Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) (Đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀

03/08/202112:53(Xem: 1356)
Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) (Đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀


Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090)
(Đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông)
Thuyết giảng: TT Thích Nguyên Tạng
Bài trình pháp: Cư Sĩ Quảng Tịnh Tâm & Cư Sĩ Huệ Hương
Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh ; Lồng nhạc: Cư Sĩ Quảng Phước




Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ,


Bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được học về Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090). Ngài thuộc đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông.


Bài pháp thoại hôm nay là bài giảng thứ 267 của Sư Phụ bắt đầu từ mùa cách ly do bệnh đại dịch covid 19 (đầu tháng 5-2020).

Sư họ Mai tên Trực, quê ở Phước Đường, Long Đàm, là con người anh bà Linh Cảm thái hậu, vợ vua Lý Thái Tông.
Thuở nhỏ Sư rất thông minh và hiếu học, nghe ở chùa Mật Nghiêm trong bản quận có vị Trưởng lão Định Hương giỏi về tướng số liền đến nhờ xem. Trưởng lão xem xong bảo:
- ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là vị thiện Bồ Tát, không thì việc thọ yểu khó giữ. Sư Phụ có giải thích tướng yểu, trồng đen của mắt nằm trên trồng trắng là tướng yểu, vành tai mỏng, ngắn úp về phía trước là yểu.

Cảm ngộ lời đoán này, Sư từ giả cha mẹ đến ấp Tiêu Sơn thọ giáo với Trưởng Lão Định Hương. Ở đây phục dịch nhiều năm để thâm nghiêm thiền học. Sư thường trì kinh Viên Giác tình thông pháp tam quán, thiền chỉ, thiền quán, thiền na.


Sư Phụ giải thích:
-Thiền chỉ là dừng lại mọi vọng niệm, cột tâm mình vào hơi thở, không để tâm phân tán loạn. Người tu thiền chỉ đắc ngũ thần thông và 4 tầng thiền và khi mạng chung sanh về các cõi trời sắc giới để tiếp tục tu tập.
- Thiền quán là dùng trí tuệ để quán chiếu, nhìn mọi sự vật như chúng đang là để hành giả không rơi vào ngã chấp và pháp chấp, đoạn trừ vô minh phiền não đưa đến giải thoát không còn sanh tử luân hồi. Người tu theo thiền quán sẽ chứng đẳng tứ quả Thanh văn.

Một đêm, trong thiền định, Sư thấy Bồ Tát Văn Thù cầm dao mổ bụng Sư, rửa ruột và trao cho diệu được. Từ đây, những sở tập trong tâm rõ ràng khế hợp, sâu được ngôn ngữ tam muội là giảng kinh thuyết pháp thao thao, không cần suy nghĩ.

Về sau, Sư tìm đến phía tả kinh đô Thăng Long dựng một ngôi chùa để hiệu là Cát Tường và trụ trì nơi đó. Học giả bốn phương đến tham vấn rất đông.
Có vị tăng đến hỏi:
-Phật với Thánh nghĩa ấy thế nào?
Sư đáp:
- Trùng dương cúc nở dưới rào,
   Trên cành oanh hót thanh tao diệu dàng.

 

Sư Phụ giải thích:

Phật là Đạo Phật
Thánh là chỉ cho Đạo giáo (Nho giáo của Khổng Tử và Lão giáo của Lão Tử của Trung Hoa)


Nho Giáo:
còn gọi là đạo Khổng (Nhơn đạo) là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và muốn phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, trong đó con người biết ứng xử theo lẽ phải và đạo đức, giúp đất nước thái bình, thịnh vượng.

Lão Giáo: tu tiên, theo chủ thuyết “Vô vi” của Lão Tử . Vô Vi nghĩa là không làm, tức là không can thiệp vào môi trường tự nhiên, để con người sống theo tự nhiên và cùng với tự nhiên tiến hóa. Hành giả luyện khí công và Dịch-Cân kinh  để đạt đến trường sanh bất tử.

 

Đạo Phật có triết lý ngũ thừa giáo: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. 


1/Nhân thừa:
nhân là người, thừa là cổ xe, phương tiện. Phương tiện đưa hành giả đến chỗ rốt ráo địa vị con người là 5 giới: không sát sanh, không trôm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống rượu. Thực hành viên mãn sẽ giúp hành giả khỏi đọa xuống 3 đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà còn được tái sanh trở lại làm người giàu sang, phú quý và tiếp tục gặp được Chánh Pháp.


2/Thiên thừa:
muốn thác sanh về các cõi trời để hưởng phước báo thì phải thực hiện miên mật và đầy đủ 10 điệu thiện:

1) Không sát hại chúng sanh mà phải phóng sanh;

2) Không tà hạnh mà phải tu phạm hạnh 

3) Không trộm cướp, mà phải bố thí;

4) Không nói dối, mà phải nói lời thành thật;

5) Không nói lời thêu dệt, mà phải nói lời đúng đắn;

6) Không nói lời hai lưỡi, mà phải nói lời hòa nhã;

7) Không nói lời hung ác, mà phải nói lời dịu dàng;

8) Không tham dục, mà phải quán bất tịnh;

9) Không giận dữ, mà phải quán từ bi;

10) Không si mê, mà phải quán nhân duyên.

