Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

19. Từ quyển: Ghi Chép của Krishnamurti

01/07/201100:59(Xem: 1273)
19. Từ quyển: Ghi Chép của Krishnamurti

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ THƯỢNG ĐẾ
Nguyên tác: ON GOD - Lời dịch: ÔNG KHÔNG – 2008

BÀN VỀ THƯỢNG ĐẾ

Từ quyển: Ghi Chép Của Krishnamurti
Ngày 20 tháng 7 năm 1961

Tiến trình mãnh liệt một cách đặc biệt chiều hôm qua. Trong xe hơi, đang chờ đợi, người ta hầu như quên bẵng mọi chuyện đang xảy ra chung quanh người ta. Cường độ mãnh liệt đã gia tăng và nó hầu như không chịu nổi đến nỗi người ta bắt buộc phải nằm xuống. May mắn thay có một người nào đó trong phòng.

Căn phòng ngập tràn phước lành đó. Bây giờ cái gì tiếp theo hầu như không thể diễn đạt bằng từ ngữ; từ ngữ là những vật chết, với nghĩa lý được sắp đặt chính xác và cái gì đã xảy ra vượt khỏi tất cả từ ngữ và sự diễn tả. Nó là trung tâm của mọi sáng tạo; nó là nghiêm túc tinh khiết đã lau sạch sẽ bộ não không còn mọi tư tưởng và cảm thấy; nghiêm túc của nó giống như ánh sét tiêu hủy và đốt cháy rụi; uyên thâm của nó không thể đo lường được, nó ở đó không thể chuyển dịch, không thể xuyên thấu, một khối đồng nhất nhưng lại nhẹ như bầu trời. Nó ở trong đôi mắt, trong hơi thở. Nó ở trong đôi mắt và đôi mắt có thể thấy nó. Đôi mắt mà thấy, mà nhìn khác biệt hoàn toàn đôi mắt của cơ quan và tuy nhiên chúng lại cùng đôi mắt. Chỉ có đang thấy, đôi mắt mà thấy vượt khỏi không gian-thời gian. Có cao quí không thể thâm nhập và một an bình mà là bản thể của tất cả mọi chuyển động, hành động. Không có đức hạnh nào tiếp xúc được nó vì nó vượt khỏi mọi đạo đức và lễ giáo của con người. Có tình yêu mà hủy diệt toàn bộ và vì vậy nó có sự thanh tú của mọi sự việc mới mẻ, mong manh, dễ tổn thương, dễ phá hủy và vẫn vậy nó vượt khỏi tất cả việc này. Nó ở đó bất diệt, không tên tuổi, cái không biết. Không tư tưởng nào đã từng thâm nhập vào nó; không hành động nào đã từng tiếp xúc được nó. Nó “tinh khiết”, trinh nguyên và vì thế đẹp đẽ lạ thường nhưng luôn luôn hủy diệt.

Tất cả việc này dường như gây ảnh hưởng bộ não; nó không còn giống như nó đã là trước kia. (Tư tưởng là một vật thật tầm thường, cần thiết nhưng tầm thường). Bởi vì nó, sự liên hệ dường như đã thay đổi. Giống như một cơn bão tàn phá, một trận động đất hủy diệt tách sông ngòi thành những nguồn mới, thay đổi phong cảnh, đào sâu xuống lòng đất, cũng vậy nó đã san bằng những lệch lạc của tư tưởng, đã thay đổi khuôn mẫu của tâm hồn.

Ngày 30 tháng 7 năm 1961

Một ngày có mây, ảm đạm bởi những đám mây đen; đã có mưa vào buổi sáng và trời trở lạnh. Sau chuyến dạo bộ chúng tôi đang nói chuyện nhưng thật ra chúng tôi đang nhìn ngắm vẻ đẹp của trái đất, nhà cửa và cây cối sẫm màu.

Bỗng nhiên, có một lóe sáng của quyền năng và cái sức mạnh không tiếp cận được đó đang xé tan thân thể. Thân thể lạnh cứng lại biến thành bất động và người ta phải nhắm nghiền đôi mắt lại vì sợ sẽ phải ngất xỉu. Nó đang xé tan hoàn toàn và mọi thứ mà đã là dường như không hiện hữu. Và bất động của sức mạnh đó và năng lượng hủy diệt theo cùng nó, đốt cháy mọi giới hạn của thị lực và âm thanh. Nó là một cái gì đó quá vĩ đại không thể diễn tả được và chiều cao lẫn chiều sâu của nó không thể hiểu được.

