Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

5. Sự giác ngộ của Đức Phật là quá trình chuyển hóa tâm linh - Thích Quang Thạnh

16/05/201313:35(Xem: 1501)
5. Sự giác ngộ của Đức Phật là quá trình chuyển hóa tâm linh - Thích Quang Thạnh


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
--- o0o --- 

Phần I

Bản chất và con đường Giác Ngộ

--- o0o ---

SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT
LÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ TÂM LINH

Thích Quang Thạnh

Qua sự kiện chứng ngộ của đức Phật kéo dài suốt 3 canh (đầu, giữa và cuối), ta thấy rằng đức Phật luôn theo một tiến trình tuần tự trong quá trình tu tập chuyển hoá tâm linh bằng sự kết hợp Thiền và Tuệ. Đối với Ngài, các học Pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. . . Sự chứng ngộ của Đức Phật là sự kiện bắt nguồn cho một trường phái tư tưởng mới, một tôn giáo mới, một khối kim cương pha lê của giác ngộ, vượt thoát khỏi mọi ràng buộc và chấp mắc ở đời.

Với bầu không khí mùa Đông giá lạnh trong khung cảnh êm đềm tịch tĩnh của màn đêm, khi nhân loại còn đang mải mê đắm chìm trong giấc ngủ say sưa của dòng đời vô minh, ngũ dục đầy đau khổ, có ai biết chăng trong số đó một bậc vĩ nhơn siêu phàm chợt bừng tỉnh thức hoàn toàn bản chất tự tâm tại cây Bồ-đề thiêng trong đêm hôm ấy vào năm 528 trước Tây lịch.(1)Đó là thái tử Siddhattha với độ tuổi vừa tròn 35. Ngài đã thực sự chứng ngộ quả vị Vô Thượng Bồ-đề, giải thoát hoàn toàn mọi phiền não vô minh, sinh tử luân hồi, và đã trở thành vị Phật với danh hiệu Thích-ca-mâu-ni.

Sự chứng ngộ của Ngài đã mở ra cho nhân loại một hướng đi mới nhằm giải thoát mọi phiền não khổ đau, hầu mang lại cho con người một cuộc sống hoàn toàn chân thiện mỹ và đầy an lạc hạnh phúc qua con đường tu tập lý Trung Đạo mà Ngài đích thân đã chứng ngộ. Trong kinh Pháp Cu? Ngài đã dõng dạc tuyên bố với nhân loại rằng:

"Chỉ có con đường này; không có con đường nào khác đưa đến sự thanh tịnh về tri kiến. Thực hành theo con đường này, mọi thứ khác trên cuộc đời đều là sự mê loạn của Ma Vương" (This is the path; there is no other that leads to the purification of intelligence. Follow this (path), for everything else (in this world) is the deceit of Màra, the Tempter).(2)

Ngài cũng khẳng định cho chúng ta biết rằng: Sự giác ngộ của mỗi người đều tùy thuộc vào sự nỗ lực tự thân mà không phải nương tựa vào ai:

"Các ngươi phải tự nỗ lực lên. Các đức Như Lai chỉ là những người chỉ dạy. Những người đi theo con đường này và thực hành thiền định sẽ giải thoát khỏi sự ràng buộc của Ma Vương" - (You yourself must make an effort. The Blessed Ones (Tathàgata) are only preachers. Those who follow the Path and practise meditation are freed from the bondage of Màra, the Tempter).(3)

Ngày nay, tuy Đức Phật đã đi vào trạng thái Niết-bàn, sự kiện giác ngộ tại linh cội Bồ-đề và lời dạy của Ngài vẫn luôn là tiếng chuông ngân vang mãi trong mỗi trái tim của người con Phật (nói riêng) và cả nhân loại (nói chung) suốt hơn 25 thế kỷ qua.

