


Vài Cảm Nghĩ Khi Được Nghe Giảng Sư Thích Nguyên Tạng
với chủ đề : Vua A Dục với tinh thần chuyển biến nội tâm và Hộ Trì Chánh Pháp tại lớp Giáo Lý Gia Đình Phật Tử Việt Nam huấn luyện Huynh Trưởng cấp 1.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch Giảng Sư TT Thích Nguyên Tạng,
Thật là một đại duyên cho con trong khi nghiên cứu về Tâm lý học phương Tây và Tâm lý học Phật giáo qua sự so sánh một cách tổng quát về sự chuyển biến nội tâm, và vô tình gặp được bài viết của TT Thích nguyên Tạng và Dr Hoàng Phong trên một trang web Phật Giáo về đề tài VUA A DỤC từ năm 2014 (https//www .Quangduc.com /tuyentap vua a dục—-https//nghiencuulichsu.com- Ashoka một vị vua Phật tử )
Thì hôm nay lại hữu duyên hơn khi được Thầy thông báo trên Viber rằng Thầy sẽ thuyết giảng tại lớp Giáo Lý Gia Đình Phật Tử Việt Nam huấn luyện Huynh Trưởng cấp 1 vào ngày 17/8/2025 với chủ đề : “Vua A Dục với tinh thần chuyển biến nội tâm và Hộ Trì Chánh Pháp”
Nhân dịp này con đã lắng lòng tìm hiểu hơn suốt 2 giờ thuyết giảng của Thầy, và kính xin được trình bày lại những gì con đã khai ngộ được chút ít về vị vua vĩ đại nhất của Ấn Độ, và là vị hoàng đế đầu tiên cai trị một đế chế rộng lớn đứng hàng thứ 7 trên thế giới.
Được biết Đại Đế A Dục (304-232), vị vua thứ 3 của Triều đại Mauryan (Khổng Tước), Ấn Độ, sinh năm 304 trước Tây Lịch (TTL) tại Thành Hoa Thị, kinh đô Ma Kiệt Đà, ông vốn là con cháu 9 đời của Vua Tần Bà Sa La
Và là là cháu nội Vua Chandragupta (trị vì: 322-298 trước T.L), người sáng lập nên Triều đại Maurya (322-184 trước T.L)
Vua A Dục (Vô Ưu) là con của Vua Bindusara và Hoàng hậu Subhadrangi, trị vì vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) vào những năm 298-273 trước T.L), kinh đô đóng tại Pataliputra (Hoa Thị Thành), nay là thủ phủ Patna, thuộc tiểu bang Bihar, miền Đông Ấn Độ.
Vua A Dục chính thức lên ngôi vua thứ ba của Vương Triều Maurya vào khoảng năm 269 TTL, sau khoảng 4 năm nội chiến đẫm máu.—-xưng hiệu là Devanampiya Priyadasi, tức là “Người được Chư thiên yêu mến, người có ánh nhìn từ bi, người đối xử tử tế với người khác".
Nên bài viết sẽ gồm 2phần:
Phần I-Có phải chuyển biến nội tâm là một sự tỉnh thức ?
Phần 2-II-Có phải nhờ hữu duyên được gặp thiện tri thức, hoặc vì lý do căn cơ tiền thân mà vua Asoka đã trở nên nhà hộ trì Chánh pháp?
Riêng phần câu hỏi dành riêng cho các đoàn sinh, các bạn dặc biệt quan tâm về nhân quả , nghiệp và tội phước và đây cũng là một trong 5 điều mà không ai có thể biết rõ thế nào , kính xin dành cho một chủ đề khác .
Kính bạch Thầy, con từng học được Chuyển biến nội tâm là sự thay đổi trong nhận thức, cảm xúc và hành vi theo hướng tích cực, giảm bớt phiền não, tham ái, sân hận, và hướng tới sự an lạc, giải thoát.