Sáng sớm nay, ngay rạng đông, không có một đám mây trên bầu trời và những hòn núi phủ tuyết vừa trông thấy được, thức giấc cùng cảm thấy của sức mạnh không xuyên thủng trong đôi mắt và cổ họng người ta; nó có vẻ là một trạng thái nhận thấy được, một cái gì đó luôn luôn ở đó. Trong gần một tiếng đồng hồ nó ở đó và bộ não vẫn trống không. Nó không là một sự việc có thể nắm bắt được bởi tư tưởng và được lưu giữ trong ký ức để hồi tưởng lại. Nó ở đó và mọi tư tưởng bặt tăm. Tư tưởng thuộc chức năng, chỉ hữu dụng trong lãnh vực đó; tư tưởng không thể nghĩ về nó vì tư tưởng là thời gian và nó vượt khỏi tất cả thời gian và kích thước. Tư tưởng, ham muốn không thể tìm kiếm sự tiếp tục của nó hoặc sự lặp lại của nó, vì tư tưởng, ham muốn hoàn toàn vắng mặt. Vậy thì cái gì ghi nhớ để viết ra sự việc này? Hiển nhiên là sự ghi lại máy móc nhưng điều ghi lại, từ ngữ không là sự việc.

Ngày 18 tháng 8 năm 1961

Đã mưa liên tục gần hết đêm và thời tiết trở nên khá lạnh; có khá nhiều lớp tuyết mới trên những quả đồi cao hơn và những hòn núi. Và cũng có cơn gió lạnh buốt. Những cánh đồng cỏ xanh rực rỡ lạ lùng và màu xanh gây kinh ngạc. Và cũng có mưa hầu như suốt ngày và chỉ gần đến chiều tối mới bắt đầu quang đãng và mặt trời lẫn trong những hòn núi. Chúng tôi đang dạo bộ trên con đường mòn dẫn từ ngôi làng này qua ngôi làng khác, một con đường uốn quanh những ngôi nhà nông trại, chen qua những cánh đồng cỏ màu mỡ xanh tươi. Những cột đèn cao thế mang những sợi dây cáp điện nặng nề, đứng nổi bật tương phản bầu trời buổi chiều; ngước nhìn lên những cấu trúc bằng thép vượt cao tương phản những đám mây chuyển động nhanh và êm ả, có vẻ đẹp và quyền năng. Băng qua một cây cầu bằng gỗ, con suối đầy nước, dâng cao bởi cơn mưa này; nó đang chảy thật nhanh, bằng một uy lực và sức mạnh mà chỉ những con suối núi mới có. Nhìn lên xuống con suối, bị giữ chặt bởi hai bờ nhồi nhét chặt chẽ bởi những tảng đá và cây cối, người ta hiểu rõ được chuyển động của thời gian, quá khứ, hiện tại và tương lai; cây cầu là hiện tại và tất cả sự sống chuyển động và sống qua hiện tại.

Nhưng còn hơn tất cả sự việc này, dọc theo con đường làng lầy lội được rửa sạch bởi cơn mưa, có một cái khác lạ, một thế giới không bao giờ có thể tiếp xúc được bởi tư tưởng của con người, những hoạt động của nó và những đau khổ vô tận của nó. Thế giới này không bao giờ là sản phẩm của hy vọng hoặc của tin tưởng. Người ta không hoàn toàn nhận thức rõ nó vào khoảnh khắc đó, có quá nhiều việc để quan sát, cảm thấy và nhận biết mùi vị; những đám mây, bầu trời xanh lạt ở ngoài những hòn núi có mặt trời lọt thỏm trong chúng và ánh hoàng hôn trên những cánh đồng cỏ lấp lánh; mùi của những chuồng bò và những bông hoa màu đỏ quanh những ngôi nhà nông trại. Cái khác lạ này ở đó đang bao phủ tất cả phong cảnh, không bao giờ bỏ sót một sự vật nhỏ nhoi nào, và khi người ta nằm tỉnh giấc trên giường, nó đổ dồn vào, ngập tràn cái trí và quả tim. Ngay lúc đó người ta nhận thức được vẻ đẹp tinh tế của nó, đam mê và tình yêu của nó. Nó không là tình yêu được thờ phụng trong những hình ảnh, được hồi tưởng bởi những biểu tượng, những tranh ảnh và những từ ngữ, cũng không là tình yêu được che đậy trong ghen tuông và đố kỵ, nhưng tình yêu ở đó đã được giải thoát khỏi tư tưởng và cảm thấy, một chuyển động quanh co, muôn đời. Vẻ đẹp của nó có ở đó cùng tánh tự từ bỏ của đam mê. Không có đam mê của vẻ đẹp đó nếu không có mộc mạc. Mộc mạc không là một sự việc của cái trí, đã được thâu lượm cẩn thận qua hy sinh, đè nén và kỷ luật. Tất cả những việc này phải ngừng lại, tự nhiên, vì chúng vô nghĩa cho cái khác lạ đó. Nó tràn vào bằng phong phú không giới hạn. Tình yêu này không có trung tâm và chu vi và nó quá trọn vẹn, quá mỏng manh đến độ không có một cái bóng trong nó và vì thế luôn luôn có thể bị hủy diệt.

