong Sơn môn hồi còn bé thơ và căn bản Phật học của ông rất vững vàng. Hán văn của ông rất vững. Ông đã tự mình học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Ông là một trong mấy vị Tăng sĩ đầu tiên biết làm thơ mới. Chữ Pháp ông học đủ để đọc các bài nghiên cứu về Phật giáo sử viết bằng Pháp văn. Ông rất ưa thơ Hàn Mặc Tử, không biết tại sao ?

Tháng giêng năm 1946, khi chính phủ lâm thời tổ chức Tổng tuyển cử, ông đã can đảm đứng ra ứng cử ở Thừa Thiên. Ông đã đắc cử làm Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây là lần đầu tiên một vị Tăng sĩ Việt Nam trực tiếp đi vào đường chính trị.
Ngày xưa, vào các thời Đinh, Lê, Lý và Trần các thiền sư đã từng làm chính trị, nhưng, chỉ đứng trong cương vị cố vấn cho nhà vua mà thôi. Việc ra ứng cử Quốc hội của Mật Thể phản chiếu lòng yêu nước và sự ủng hộ cách mạng của giới Phật tử trẻ tuổi. Tuy nhiên, hành động ấy cũng được nhận xét như không được chín chắn bởi một vài vị Tôn túc trong Sơn môn và một vài giới cư sĩ, … Cũng năm 1946, ông được mời làm Chủ tịch Ủy ban Phật giáo Cứu quốc Thừa Thiên.

Trước khi rút về chiến khu, Mật Thể đã gặp một số anh em Phậ t tử đồng chí tại chùa Thế Chí ở Đại Lộc. Họ ăn một bữa cơm chay thân mật cuối cùng với nhau ở chùa nầy và bàn tính về việc tương lai. Họ bàn luận về việc chống Pháp, chuyện tương lai Phật giáo và cố nhiên là về những đụng chạm và khó khăn mà người Phật tử gặp phải trong hang ngũ Kháng chiến. Họ đồng ý là người Phật tử phải có mặt trong lãnh vực tranh đấu, phải phân thân để có mặt. Tại vùng bị chiếm đóng, nếu được thì dựng lại chùa, quy tụ Phật tử để sinh hoạt và để tạo lập phong trào. Tại vùng Kháng chiến, phải tìm cách có mặt trong cơ quan lãnh đạo để bênh vực, che chở cho thanh niên Phật tử phục vụ trong hàng ngũ Kháng chiến.

Thiền sư Mật Thể cho biết rằng việc bảo vệ và xây dựng phong trào Phật giáo bên cạnh người Cộng sản là một công việc rất khó. Nhưng ông bảo người Phật tử không thể không có mặt. Bữa cơm trưa kéo dài đến chập tối. Mật Thể lấy trong bọc áo tất cả số tiền thu được của tạp chí Giải thoát và trao lại cho các bạn trẻ ở lại vùng bị chiếm đóng, dặn dò lấy số tiền đó làm vốn liếng để xuất bản một tờ báo tại Huế để tiếp tục công trình của Giải Thoát. Rồi cuối cùng một vị Tăng sĩ trẻ tên là Thiện Mãn và bốn người Phật tử cư sĩ khác, theo ông lên đường đi Quảng Trị. Những người trẻ về thành phố Huế hôm đó, có các Tăng sĩ Đức Trạm (chùa Ba La), Mãn Giác (chùa Thiên Minh), Thiên Ân (chùa Châu Lâm), và các cư sĩ Đinh Văn Nam và Cao Hữu Đính.

Thích Mật Thể theo Kháng chiến cho đến năm 1961 thì mất. Ông viên tịch tại Nghệ An, thọ 49 tuổi (*). Trong thời gian 1957-1961, vì chống lại chính sách đè nén Phật giáo của chính quyền miền Bắc, ông đã bị quản thúc tại Hà Tĩnh và Nghệ An, ông bị cô lập hoàn toàn. Ở trong một căn nhà lá miền quê, ông không được phép di chuyển đi đâu cả và người trong làng trong xóm cũng không được tới viếng thăm. Thỉnh thoảng có người đi ngang qua ném lén vào sân cho ông một túi gạo nhỏ, gọi là để tiếp tế cho ông trong lúc ngặt nghèo. Vậy mà trong thời gian ấy, ông đã sáng tác được cuốn : “Thế Giới Quan Phật Giáo”. Bản thảo tác phẩm nầy đã lọt vào miền Nam và được tạp chí Vạn Hạnh xuất bản năm 1967. Bản in nầy có mang lời tựa của Thích Đức Nhuận, chủ bút tạp chí Vạn Hạnh.