I-Có phải chuyển biến nội tâm là một sự tỉnh thức ?
Qua 3 câu chuyện đã khiến vua A Dục chuyển biến nội tâm mà giảng sư đã kể trong bài pháp hôm nay , đã giúp người viết nhận ra những bài học trải nghiệm theo nhiều góc nhìn :
1. Góc nhìn tâm lý – triết học
• Chuyển biến nội tâm có thể gọi đó là sự chuyển đổi bản sắc sâu sắc sau một biến cố, một sự kiện chấn động (mất mát, tai nạn, trải nghiệm cận tử, gặp một bậc minh triết, hoặc chứng kiến một điều vượt quá lý trí).hơn thế nữa tâm lý học còn gọi đây là một dạng thức tỉnh hiện sinh (existential awakening), khi con người đột ngột ý thức về ý nghĩa, giá trị và sự mong manh của đời sống.
Và câu chuyện vườn Ái Lạc, đây là một “cú chạm” thần thánh làm xoay chuyển cả đời người.)
CÂU CHUYỆN 01 -GẶP VỊ TỲ KHEO Ở VƯỜN ÁI LẠC
Sau khi giết hết anh em để đoạt ngôi, A Dục trở thành vua nước Ma-kiệt-đà. Thời gian đầu trị vì, ông nổi tiếng tàn bạo, được dân gọi là “A Dục độc ác” (Chandashoka).
Lúc ấy, vua muốn răn đe dân chúng bằng cách dựng một nhà tù đặc biệt, vừa đẹp đẽ như vườn cảnh bên ngoài nhưng bên trong lại tra tấn man rợ, gọi là Vườn Ái Lạc (Sanskrit: Ashoka’s Paradise Garden, Pali: Ashokārāma, nhưng ý nghĩa dân gian gọi là “vườn địa ngục”).
Vua A Dục ra lệnh xây một khu vườn tuyệt mỹ: hoa thơm, cây lạ, hồ nước trong chim hót líu lo. Người ngoài nhìn vào tưởng là nơi giải trí cung đình. Nhưng ẩn bên trong là nơi giam giữ và tra tấn tù nhân. Lý do gọi là “Vườn Ái Lạc”, vì lúc mới vào, tù nhân sẽ thấy cảnh đẹp như thiên đường, sinh tâm tham đắm. Nhưng chỉ trong chốc lát, cảnh vui biến thành cực hình — như ái dục ở đời dẫn đến khổ đau, nên gọi “Ái Lạc Viên”.
Do luật của vua: “Ai bước vào, dù vô tình hay hữu ý, đều không thể trở ra”, nên Vua giao cho một viên quan tàn ác tên là Giám Ngục Ác Quỷ. Người này trọn quyền nghĩ ra hàng trăm cực hình: bỏ đói, lột da, chém tay chân, ném vào vạc dầu, thiêu sống…
Và nhân duyên chuyển hóa: (Một ngày kia, một vị Tỳ-kheo A-la-hán có tên là ngài Samudra, vì nhân duyên hóa độ, tự nguyện bước vào vườn. Cai ngục định hành hình, nhưng vị Tỳ-kheo dùng thần lực hiển bày sự an nhiên, biến ngục tù thành cảnh giới thanh tịnh.)
Vua nghe tin, đến tận nơi, cảm phục trước oai nghi và trí tuệ của vị Thánh Tăng, sau khi nghe pháp về nhân quả báo ứng, vua kinh sợ, sám hối tội ác.Từ đó, Vua A Dục cho phá bỏ “Vườn Ái Lạc”, ân xá cho tù nhân và phát tâm hộ trì Phật pháp và trở thành “A Dục Hiền Thiện , Dharmashoka”
Điều này đã chỉ rõ rằng khi ấy, tâm trí vua A Dục đã thay đổi hẳn cách nhìn đời: từ chỗ hung ác, bạo lực → biết trân quý sự sống, tìm đến niềm tin và đạo lý.