Chúng ta luôn luôn nhìn từ ngoài vào trong; từ hiểu biết chúng ta tiếp tục tăng thêm hiểu biết, luôn luôn thêm vào và lúc giảm đi lại là một thêm vào khác. Và ý thức của chúng ta được tạo thành bởi hàng ngàn sự việc được ghi nhớ và công nhận, ý thức về một chiếc lá đang run rẩy, về bông hoa, về người đàn ông đi qua, về đứa bé đó đang chạy qua cánh đồng; ý thức về tảng đá, con suối, bông hoa đỏ rực rỡ và mùi hôi thối của một cái chuồng lợn. Từ ghi nhớ và công nhận này, từ những phản hồi bên ngoài, chúng ta cố gắng ý thức được những sâu kín bên trong, được những động cơ và những khao khát mãnh liệt sâu sắc hơn; chúng ta tìm hiểu mỗi lúc một sâu hơn vào những chiều sâu vô hạn của cái trí. Toàn qui trình này của những thách thức và phản hồi, của chuyển động thuộc trải nghiệm và công nhận những hoạt động kín đáo và bộc lộ, toàn qui trình này là ý thức bị giới hạn vào thời gian.

Cái tách không chỉ là hình dạng, màu sắc, thiết kế mà còn là khoảng trống không đó phía trong của cái tách. Cái tách là khoảng trống không được vây bọc trong một hình dạng; nếu không có khoảng trống không đó sẽ không có cái tách cũng như hình dạng. Chúng ta biết được ý thức do những biểu hiện bên ngoài, do những giới hạn về chiều cao và chiều sâu, về tư tưởng và cảm thấy. Nhưng tất cả việc này là hình thức bên ngoài của ý thức; từ bên ngoài chúng ta cố gắng tìm được bên trong. Liệu việc này có thể được hay không? Những lý thuyết và những suy đoán không có ý nghĩa lắm; chúng thực sự ngăn cản mọi khám phá. Từ bên ngoài chúng ta cố gắng tìm được bên trong, từ cái đã được biết chúng ta mò mẫm hy vọng tìm ra cái không biết được. Liệu rằng có thể thăm dò từ bên trong ra bên ngoài? Cái dụng cụ thăm dò từ bên ngoài, chúng ta đã biết rồi nhưng liệu rằng có một dụng cụ thăm dò từ cái không biết được đến cái đã được biết hay không? Có không? Và làm thế nào có được? Không thể có được. Nếu có một dụng cụ, nó được công nhận và nếu nó được công nhận, nó ở trong lãnh vực của cái đã được biết.

Phước lành lạ lùng đó đến khi nó muốn, nhưng cùng mỗi chuyến viếng thăm, sâu thẳm bên trong, có một chuyển đổi; nó không bao giờ giống nhau.