Thế giới quan Phật giáo là một tác phẩm nói đến sự cần thiết của đạo Phật trong tư trào chính trị, văn hóa và kinh tế hiện tại. Ông thẳng thắn phê bình sự nông cạn của chủ thuyết Duy vật. Theo ông, Phật giáo không phải là Duy vật, cũng không phải là duy tâm. Ông nhấn mạnh đến nguy cơ của những nhà làm chính trị thiếu căn bản đạo đức. Ông nói rằng chủ thuyết của chủ nghĩa xã hội “rất hay”, nhưng vì căn bản của lý thuyết nầy đã sai lầm “nhận vật chất làm căn nguyên sinh ra vạn hữu” cho nên, “Xã hội chủ nghĩa trở nên nông cạn, chỉ thấy hạnh phúc của con người ở cơm ăn áo mặc”.

Theo ông : Xét tận nguồn gốc Xã hội chủ nghĩa tổ chức kinh tế khéo giỏi đến đâu mà không có phương pháp để thủ tiêu lòng tham sân si cùng bản ngã nhỏ hẹp kia, thì nhân loại cũng không bao giờ hết khổ được.”
Với tư cách Đại biểu Quốc hội, Mật Thể đã từng che chở bênh vực cho các Tăng sĩ và cư sĩ hoạt động quanh tờ Giải Thoát vào những năm 1946 và 1947, chính nhờ ông mà tờ Giải Thoát được tồn tại trong một năm trời . Cũng trong hướng bảo vệ Phật giáo, Phạm Hữu Bính, trong bài Phật giáo bị lợi dụng đã nhắc nhở tới :
“Một số người trước mặt thì tỏ ra tán dương mà sau lưng thì ngấm ngầm công kích Phật giáo”.

Ông muốn nói đến những người ngoài miệng thì nói đến tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng trong thâm tâm thì lại cho rằng Phật giáo là nguy hại, rằng người theo đạo Phật là người bị thực dân ru ngủ và lợi dụng. Vấn đề thực dân lợi dụng Phật giáo, Phạm Hữu Bính nhắc lại phong trào phục hưng Phật học trong những năm 1930 và lập lại những bài của báo Viên Âm thời ấy về hai động lực chính của sự chấn hưng, đó là :

1.- Sự tiến hóa của phái trí thức ta phương diện luân lý và,

2.- Sự cần thiết của đạo đức và tinh thần Phật giáo bên cạnh sức mạnh lạnh lùng và mù quáng của khoa học.

Ông nói mục đích của ông không phải là để đối đáp lại : Những công kích lặt vặt và những cử chỉ thiếu thành thật mà là cùng độc giả Giải Thoát xem xét đạo Phật có hại hay có lợi gì cho quần chúng.
“Nếu có hại, chúng ta nên triệt để bài trừ. Nếu có lợi, chúng ta nên cố gắng duy trì, khuyến khích và nếu ai “Lợi dụng” Phật giáo, chúng ta nên khuyến khích họ “Lợi dụng” thêm”.
Ông nói đến tinh thần bình đẳng triệt để và vị tha triệt để trong đạo Phật và nhắc đến sự kiện Phật giáo chưa bao giờ gây nên tai hại cho cuộc sống, chưa bao giờ bạo lực để bành trướng thế lực tôn giáo mình, chưa bao giờ chia rẽ quốc dân đồng bào, chưa bao giờ đứng về phía mạnh để hiếp yếu.

Cuối cùng ông nói :
. “ Chúng ta không sợ Phật giáo bị lợi dụng. Chỉ sợ người đời không biết lợi dụng Phật giáo mà thôi. Chính vì lẻ ấy mà Phật Thích Ca đã suốt đời giảng giải giáo lý, và các Phật tử đủ trí đủ sức không nề gian lao nguy hiểm dù luôn luôn tìm đủ phương tiện để cho ai cũng biết triệt để lợi dụng Phật giáo để đưa mình và đưa người đến nơi hạnh phúc chân thực.”


Ghi chú: (*) Theo môn phái và bà con thân thích cho biết thì thiền sư Mật Thể thọ 51 tuổi . Theo năm sinh 1912 và năm mất 1961. Tài liệu của Việt Nam Phật Giáo Sử Lược quyển ba, giáo sư Nguyễn Lang viết thì ngài thọ thế 49 tuổi.