Nhân dịp lễ tưởng niệm ngày Phật Thành Đạo, Phật Lịch 2545, và chào đón thiên niên kỷ mới của nhân loại năm 2001 tại Bồ-đề Đạo Tràng, người viết xin được mạo muội góp chút suy nghĩ và sự hiểu biết của mình cho buổi thảo luận với chủ đề: "Sự giác ngộ của Đức Phật là quá trình chuyển hoá tâm linh"

I . GIẢI THÍCH Ý NGHĨA ĐỀ TÀI

Trước nhất, chúng ta nên thảo luận một vài từ ngữ để làm sáng tỏ hơn về ý nghĩa của đề tài. Chữ "giác ngộ" được các nhà học giả dịch ra nhiều khía cạnh và ý nghĩa khác nhau. Theo Từ Điển thuật ngữ Phật học Hán Anh, chữ "giác ngộ" (enlightenment) có nghĩa là: "thức tỉnh, soi sáng, hoặc sự nhận thức rõ ràng về thực tại tâm linh" (to awake, become enlightenment, or comprehend spiritual reality).(4)Trong cuốn Bách Khoa Từ Điểncủa Đại học Oxford, "giác ngộ" bao hàm 2 nghĩa: (a) hành động tỉnh thức (act of enlightenment), (b) trạng thái được thức tỉnh (state of being enlightened).(5)Ngoài ra, chữ "giác ngộ" còn có nghĩa là "trạng thái tâm linh cao nhất có thể đạt được" (Enlightenment is the highest spiritual state that can be achieved).(6)

Chữ "tâm linh" có nghĩa là "tâm hồn"(7), hay còn gọi là "tâm tinh thần hoặc tư tưởng."(8)Theo Từ Điển Pàli - English, chữ "tâm" được viết theo chữ Pàli là Citta, có nghĩa là "trọng tâm và tiêu điểm của bản tính xúc cảm của con người, cũng như căn bản trí vốn sẵn có bên trong và đi kèm với những sự biểu lộ bên ngoài của nó. Hay nói đơn giản hơn, tâm chính là "sự tư duy" (the center and focus of man’s emotional nature as well as that intellectual element which inheres in and accompanies its manifestations; i.e. thought).(9)Mặt khác, "tâm" có nghĩa là "khả năng để tư duy, cảm thọ và để nhận thức về sự vật" (the ability to think, feel emotions and be aware of thing).(10)Hay có nghĩa là " năng lực tri kiến" (one’s intellectual powers)(11)

Chữ "quá trình" ở đây được dùng để chỉ chung cho khoảng thời gian tu tập lâu dài tuần tự theo thứ lớp, mà không có sự vượt bậc, đột ngột.

Chữ "chuyển hoá" có nghĩa là sự chuyển đổi từ tư tưởng tiêu cực sang tư tưởng tích cực, từ tâm phiền não trở thành tâm giải thoát v.v. . .

Tóm lại, trong đề tài này, người viết muốn nhấn mạnh chữ "giác ngộ" mang ý nghĩa là: sự nhận thức thấu đáo được bản chất như thật của vạn hữu. Chữ "Tâm Linh" được dùng với ý nghĩa: tâm hồn hoặc tư tưởng. Từ đây ta có thể hiểu rõ hơn về chủ đề của bài viết này là: "Sự nhận thức thấu đáo của Đức Phật về bản chất như thật vạn hữu là một quá trình tu tập lâu dài chuyển hoá tâm linh theo thứ lớp."

II . SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT
LÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA TÂM LINH

Khi nói đến "quá trình," người viết muốn nhấn mạnh về chuỗi thời gian tiệm tiến trong tiến trình giác ngộ của đức Phật để chứng minh rằng: sự giác ngộ của Đức Phật không phải chỉ trong thời gian ngắn ngủi đôi ba phút mà thành tựu, nó đòi hỏi cả một quá trình tu tập lâu dài và bền bỉ của Ngài ngay từ khi bắt đầu thực hành pháp tu khổ hạnh cho đến lúc chứng ngộ quả vị Vô Thượng Bồ-đề, tức thành Phật. Vậy bằng phương pháp gì Đức Phật tu tập trong suốt quá trình chuyển hóa tâm linh để chứng ngộ Bồ-đề? Chúng ta hãy cùng nhau thảo luận tuần tự về vấn đề này.