2. Góc nhìn tôn giáo – tâm linh
Trong Phật giáo, sự chuyển hóa này có thể xem là một dạng tỉnh thức: từ mê lầm chuyển sang thấy được sự thật, dừng lại con đường ác nghiệp.• Tuy nhiên, có thể không phải là giác ngộ trọn vẹn, mà chỉ là khai mở bước đầu – hạt giống thiện lành trong tâm được đánh thức.
Và cũng trong Phật giáo nếu nhìn qua lăng kính nhân quả – tái sinh, thì:
• Hành động hiện tại chịu ảnh hưởng từ căn cơ nhiều kiếp.
• Người từng gieo thiện căn từ trước, dù lạc lối trong kiếp này, nhưng gặp đúng duyên (sự kiện chấn động, gặp minh sư, nghe một câu kinh, một bài kệ…) thì thiện căn trỗi dậy, chuyển hóa hẳn tâm tính. Điều này được thể hiện qua câu chuyện tiền thân của vua A Dục
(Một ngày kia Phật Thích Ca Mâu Ni (624-544 TTL) cùng chúng Tỳ kheo đi khất thực tại thành Vương Xá, một cậu bé con nhà nghèo, tên là Jaya, hồn nhiên cùng nhóm bạn ngồi giữa đường nhồi đất sét, nặn giả làm thành trì sông núi. Cậu bé đem dâng cúng tất cả thành trì đất sét này cho Phật bằng cách bỏ hết vào bình bát của Ngài và nói rằng lớn lên con muốn làm vua. Đức Phật tiếp nhận và báo cho đại chúng biết rằng cậu bé sẽ thành vua, cai trị thành Pataliputra trong tương lai.) Câu chuyện này được ghi trong bộ đại sử Mahāvaṃsa và A Dục Vương Truyện
Là kẻ một thời tay vấy máu, (1)
Để giữ quyền kế vị cuộn sóng chơi vơi.
Giết 99 đối thủ anh em,
mắt tối đen giữa cuộc đời
Bỗng một cú chạm thần thánh,
từ mê lầm biến chuyển !
Giữa phù vân ló dạng vầng dương,
âm thầm nảy nở hạt giống thiện !
Nội tâm xoay, cả cõi đời thường.
Hướng về ánh sáng giữa lớp mù sương
Dao gươm rơi xuống – lòng tan chảy,
Tỉnh thức hiện sinh, dù bao ác nghiệp dàn trải
Hạt giống trong tim lại nở hoa thơm
Kẻ ác hóa ra người mộ đạo,
chói sáng những nơi tối om om
Đường đi cũ dần tan như khói,
Cõi an nhiên, chốn bình yên soi tỏ muôn lối
Khi chuyển đổi đột ngột sâu sắc rất nhanh
Sau chấn động mạnh, biến cố
gặp đủ duyên sẽ biến thành
Từ hung thành thiện như lửa chỉ bùng lên khi gặp gió,
( thơ HH)
————-
(1) A Dục đã giết 99 người anh em để loại bỏ đối thủ, giữ quyền kế vị.Chỉ còn một người em là Tissa (Vitashoka) được tha mạng, về sau đi xuất gia và chứng quả A La Hán.
Và 2 câu chuyện tiếp theo về sự chuyển biến nội tâm thần kỳ: từ Asoka, con người tàn ác (chandashoka), sau khi theo đạo Phật đã trở thành Asoka, con người thiện lành (dharmasoka), hay con người thân thiết với thần linh (devanampiya), con người ai thấy đều vui mừng (pyadasi)...