Ngày 21 tháng 8 năm 1961

Lại nữa, hôm nay là một ngày có nắng, trong xanh, cùng những cái bóng dài và những chiếc lá lấp lánh; những hòn núi thanh thản, khối đồng nhất và gần gũi. Bầu trời có một màu xanh kỳ diệu, không vấy bẩn và dịu dàng. Những cái bóng phủ đầy quả đất; một buổi sáng dành cho những cái bóng, những cái nhỏ và những cái lớn, những cái nghiêng ngả, dài và những cái mãn nguyện, dày, những cái thô kệch, nặng nề và những cái nhỏ nhắn, vui tươi. Những nóc nhà của những ngôi nhà nhỏ và những nông trại rực sáng giống như đá cẩm thạch láng bóng, những cái mới và những cái cũ. Dường như có hân hoan tưng bừng và reo hò trong cây cối và những cánh đồng cỏ; chúng tồn tại vì nhau và trên chúng là thiên đàng, không phải thiên đàng do con người tạo ra, bằng những hành hạ và hy vọng. Và có sự sống, bao la, tráng lệ, đang đập rộn ràng và đang trải dài mọi phương hướng. Nó là sự sống, luôn luôn tươi trẻ và luôn luôn nguy hiểm; sự sống không bao giờ ở lại, lang thang khắp quả đất, dửng dưng, không bao giờ để lại một dấu vết, không bao giờ đòi hỏi hay cầu xin bất cứ việc gì. Nó ở đó thật phong phú, không có bóng và không chết chóc; nó không bận tâm từ đâu nó đến hoặc nó đang đi đâu. Chỗ nào nó có mặt là sự sống, vượt khỏi thời gian và tư tưởng. Nó là một sự việc tuyệt diệu, tự do, thanh thoát và không soi thấu được. Nó không phải để bị nhốt lại; nơi nào họ nhốt nó, trong những nơi thờ phụng, trong chợ búa, trong nhà cửa, có thối rữa và hư hỏng và sự đổi mới không ngừng của họ. Nó ở đó đơn giản, oai nghi và hủy diệt và vẻ đẹp của nó vượt khỏi tư tưởng và cảm thấy. Nó thật bao la và không thể so sánh đến nỗi nó tràn đầy quả đất và bầu trời và ngọn cỏ héo tàn mau. Nó ở đó cùng tình yêu và chết.

Thời tiết mát mẻ trong cánh rừng, với con suối đang la hét ở phía dưới gần một mét; những cây thông thẳng đứng vút cao lên bầu trời, không một lần thèm cúi xuống nhìn lại quả đất. Quang cảnh ở đó thật tráng lệ với những con sóc đen tuyền đang gặm nhắm nấm cây và rượt đuổi nhau lên xuống những cái cây theo hình xoắn ốc chật hẹp; có một con chim cổ đỏ nhấp nhô lên xuống, hoặc con vật nào đó trông giống như nó. Ở đó thật mát mẻ và yên tĩnh, ngoại trừ con suối có những dòng nước núi lạnh ngắt. Và nó đó kìa, tình yêu, sáng tạo, và hủy diệt, không phải như một biểu tượng, không phải trong tư tưởng và cảm thấy nhưng là một sự kiện thực sự. Bạn không thể thấy nó, cảm thấy nó, nhưng nó ở đó, bao la và hủy diệt, sức mạnh vô song và có sức sống của cái mong manh nhất. Nó ở đó và mọi sự việc trở nên tĩnh lặng, bộ não và thân thể; nó là một phước lành và cái trí thuộc về nó.

Không có kết thúc của chiều sâu; bản thể của nó là không thời gian và không gian. Nó không thể bị trải nghiệm; trải nghiệm là một việc hào nhoáng bên ngoài, dễ dàng có được và cũng dễ dàng mất đi; tư tưởng không thể nào diễn tả được nó và cảm thấy cũng không thể tìm được lối vào. Đây là những sự việc không chín chắn và xuẩn ngốc. Chín chắn không thuộc về thời gian, một vấn đề của tuổi tác, chín chắn cũng không đến nhờ vào ảnh hưởng và môi trường sống. Nó không thể được mua, và cũng không có những quyển sách, những vị thầy hay những đấng cứu rỗi, một người hay nhiều người, đã có lần tạo ra ý nghĩa đúng đắn cho chín chắn này. Chín chắn không là một kết thúc trong chính nó; nó tồn tại mà không cần tư tưởng vun quén, tối tăm, mà không cần thiền định, không biết. Phải có chín chắn, hoàn hảo đó trong sự sống; không phải hoàn hảo được vun quén từ bệnh tật và rối loạn, đau khổ và hy vọng. Tuyệt vọng và nỗ lực cực nhọc không thể mang lại chín chắn tổng thể này nhưng nó phải ở đó, không được tìm kiếm.