1. BẰNG PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP QUÁ TRÌNH KINH NGHIỆM TU TẬP QUA HAI LỐI SỐNG CỰC ĐOAN

Khi Đức Phật còn là một vị Thái tử, Ngài đã từng sống trong cảnh xa hoa lộng lẫy, được nuông chiều chăm sóc và nuôi dưỡng cẩn thận của một hoàng nam: nào là sống trong một cung điện nguy nga tráng lệ sang trọng hợp theo thời tiết 3 mùa: mùa Đông, mùa Hạ, và mùa Mưa; nào là ăn mặc quần áo bằng các loại vải Kàsi thượng hạng được mang về từ thành Ba-la-nại v.v.(12); cho đến lúc Ngài trở thành vị Sa-môn thực hiện đời sống tu hành ép xác khổ hạnh hơn ai hết: nào là theo phương pháp hướng nội như thiền nín thở, nghiến răng, chận lưỡi v.v…(13)nào là theo phương pháp hướng ngoại như mặc y phấn tảo, nhịn ăn đến độ chỉ còn dùng một nắm gạo hay 1 trái cây mỗi ngày.(14)Nhưng tất cả mọi thứ ấy đều không đưa Ngài đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Ngài nghĩ rằng:

"…Dầu ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, ta cũng không chứng được các pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp Thượng nhơn với Thánh trí tuệ. Chính thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau."(15)

Cuối cùng Ngài đã từ bỏ hai lối sống cực đoan và nhận thức rằng: cuộc đời không phải lúc nào cũng đem đến cho con người mọi lạc thú an vui và hạnh phúc, ngay chính đằng sau mọi lạc thú và hạnh phúc ấy đều sẵn có nỗi khổ đau vô thường rình rập họ. Ngài đã dạy các đệ tử rằng:

"Này các Tỳ-kheo! Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai ? Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỳ-kheo, là con đường Trung đạo do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."(16)

Từ những kinh nghiệm cuộc sống sung túc xa hoa và lối sống tu hành ép xác khổ hạnh, Ngài đã phá bỏ hai con đường cực đoan ấy và tìm ra được một con đường mới, đó là con đường Trung đạo với lối sống tri túc, quân bình, đúng đắn và thích hợp qua hình ảnh Ngài tiếp nhận bát cơm sữa của nàng Sujata. Chính con đường Trung đạo đã đưa đức Như Lai diệt tận mọi khổ đau, phiền não, vô minh và thành tựu thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Vậy thế nào là con đường Trung đạo? Đó chính là "con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là con đường Trung đạo, này các Tỳ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."(17)

Sự chứng ngộ của Đức Phật là sự kiện bắt nguồn cho một trường phái tư tưởng mới, một tôn giáo mới, một khối kim cương pha lê của giác ngộ, vượt thoát khỏi mọi ràng buộc và chấp mắc ở đời. Trong ánh sáng chói lọi của sự giác ngộ, xuất hiện ra một hệ tư tưởng mới được hun đúc từ sự hoà hợp của những yếu tố tư tưởng cũ và mới, giải thích hiện tượng nhân sinh và thế giới quan về bản chất như thật của nó, phá vỡ tư tưởng Ngã và Ngã sở, nêu rõ con đường Trung đạo chấm dứt mọi phiền não khổ đau đưa đến sự an lạc giải thoát, và cuối cùng vượt hẳn lên mọi tri kiến lỗi thời để trở thành chân lý phổ quát bao trùm vạn vật.

2. BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH CON ĐƯỜNG BÁT CHÁNH

Chuyển hóa tâm linh là một quá trình nỗ lực tu tập liên tục theo thứ lớp bằng con đường Bát Chánh được biểu hiện qua tam vô lậu: giới, định, tuệ mà Ngài đã trải qua. Chỉ có con đường Bát Chánh mới có thể đưa con người diệt tận phiền não khổ đau, chấm dứt sanh tử luân hồi, đạt đến sự an lạc hạnh phúc, giải thoát giác ngộ. Và bằng phương pháp này, đức Phật đã chứng ngộ tâm linh thành tựu quả vị Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài đã khẳng định rõ ràng rằng: "Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành." Điều này Ngài muốn nói rằng: Sự giác ngộ mà Đức Phật đã chứng được tại linh cội Bồ-đề cũng chính là quả giác ngộ của chúng ta trong tương lai nếu như chúng ta tu theo thứ lớp và đúng theo con đường Bát Chánh. Ngay tại đây, Đức Phật đã khéo để lại cho chúng ta bài học kinh nghiệm rằng: Trước khi tu tập tâm linh, hành giả phải tu tập Tuệ học bằng sự nhận thức đúng đắn về con đường Bát Chánh đưa con người đến sự diệt khổ và đạt được thắng trí giác ngộ Niết-bàn (Chánh kiến), đồng thời phải quán triệt thấu đáo như thật về bản chất của Ngã và Ngã sở (Chánh tư duy). Khi thấu triệt đúng đắn như thế, hành giả tiếp tục tu tập Định học bằng cách chuyên tâm tinh tấn tu trì một cách nhiệt tâm (Chánh tinh tấn) qua phương pháp chánh niệm tỉnh giác trong tứ oai nghi và tam nghiệp (Chánh niệm) với trạng thái tâm an tịnh, kiên cố và không thối chuyển (Chánh định). Với tâm kiên cố và thuần thục, hành giả thực hành Giới học được biểu lộ qua lối sống đạo đức (Chánh mạng), lời nói ôn hoà nhã nhặn khiêm tốn (Chánh ngữ), và việc làm đúng đắn của chính mình (Chánh nghiệp). Có như thế, con đường Bát Chánh mà chúng ta đang tu tập hầu mong mới có ngày đạt đến:

"Buộc tâm lấy Giới làm dây,
Lắng tâm lấy Định dựng xây đạo tràng,
Rõ tâm đuốc Tuệ soi đường,
Tâm không cảnh tịch Niết-bàn an vui."

Mặt khác, đối với giáo lý của đức Phật, Ngài không bao giờ khuyên chúng ta phải tin theo một cách hồ đồ và mù quáng; mà trái lại, Ngài căn dặn khi nghe Pháp và thực hành Pháp điều trước tiên phải tuân theo 3 bước cơ bản: Văn (nghe rõ tường tận), Tư (suy nghĩ chính xác), Tu (thực hành đúng cách và nghiêm túc). Ngài nhấn mạnh rằng giáo pháp của Ngài không phải chỉ đến để mà tin, ngược lại "đến để nghe," để suy nghĩ và cuối cùng là để tu tập. Điều này có nghĩa là bất cứ con người nào trước khi tu tập, cần phải thẩm đạt và thấu triệt rõ ràng về con đường mình đang tu tập đưa đến giá trị lợi lạc cho tâm linh hay không? Đó là điều cơ bản và cần thiết cho người học Phật hiểu rõ. Ngay cả đức Phật, trước khi vào thiền định tu tập về con đường Bát Chánh, Ngài cũng phải hiểu rõ về giá trị lợi lạc của con đường ấy ra sao trong khi tu tập. Qua ý nghĩa này, cho tới ngày nay chúng ta vẫn còn nghe vang vọng đâu đây lời nhắc nhở của các bậc Tôn đức trưởng lão đối với thế hệ Tăng Ni trẻ ngày nay: "Phàm tác sự tu tư duy chi hậu quả," có nghĩa là: Phàm làm việc gì phải suy nghĩ kỹ lưỡng hậu quả của nó.

3. QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ TÂM LINH BẰNG SỰ KẾT HỢP THIỀN VÀ TUỆ THEO THỨ LỚP

Ngay khi tiếp nhận bát cơm sữa của nàng Sujata và từ bỏ lối sống tu tập ép xác khổ hạnh, đức Phật đã tìm ra được con đường Trung đạo đưa đến sự an tịnh thắng trí bằng sự kết hợp Thiền và Tuệ. Suốt 49 ngày đêm ngồi trầm tư dưới cội Bồ-đề, tư tưởng Ngài không hề nảy sinh một chút giải đãi và biếng lười nào, tâm Ngài luôn an trú trong chánh niệm tỉnh giác qua từng hơi thở ra vào, kiên quyết diệt trừ những ảo tưởng tham ái vô minh phiền não ở nội tâm qua từng sát-na, kết quả cuối cùng đưa đến cho Ngài với thân được khinh an, không dao động; tâm được định tĩnh và thuần nhất. Ngài bắt đầu tuần tự thể nhập vào trạng thái thiền định qua 4 giai đoạn, và chứng đắc Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.(18)Ngay tại đây, chúng ta thấy rằng tuy phương pháp hành thiền không phải là điểm cứu cánh tối hậu đưa đến sự giác ngộ, nó đóng một phần vai trò quan trọng cho hành giả bước đầu thực hiện quá trình tu tập thuần thục tâm. Do vậy, sau khi đức Phật đã điều phục tâm trở nên định tĩnh, không cấu uế, thoát ly mọi lậu hoặc, nhu nhuyến, dễ sử dụng, kiên cố, bất động; Ngài bắt đầu kết hợp với Tuệ giác của mình bằng cách hướng tâm hồi tưởng đến các tiền kiếp quá khứ và chứng được "túc mạng trí" trong canh đầu của đêm. Tiếp đó, Ngài hướng tâm đến "sanh tử trí," thấu rõ về luật nhân quả về nghiệp mà chúng sanh đã tạo đưa đến kết quả tương xứng, và chứng đắc "sanh tử trí" vào canh giữa đêm. Cuối cùng Ngài chứng đạt tri kiến thứ ba, đó là tri kiến về "khổ" và "lậu hoặc" qua Tứ Thánh Đế, Ngài chứng đắc "lậu tận trí" vào đêm canh cuối. Và một tri kiến khởi lên trong Ngài: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa."(19)

Qua sự kiện chứng ngộ của đức Phật kéo dài suốt 3 canh (đầu, giữa và cuối), ta thấy rằng đức Phật luôn theo một tiến trình tuần tự trong quá trình tu tập chuyển hoá tâm linh bằng sự kết hợp Thiền và Tuệ. Đối với Ngài, các học Pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Điều này rất phù hợp với lời dạy của Ngài đã khẳng định trong Tiểu Bộ Kinh:

"Ví như, này các Tỳ-kheo, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy này các Tỳ-kheo, trong Pháp và Luật này các học Pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí, thình lình."(20)

Mặt khác, tiến trình giác ngộ của đức Phật luôn dựa trên Chánh Trí Tuệ làm nền tảng soi sáng tâm linh. Do vậy trong khi tu tập, Ngài luôn luôn để tâm hướng về Túc Mạng Trí, Sanh Tử Trí và Lậu Tận Trí làm kim chỉ nam trên bước đường tu tập hướng đến quả vị giải thoát giác ngộ. Điều này chứng tỏ rằng sự giác ngộ của Ngài không phải là trạng thái nằm ngoài tự thân, hay một vấn đề gì gọi là "xuất thần" cả, đó chính là một trạng thái chơn an lạc hạnh phúc tối cao kéo dài trong nhiều giờ dưới sự hỗ trợ của Tối Thắng Tri Kiến cực kỳ minh mẫn:

"Người tâm ý an tịnh
Lời an, nghiệp cũng an,
Chánh trí, chơn giải thoát
Tịnh lạc là vị ấy"(21)

Ngay tại đây, có lẽ chúng ta đã thừa hiểu được rằng: Bằng phương pháp gì đức Phật tu tập trong suốt qua trình chuyển hóa tâm linh hướng đến giác ngộ giải thoát?