CÂU CHUYỆN 02- CUỘC CHIẾN KALINGA
Kết thúc cuộc chiến Kalinga, mà trong cuộc chiến Kalinga ấy ước tính có 300.000 người đã thiệt mạng (100.000 người ở phía Maurya và 150.000 người ở phía Kalinga đã bị giết) -cuộc chiến Kalinga này là một trong những cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử Ấn Độ cổ đại và khi tận mắt chứng kiến nỗi đau của dân chúng, đầy máu đổ và xác người ngổn ngang, tiếng khóc than vang vọng, Vua A Dục bị sốc và tràn ngập cảm giác tội lỗi và ghê sợ chiến tranh, đã khiến vua A Dục trải qua một sự chuyển biến nội tâm sâu sắc
Điều này chứng tỏ: Đây là bước ngoặt trong nội tâm của ông: từ một kẻ khát máu trở thành người trăn trở với nỗi đau nhân sinh.Tâm trí của ông bị giằng xé giữa vinh quang chiến thắng và nỗi đau nhân loại. Ông cảm nhận rõ sự vô nghĩa của chiến tranh và quyết tâm từ bỏ bạo lực
CÂU CHUYỆN 03 GIÚP VUA THỨC TỈNH—-CUỘC GẶP GỠ NGƯỜI CHÁU TRAI
Vua A Dục có một người cháu trai tên là Nigrodha, là con người anh trai Susima bị ônggiết trong cuộc tranh giành ngai vàng trước đây. Cậu bé Nigrodha được mẹ cho đi xuất gia.Một ngày nọ, khi Vua A Dục đi dạo trong vườn thượng uyển, ông nhìn thấy một thiếu niên khoác y vàng, nét mặt sáng ngời và phong thái điềm tĩnh. Đó chính là Sa di Nigrodha.
Bị thu hút bởi vẻ trầm lặng và đạo mạo của vị tu sĩ trẻ, Vua A Dục đến hỏi:– “Chú là ai? Ai là người thầy của chú? Tại sao chỉ là một cậu bé mà có thể an tịnh như thế?”Nigrodha cho biết vốn là con cháu hoàng tộc Maurya và nói một câu kệ ngắn: “Không làm các điều ác, siêng làm các điều lành, giữ tâm ý thanh tịnh, là lời chư Phật dạy.” Nghe xong, Vua A Dục bỗng lặng người, như có một luồng sáng chiếu rọi vào tâm. Ông cảm nhận sự mầu nhiệm từ lời dạy giản dị mà sâu sắc. Đây là dấu hiệu của sự thức tỉnh tâm linh tránh xa các việc ác - Năng làm việc thiện lành
Từ đó, ông phát tâm quy y Tam Bảo, trở thành một Phật tử tại gia hộ trì chánh pháp, và chuyển hóa hoàn toàn., đây chính là bước ngoặt đưa ông đến với Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng.
Sự chuyển biến nội tâm ấy đã biến vua A Dục từ bạo chúa thành vị vua hộ pháp.-Từ kẻ sát hại anh em trở thành người yêu chuộng hòa bình.Ông bắt đầu đi chiêm bái, xây dựng chùa, tháp, tổ chức truyền bá Phật pháp khắp Ấn Độ và nhiều quốc gia khác.
II-Có phải nhờ hữu duyên được gặp thiện tri thức hoặc vì lý do tiền thân căn cơ mà vua Asoka đã trở nên nhà hộ trì Chánh pháp?
Có lẽ nguyên nhân lớn nhất đến từ Sự hối hận và đau khổ sau chiến tranh khiến A Dục tìm kiếm con đường an lạc và một đại cơ duyên đã khiến có cuộc gặp gỡ hy hữu: Vua được giới thiệu và gặp được Ngài Ưu Ba Cúc Đa (Upagupta), vị Tổ thứ tư trong dòng truyền thừa Phật giáo Ấn Độ và Lễ quy y Tam Bảo được diễn ra từ đó vua A Dục chính thức thọ Tam Quy và trì ngũ giới.và công việc hộ trì chính pháp bắt đầu
1. Truyền bá và bảo hộ Phật giáo
-Tổ chức Đại hội Kết tập Kinh điển lần thứ 3 (tại Pataliputra, khoảng năm 250 TTL) nhằm bảo tồn giáo pháp nguyên chất.