Vì trong chín chắn tổng thể này có mộc mạc. Không là mộc mạc của thương khóc và ăn năn sám hối nhưng là của dửng dưng không suy tính trước và tự nhiên đối với những sự việc của thế giới, những đạo đức của nó, những thần thánh của nó, kính trọng của nó, những giá trị và những hy vọng của nó. Tất cả những sự việc này phải được phủ nhận hoàn toàn cho mộc mạc đến cùng cô đơn. Không có một ảnh hưởng nào của xã hội hay văn hóa có thể tiếp cận được cô đơn này. Nhưng nó phải ở đó, không được gợi nhớ bởi bộ não, mà là đứa trẻ của thời gian và ảnh hưởng. Nó phải đến ầm ầm như sấm không từ nơi nào cả. Và nếu không có nó, không có chín chắn tổng thể. Cô độc – bản thể của tự thương xót và tự phòng vệ và cuộc sống trong tách rời, trong hoang đường, trong hiểu biết và ý tưởng – khác hẳn cô đơn; trong cô độc có sự nỗ lực không ngừng nghỉ để hội nhập nhưng luôn luôn tách rời. Sống cô đơn là một cuộc sống trong đó mọi ảnh hưởng kết thúc. Chính cô đơn này là bản thể của mộc mạc.

Ngày 22 tháng 8 năm 1961

Trong không gian có cảm thấy của cái bao la quá sức chịu đựng đó, mãnh liệt và khăng khăng. Nó không là một tưởng tượng hão huyền; tưởng tượng không còn khi có sự thật; tưởng tượng rất nguy hiểm; nó không có giá trị, chỉ sự thật có giá trị. Ý tưởng hão huyền và tưởng tượng gây thích thú và dối gạt và chúng phải đuợc quét dọn sạch sẽ. Mọi hình thức của hoang đường, hão huyền và tưởng tượng phải được hiểu rõ và hiểu rõ này xóa sạch tầm quan trọng của chúng. Nó ở đó, và cái gì đã được bắt đầu như thiền định, kết thúc. Thiền định còn có ý nghĩa gì nữa khi sự thật ở đó! Không phải thiền định mang được sự thật ra, không gì có thể làm sự thật hiện hữu; nó ở đó không cần thiền định nhưng cần phải có một bộ não tỉnh thức, nhạy cảm mà đã kết thúc hoàn toàn, tự nguyện và dễ dàng, sự huyên thuyên của lý luận và không lý luận của nó. Bộ não đã trở nên rất yên lặng, đang thấy và đang nghe mà không đang diễn dịch, mà không đang phân loại; nó yên lặng và không có một thực thể hoặc một cần thiết để bắt buộc nó yên lặng. Bộ não rất tĩnh và rất tỉnh. Cái bao la tràn đầy đêm đó và có phước lành.