III. PHẦN NHẬN ĐỊNH

Quá trình tu tập chuyển hoá tâm linh của đức Phật đưa đến sự chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề là một bài học kinh nghiệm quý báu cho những ai muốn tầm cầu đạo giải thoát, an tịnh tâm linh. Chúng ta có thể nhận định như sau:

a – Sự giác ngộ của Ngài là một quá trình tu tập lâu dài, đòi hỏi hành giả phải luôn nỗ lực tu tập liên tục, tuần tực theo thứ lớp với tâm kiên cố, đạo niệm tinh chuyên theo con đường bát chánh, đặt trên nền tảng Giới Định Tuệ: "Dầu chỉ có da, gân hay xương còn lại, dầu thịt và máu có khô cạn trong thân, điều mà sự kiên trì của con người, sự tinh tấn của con người, sự nỗ lực có thể đạt được, nếu chưa đạt được thời tinh tấn không có chấm dứt."(22)Hay trong kinh Pháp Cú144 dạy rằng:

"Như ngựa hiền chạm roi,
Hãy nhiệt tâm, hăng hái,
Với tín, giới, tinh tấn,
Thiền định cùng trạch pháp,
Minh hạnh đủ, chánh niệm,
Đoạn khổ này vô lượng"(23)

Nói cách khác, nếu sự giác ngộ của đức Phật là một quá trình tu tập lâu dài, thì hành giả hướng đến con đường giải thoát do Phật chỉ dạy phải luôn nỗ lực tu tập liên tục tuần tự theo thứ lớp với tâm kiên cố, đạo niệm tinh chuyên theo con đường Bát Chánh đặt trên nền tảng Giới Định Tuệ.