-Tổ chức các phái đoàn hoằng pháp đi khắp nơi Cử các đoàn truyền bá Phật pháp đến khắp Ấn Độ và nhiều quốc gia, như Sri Lanka, Hy Lạp, Ai Cập, Miến Điện. Con trai ông, Tỳ kheo Mahinda, và con gái ông, Tỳ kheo ni Sanghamitta, là những sứ giả nổi tiếng có công truyền bá PG đến Tích Lan và Miến Điện
2. Các công trình và biểu tượng Phật giáo
-Xây dựng 84.000 bảo tháp thờ xá-lợi Phật ở tất cả Phật tích khi đến chiêm bái.và trụ đá khắp lãnh thổ Ấn Độ, trong đó nhiều công trình còn tồn tại tới ngày nay.
-Trụ đá A Dục khắc các chiếu chỉ bằng chữ Brahmi Kharosthi, Hy Lạp, Aramaic… truyền dạy đạo đức, lòng từ bi, khoan dung tôn giáo, và khuyến khích đời sống hòa bình, đây là . hành pháp dụ (Edicts): cho người khắc trên trụ đá và vách đá những lời dạy về đạo đức, bất bạo động, lòng khoan dung tôn giáo
3. Tư tưởng trị quốc bằng đạo đức (Dhamma)
-Pháp trị” của Vua A Dục không dựa vào vũ lực mà vào chánh pháp – đề cao lòng từ bi, trí tuệ, sự khoan dung và đạo đức xã hội.
-Ban hành luật bảo vệ động vật, giảm thiểu săn bắn, chăm sóc y tế cho người và thú.
-Khuyến khích mọi tôn giáo cùng tồn tại, chống kỳ thị tín ngưỡng.
-Cải cách xã hội: Bãi bỏ nghề săn bắn, hạn chế giết mổ, mở bệnh viện cho người và thú, đào giếng, trồng cây ven đường.
4. Dấu ấn trong lịch sử và văn hóa
-Biểu tượng bánh xe pháp (Dharmachakra) & 4 con sư tử trên trụ đá A Dục đã trở thành quốc huy và quốc kỳ của Ấn Độ ngày nay.
Lời kết :
Kính xin mượn lời giảng của TT Thích Nguyên Tạng để tóm gọn bài pháp này “Hình tượng Vua A Dục là biểu mẫu của “vị vua của lòng từ”, ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị và đạo đức của nhiều nền văn hóa Á châu-Di sản của ông không chỉ là vật chất (tháp, bia ký) mà còn là thông điệp nhân văn và hòa bình vượt thời gian “
Hình hài tàn úa theo năm tháng,
Tấm lòng gieo hạt vẫn còn đây.
Đạo lý truyền đời như dòng nước,
Tưới mát muôn tâm giữa cỏ gầy
Di sản tinh thần là thông điệp
Từ bi, trí tuệ cố dựng xây
Vật chất, danh lợi từng theo đuổi
Không còn mãi ngụp lặn loay hoay
Vượt thời gian, noi Asoka gương sáng
Hạnh phúc, an lạc ở đời này
(Thơ HH)
Như vậy bài học được tiếp thu sau buổi giảng pháp này là :mỗi biến cố xảy đến đều để giúp ta thức tỉnh—-Sử dụng tri thức đúng để thay đổi cuộc đời
Tỉnh thức để nhìn lại mình.
Tỉnh thức để kịp thời dừng lại.
Tỉnh thức để không tiếp tục dấn sâu hơn vào những điều sai xấu.
Tỉnh thức để quay về sống đúng, sống thiện, và sống thật với chính mình.
Và phải chăng: Có người tỉnh ngộ sau một cú vấp nhỏ, còn có người phải cần đến cả một trận sụp đổ long trời lở đất mới biết quay về bên trong.