Nó không có liên hệ với mọi sự vật; nó không đang cố gắng để uốn nắn, để thay đổi, để khẳng định; nó không có ảnh hưởng và vì vậy không thể bị lay chuyển. Nó không đang làm điều tốt lành, không đang đổi mới; nó không đang trở thành được kính trọng và vì thế rất hủy diệt. Nhưng nó là tình yêu, không phải tình yêu mà xã hội vun quén, một tình yêu hành hạ. Nó là bản thể của chuyển động của sự sống. Nó ở đó không thể lay chuyển, hủy diệt, cùng một mong manh mà chỉ cái mới mẻ biết được, như một chiếc lá non của mùa xuân, và nó sẽ tác động đến bạn. Và có sức mạnh vượt khỏi đo lường, và có quyền năng mà chỉ sáng tạo mới có. Và tất cả sự vật yên lặng. Một vì sao duy nhất đó đang đi qua quả đồi và bây giờ đang ở thật cao và nó sáng rực rỡ trong cô đơn của nó.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/03/201719:28(Xem: 4334)
Thức A-lại-da không phải là linh hồn. Đạo Phật bác bỏ không có linh hồn tồn tại trong một bản thể muôn loài hữu tình chúng sanh. Thức A-lại-da, là cái biết linh diệu của muôn loài, trong đó có loài người là tối thượng hơn tất cả. Cho nên Thức A-lại-da là con người thật của con người, chứ thể xác không phải là con người thật vì sau khi xác thân con người nói riêng, muôn loài chúng sanh nói chung bị chết đi, xác thịt sẽ bị bỏ lại, rồi từ từ tan rã thành đất, cát, tro, bụi bay tứ tung trong không gian, không thể mang theo qua bên kia cõi chết. Duy chỉ còn lại một mình thức A- lại-da ra đi và tồn tại trong một bản thể nào đó bên kia cõi chết.
20/03/201713:18(Xem: 2893)
Nhân dịp đức Phật về Thành Ca Tỳ La Vệ giáo hóa hay tin công chúa Da Du Đà La mới bảo con mình đến gặp Phật xin chia gia tài, Phật mới nói rằng ta bây giờ không còn nắm giữ tài sản thế gian, chỉ có tài sản của bậc Thánh, nếu con muốn ta sẽ chia cho con? La Hầu La nghe Phật nói liền chấp nhận và sau đó phát tâm xuất gia tu theo Phật. Các bạn biết gia tài tâm linh đó là gì không? Này các bạn, đức Phật của chúng ta trước khi đi tu vẫn có vợ có con, sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề thấu rõ mọi nguyên lý sai biệt như phải quấy, tốt xấu, nên hư, thành bại trong cuộc đời đều do chính mình tạo lấy, sau đó Phật mới trở về tiếp chúng độ sinh. Bảy thứ gia tài Thánh nếu chúng ta biết ứng dụng vào trong đời sống hằng ngày, thì chúng ta sẽ giàu có và tràn đầy hạnh phúc, không một ai có thể cướp đi được. Đức Phật của chúng ta đã thừa hưởng gia tài đó, nên đã không còn luyến tiếc cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, và thần dân thiên hạ.
20/03/201702:48(Xem: 3135)
Sau khi nhịp đập của con tim bị ngừng lại và cùng lúc 5 giác quan của toàn thân con người không còn biết cảm giác, gọi là Chết. Nhưng thức A-lại-da bên trong vẫn còn hằng chuyển liên tục và hoạt động một mình. Sự hoạt động đơn phương của nó y như lúc con người còn sống đang ngủ say.Thức A-lại-da hoạt động một mình, không có 5 giác quan của cơ thể bên ngoài cộng tác
16/03/201711:10(Xem: 2884)
Trong bài “Sức Mạnh Của Tâm” kỳ trước có nói đến Tâm là chủ tể. Đích thực, con người trên đời này làm nên vô số việc tốt, xấu, học hành, nên danh, nên nghiệp, mưu sinh sống đời hạnh phúc, khổ đau, cho đến tu tập phật pháp được giác ngộ thành Phật, thành Thánh, Nhân bản, v.v…đều do tâm chỉ đạo (nhất thiết duy tâm tạo). Qua đây cho ta thấy rằng; tâm là con người thật của con người, (động vật có linh giác, giác hồn thật siêu việt hơn tất cả các loài hữu tình khác trên trái đất này). Phi tâm ra, bản thân con người, chỉ là một khối thịt bất động.
16/03/201706:42(Xem: 2673)
Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã). Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều,
13/03/201721:37(Xem: 1786)
Chữ NHƯ được thông dụng rất phổ biến trong văn chương và lời nói thường nghiệm của các dân tộc trên thế giới và trong Phật Giáo . Trong văn chương, chữ Như được thấy ở một số trường hợp : Xác định, phủ định, tương tợ, không thực…(như ảo, như hóa) đối với các vật thể hiện thực.
11/03/201703:50(Xem: 2510)
Do vì đặc thù, cho nên bảy hạng đệ tử Phật (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Sa di, Sa di ni, Thích xoa Ma na, Ưu Bà Tắt, Ưu Bà Di) từ trong thời Phật còn tại thế và hôm nay, ai cũng phải có tâm từ bi là một quy luật ắt phải có sau khi quay về Đạo Phật (Quy y tam bảo) trở thành Phật tử xuất gia. Được có tâm từ bi, là phải học và thực tập Phật Pháp. Dù là những oanh vũ nam, oanh vũ nữ trong tập thể GĐPT, đều phải học đạo lý từ bi và thực tập từ bi, được thấy ở những câu: em thương người và vật, em kính mến cha, mẹ và thuận thảo với anh chi, em.
01/02/201704:39(Xem: 1285)
Một số tư tưởng Phật học sau đây cùng nói lên nghĩa của Ý Giáo : Ý tưởng mong muốn đem giáo Pháp giải thoát của Phật ra, giảng dạy cho mọi người được biết mà tu tập. Tâm thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa Phật pháp. Tự mình làm thầy lấy mình để sửa tâm. Tự mình thắp đuốc lên mà đi. Hành giả vào đạo Phật để tìm con đường giải thoát
29/01/201720:04(Xem: 5618)
Hiểu tư tưởng Duyên Khởi thì hiểu Triết học Phật giáo. Thuyết “duyên khởi” là một nền tảng triết lý rất quan trọng trong lời giáo huấn của Đức Phật. Sau khi đắc đạo, Đức Phật đã căn cứ vào lẽ sanh khởi của dukkha (những điều không hài lòng, căng thẳng, khổ đau…) mà nói lên sự liên hệ nhân quả của nó gồm có 12 thứ/ 12 chi. Ngài lập ra thuyết “duyên Khởi”.
22/12/201610:04(Xem: 9870)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.