b -Sự giác ngộ, giải thoát sẽ không đơm hoa k

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/01/201409:56(Xem: 4870)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào? Vv.v… Tiếng Pãli : bodhi. Dịch là Tri, Đạo, Giác, Trí. Nói theo nghĩa rộng Bồ Đề là Trí Tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết Bàn. Tức là Trí Giác Ngộ mà Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đã đạt được ở qủa vị của các Ngài. Trong các loại Bồ Đề nầy, Bồ Đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Vô thượng chánh biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng Bồ Đề. Sau khi thành Phật, Đức Thích Ca có giải rằng ngài có đủ ba thể Bồ Đề: 1- Ứng Hóa Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề hiện lại trong đời Ngài làm Thái Tử Tất Đạt Đa mà tu hành.
16/12/201318:38(Xem: 12523)
Viết xong cuộc đời ngài Tôi bần thần, dã dượi Sinh lực tổn hao Như thân cây không còn nhựa luyện Như sức ngựa đường dài Hoàn tất cuộc lữ trình lên đến đỉnh đồi cao Ôi! Tôi đã chạy đuổi chiêm bao Muốn vói bắt mảnh trăng trời nguyên thuỷ
08/12/201316:31(Xem: 3559)
Con người sở dĩ có một vị trí đặc biệt trong các chủng loại động vật, là nhờ có một nhận thức về tư duy và có một tâm thức về linh học. Từ khi con người hiện hữu trên tinh cầu, vấn đề nhận thức được hoàn thiện từ sơ cơ cho đến tinh tường là nhờ trao đổi thông tin, giao tiếp và xử lý nhiều vấn nạn.
26/10/201308:22(Xem: 28668)
Cuộc đời đức Phật là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều sử gia, triết gia, học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cổ, nhạc sĩ, họa sĩ, những nhà điêu khắc, nhà viết kịch, phim ảnh, sân khấu… Và hàng ngàn năm nay đã có vô số tác phẩm về cuộc đời đức Phật, hoặc mang tính lịch sử, khoa học hoặc phát xuất từ cảm hứng nghệ thuật, hoặc từ sự tôn kính thuần tín ngưỡng tôn giáo, đủ thể loại, nhiều tầm cỡ, đã có ảnh hưởng sâu xa trong tâm khảm biết bao độc giả, khán giả, khách hành hương chiêm bái và những người yêu thích thưởng ngoạn nghệ thuật.
17/06/201314:11(Xem: 5246)
Ý Nghĩa Phật Thành Đạo
18/05/201321:27(Xem: 2197)
Trong kinh điển Pāli không có dấu hiệu nào cho thấy Đức Phật đã từng biết đọc biết viết cả(26)của H.W. Schumann, là một luận điểm võ đoán, nếu không nói là chưa phản ánh đúng sự thật lịch sử. Gần mười năm trước, lần đầu tiên tiếp cận tác phẩm Đức Phật lịch sử(1)của H.W. Schumann qua bản dịch của cô Trần Phương Lan, cảm giác đầu tiên của chúng tôi là sự kính phục về độ uyên bác của tác phẩm cũng như sự dấn thân khoa học của bản thân tác giả. Lời giới thiệu tác phẩm của HT.Thích Thiện Châu trong bản dịch tiếng Việt cũng đồng quan điểm này, khi ngài cho rằng: H.W. Schumann đã dày công nghiên cứu và xây dựng hình ảnh của Đấng Giác Ngộ như một người sống thật trong khung cảnh thật của Ấn Độ cổ đại, với những nhận xét khách quan của một học giả nghiên cứu có hệ thống rõ ràng theo phương pháp khoa học. Cái nhìn của học giả H.W. Schumann về Đức Phật có vẻ khác lạ với quan niệm về Đức Phật của Phật tử Việt Nam, nhưng đó chính là điều bổ ích làm tăng giá trị của quyển sách trong sự đóng góp vào
10/04/201312:37(Xem: 3285)
Trong các buổi lễ tụng kinh cầu an, chư Tăng cũng như những người cận sự nam - nữ không thể thiếu bài kệ "Jayamangalagàthà - Bài kệ Hạnh phúc thù thắng". Bởi vì bài kệ này tán dương, ca tụng oai lực của Ðức Phật đã cảm thắng tám trường hợp xảy ra vô cùng khó khăn. Mỗi trường hợp Ðức Phật vận dụng mỗi pháp, không những để đối trị mà còn làm cho đối phương cảm phục phát sanh đức tin xin quy y nơi Tam bảo.
08/04/201316:28(Xem: 5526)
Cùng với thời gian vô cùng tận, không gian vô biên tế, cái đẹp cũng tồn tại với một ý nghĩa rất bao la mà con người khó có thể khám phá cho thật tường tận bằng tri thức của mình. Cuộc đời đức Phật là cả một lịch sử hùng tráng hướng đến tìm kiếm cái đẹp và xây dựng lý tưởng cái đẹp trong cuộc đời. Giáo lí được Ngài thiết lập là một hệ thống mỹ học thể nghiệm nội tại, có ý nghĩa vô cùng phong phú đối với đời sống nhân sinh.
08/04/201316:28(Xem: 3230)
Có một cuộc hành trình hùng tráng và vi diệu đã được thực hiện trong chính thế gian này mà lịch sử nhân loại đã đón chào và ghi nhận như một niềm tự hào về tư tưởng. Đây là một bản thiêng hùng ca hơn cả những sử thi huyền thoại vì mang giá trị thật hoàn toàn chứ không hề vẽ tô một chút sắc màu hư cấu. Đó chính là cuộc hành trình đi tìm nguồn sáng tâm linh của đức Phật.
08/04/201316:27(Xem: 3016)
Chẳng biết tự bao giờ, bài thơ ấy đã in sâu vào trong tâm khảm của tôi. Mỗi lần nhắc lại, tôi không sao tránh khỏi niềm cảm xúc trào dâng. Nửa thương cho người xưa, nửa buồn cho thân mình cũng nhiều nghiệp chướng, tại gia cha mẹ chia lìa, anh em phân tán, xuất gia quá đỗi muộn màng ! Vì sao ?