Và thêm vào đó vài định nghĩa về thức tỉnh tâm linh của GS Trần Việt Quân và AI để kết thúc bài trình pháp này, kính mong được các bạn đồng cảm
—-Thức tỉnh là trạng thái nhận thức hoàn toàn của tâm trí. Trong đó bạn có thể nhìn thấy và hiểu rõ hơn về bản chất thực sự của mọi thứ, từ đó bạn có thể nhìn cuộc sống và thế giới từ một góc nhìn rộng mở, khách quan và sâu sắc hơn. Tỉnh thức cũng có thể được gọi là sự tỉnh táo hoặc sự thức tỉnh tâm linh.
Trong ngữ cảnh tâm linh, tỉnh thức thường được coi là một trạng thái cao nhất của nhận thức và hiểu biết. Đây là một trạng thái mà bạn có thể cảm nhận được sự liên kết giữa tất cả mọi thứ và nhận thức được sự tồn tại của một lực lượng vô hình và toàn năng trong Vũ trụ. Tỉnh thức cũng có thể đưa ra cho bạn sự khai mở và truyền cảm hứng để bạn phát triển tốt hơn và giúp đỡ mọi người bằng tình yêu thương vô điều kiện.
Thức tỉnh tâm linh là giai đoạn linh hồn bạn có sự thôi thúc mạnh mẽ để quay vào bên trong, kết nối với chính mình, lắng nghe tiếng gọi của chính mình thay vì chạy theo những mục tiêu và những danh vọng bên ngoài. Sự thức tỉnh có thể tự nhiên diễn ra hoặc do bạn gặp phải một biến cố nào đó trong cuộc sống. Khi bạn đạt được trạng thái tỉnh thức tâm linh, bạn có thể cảm nhận được sự an bình, sự đủ đầy và khả năng kết nối trong tất cả mọi thứ.
—theo AI “Chuyển biến nội tâm là một phần của quá trình phát triển cá nhân, nhưng tỉnh thức là một trạng thái nhận thức cao hơn, đòi hỏi sự tập trung, chấp nhận và kết nối với hiện tại.
Nhưng chuyển biến nội tâm lại có liên hệ mật thiết đến căn cơ tu học của một người. Căn cơ tu học ở đây có thể hiểu là nền tảng, khả năng và sự sẵn sàng tiếp nhận, thực hành giáo lý Phật Đà để đạt được sự chuyển hóa tâm thức. Sự chuyển biến nội tâm không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình tu tập, rèn luyện và sự giác ngộ cá nhân. —-Một người có căn cơ tốt sẽ dễ dàng tiếp thu và thực hành Phật pháp hơn, từ đó có những chuyển biến nội tâm tích cực. Căn cơ tu học ( tiền kiếp- tiền thân là nền tảng, còn chuyển biến nội tâm là kết quả của quá trình tu tập. Cả hai yếu tố này có mối liên hệ mật thiết với nhau, và sự chuyển biến nội tâm chỉ có thể đạt được thông qua quá trình tu tập đúng pháp và kiên trì)
Kính trân trọng và kính xin đa tạ những tư liệu của Giảng Sư đã nghiên cứu và update trong suốt 2 giờ đồng hồ đã giúp ích rất nhiều cho những ai muốn học hỏi giáo lý nhất là đã giới thiệu tác phẩm “Từ Huyền Thoại đến Sự Thật của vua A Dục” do tác giả Lê Tự Hỷ biên soạn .
Kính chúc Thượng Toạ giảng sư pháp thể khinh an và con đường hoằng pháp ngày càng thăng hoa lợi ích cho chúng sinh.
Sydney 18/8/2025
Phật tử Huệ Hương
Tường thuật nhanh sau khi nghe pháp thoại trên Facebook:
https://www.facebook.com/ThichNguyenTang/videos/1109542831152112
Và Youtube channel:
https://www.youtube.com/watch?v=CjneNX6u2VM