Việt Nam Phật Giáo Sử Lược
Phật Học Dị Giản.
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa
Phật Giáo Khái Luận
Phật Giáo Yếu Lược.
Cải Tổ Sơn Môn Huế.
Xuân Đạo Lý
Mật Thể Văn Sao (do Lệ Như sưu tập)
Thế Giới Quan Phật Giáo

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

10-01-2008 08:45:23

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/201200:08(Xem: 1140)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
10/08/201101:28(Xem: 992)
Câu hỏi có vẻ lẩn thẩn, bởi lẽ từ khi cắp sách đến trường, bắt đầu học lịch sử dân tộc, ai là người Việt Nam mà chẳng biết qua hơn một lần trang sử đời Trần và trang sử Trần Nhân Tông? Ai là người Việt Nam đã không tự hào về những chiến thắng quân Nguyên vẻ vang của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài ba của vị vua anh minh lỗi lạc Trần Nhân Tông?
11/08/201107:15(Xem: 857)
Suốt hai thế kỷ XVII-XVIII, đạo Phật gặp nhiều thuận duyên, phát triển nhanh chóng từ vùng đất Thuận Quảng đến khắp đồng bằng Nam Bộ. Sở dĩ được thế là nhờ trong chốn thiền môn nối nhau xuất hiện các bậc cao tăng như Viên Cảnh, Viên Khoan, Minh Châu, Nguyên Thiều, Liễu Quán... Ngoài xã hội thì các chúa Nguyễn và triều thần hết lòng hộ trì Tam bảo. Trong số các vị cư sĩ hộ pháp mà danh tiếng còn lưu truyền đến nay có Trần Đình Ân.
23/10/201007:38(Xem: 1238)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/201007:41(Xem: 1211)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
12/08/201105:42(Xem: 2025)
Ở miền Trung, có cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là trụ cột của công cuộc chấn hưng Phật giáo, thì ở miền Nam có cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, một khuôn mặt Phật tử lớn đã cống hiến nhiều công lao trong việc chấn hưng và xây dựng Phật giáo phương Nam.
18/05/201918:17(Xem: 1314)
Cố chơn linh NGUYỄN VĂN BỐNSanh ngày: 20. 02. 1929 (11. 01. Kỷ Tỵ) tại thôn Đại Điền Đông, Diên Điền, Diên Khánh - Khánh Hòa. Trong một gia đình chánh tín Tam Bảo, là người con trai duy nhất trong năm chị em. Nội tổ Phụ qua đời khi Cố chơn linh lên 07 tuổi Lên năm 10 tuổi xuất gia tu học tại Tổ đình Chùa Thiên Quang, nay thuộc thị trấn Diên Khánh. Khánh Hòa. Qui y thọ phái, được Tổ Nhơn Duệ thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42 cho Pháp danh là Tâm Biên. Năm 14 tuổi Tổ cho đi thọ giới Sa Di tại giới đàn Chùa Kim Long, thôn Phú Hòa, xã Ninh Quang- Khánh Hòa và Tổ cho Pháp Tự là Thiện Hiền.
07/11/201519:55(Xem: 3524)
Con về trong nắng cuối thu Phước Hoa đứng lặng ngậm ngùi lệ rơi Quỳ bên pháp thể ân sư Con nghe sâu lắng thâm ân của thầy Đêm nay phương trượng thật buồn Con ngồi lặng lẻ nghe bao nỗi niềm Thầy ơi! Cơn lốc tử sinh An nhiên thị tịch thầy đi xa rồi Mất còn tan hợp hư vô Pháp thân thầy đó mênh mông lối về…
10/04/201311:03(Xem: 4778)
Nhận được tin từ cố đô Huế, Việt Nam, Trưởng Lão Ni, Sư Cụ Thích Nữ Diệu Trí, thế danh Hồ thị Trâm Anh, Húy thượng Trừng hạ Khương, Đạo hiệu Liễu Nhiên, đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, Viện chủ chùa Diệu Đức, Trú Trì chùa Diệu Nghiêm, thành phố Huế, đã xã báo thân, an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 23 tháng 3 năm 2010 (nhằm ngày mùng 8 tháng 2 năm Canh Dần), trụ thế 103 năm, với 78 tuổi đạo.
08/09/201916:06(Xem: 1373)
Trưởng Lão Hòa thượng Thích Chơn Thành, một nhà sư bình dị, hài hòa, dễ mến, luôn nở nụ cười hoan hỷ, được giới trí thức, sinh viên du học Nhật thương mến, được cộng đồng người Việt và người Ngoại quốc rất quý kính với tên gọi thân thương: “Happy Monk.” Hòa thượng được trưởng dưỡng từ những dòng Thiền Phật Giáo Nhật Bổn, thăng hoa đời sống tâm linh. Thầy có cái nhìn mới và thời đại dẫn đến những việc làm lợi ích cho đạo và cho đời. Thế danh của thầy là Nguyễn Thứ, sinh ngày mùng 9 tháng 8 năm 1934, tại Xã Xuân Thọ, Quận Sông Cầu, Tỉnh Phú Yên, Việt Nam. Thân phụ của thầy là Cụ Ông Nguyễn Thanh, thân mẫu là Cụ Bà Võ Thị Đạt. Ngài là đệ tử của cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Quảng Liên, vị tu sĩ Phật Giáo Việt Nam đầu tiên được đi du học tại Hoa Kỳ vào năm 1956 với học bổng do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Cơ Quan Văn Hóa Mỹ cấp tặng.