 

3/Thanh Văn thừa:

Hành giả tu theo Đạo Phật đã viên mãn Nhân thừa và Thiên thừa là hai lối tu tương đối dễ dàng để giúp hành giả không đọa xuống 3 đường ác mà còn tái sanh về cõi người, cõi trời; nhưng nếu hành giả muốn tiến xa hơn, là chứng đắc tứ quả Thanh văn: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm & A La Hán, để ra khỏi vòng sanh tử luân hồi thì phải tu pháp Tứ Thánh Để: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Pháp tu này chú trọng thực thi 37 phẩm trợ đạo, trong đó “Bát chánh đạo” là quan trọng nhất: 

1/Chánh tri kiến: hiểu biết chân chánh

2/Chánh tư duy: suy nghĩ chân chánh.

3/Chánh ngữ : lời nói ôn hòa chân chánh

4/Chánh nghiệp: hành động chân chánh.

5/Chánh mạng: đời sống chân chánh.

6/Chánh tin tấn: siêng năng tu hành chân chánh.

7/Chánh niệm: nhớ tưởng chân chánh

8/Chánh định: thiền tập chỉ, quán để trí huệ phát sanh

 

4/Duyên Giác thừa:

Hành giả chứng 4 quả Thanh Văn rồi muốn đi xa hơn, chứng quả Bích Chi Phật (hay Độc Giác Phật), quả  vị Phật do tự mình chứng ngộ, nhưng chưa đạt được các năng lực như Nhất thiết trí hay Mười lực của một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, hành giả phải tu pháp quán 12 nhân duyên:

1. Vô minh: mê lầm, không hiểu rõ được bản chất của sự vật và tâm mình, không nhận ra nguyên nhân của khổ đau và con đường đi đến sự diệt khổ (tứ điệu đế)

2. Hành: tạo tác, gây tạo ra những việc bất thiện, sai lầm, tạo nghiệp.

3. Thức: vọng thức phân biệt, chấp trước có năng và sở, nội tâm và ngoại cảnh riêng biệt. Do sự chấp trước này nên sanh lòng bảo thủ cái ta, tìm cầu một thân mạng, để phát triển cái ta ấy.

4. Danh sắc: Danh là chỉ cho phương diện tinh thần, Sắc là chỉ cho phương diện vật chất. Danh sắc tức là chỉ tổng báo, thân của loài hữu tình, khi còn ở trong thai tạng.

5. Lục nhập : Lục nhập tức là sáu giác quan (mắt, tai, mũi, thân, ý) của cái thai, dần dần được thành hình và phát triển, để sửa soạn tiếp xúc với ngoại cảnh, khi ra đời.

6. Xúc : Là xúc chạm, tiếp xúc với ngoại cảnh. Đây là nói khi cái thai thoát khỏi bào thai và tiếp xúc với ngoại cảnh. Trong giai đoạn này, các giác quan của hài nhi còn thô thiển, chưa bén nhậy, tinh vi, nên chỉ có “tiếp xúc” mà thôi.

7. Thọ : Là nhận lãnh. Đây là giai đoạn khi đứa bé đã bắt đầu có lý trí, biết phân biệt vui và khổ, thấy vui trước những cảnh vừa lòng, buồn trước những cảnh trái ý.

8. Ái : Là tham ái. Khi đã biết vui buồn, thương ghét, thì tất nhiên sẽ sanh lòng tham ái, đắm trước đối với những gì tốt đẹp, thích thú, và ruồng bỏ những gì xấu xa, nhàm chán.

9. Thủ : Là nắm giữ lấy. Khi đã ưa thích những gì tốt đẹp, quý báu thì sẽ sanh lòng giữ gìn những thứ ấy. Cái mà chúng sanh quý nhất là thân mạng.

10. Hữu : Là có. Ở đây muốn nói do lòng tham ái, và ý muốn giữ gìn (thủ) mà tạo ra thân hậu hữu, tiếp nối cuộc đời sau.

11. Sanh : Là sanh mạng, là khởi đầu một cuộc sống khác.

12. Lão tử : Là già và chết. Khi đã có sống, tất phải có già và chết.

 

4/Bồ Tát thừa:

Hành giả muốn đi xa hơn, phát nguyện cứu độ chúng sanh trong Bồ Tát Đạo và Thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, quả vị cao nhất, phải áp dụng pháp tu Lục Độ Vạn Hạnh:

1/ Bố thí
2/Trì giới
3/Nhẫn nhục
4/Tinh tấn
5/Thiền Định
6/Trí tuệ


Trong 2 câu thơ trên TS Viên Chiêu trả lời là Đạo Phật và Đạo giáo (Lão giáo & Khổng giáo) là giống nhau qua hình ảnh  đẹp hài hòa của ngày Tết Trùng Cửu (9/9/âm lịch) mọi người thưởng ngoạn ngắm hoa cúc nở rộ dưới đất và nghe chim hoàng oanh hót líu lo trên cành. Thiền Sư không muốn xung đột giữa Đạo Phật và Đạo Giáo, nhưng thực tế thì khác xa, trong thời nhà Lý, chủ trương của triều đình và PG muốn dung hoà tam giáo, Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo nên ngài Viên Chiếu phương tiện trả lời như vậy. Chỗ đạt đến rốt ráo của Đạo Giáo chỉ ở trong vòng Nhân Đạo hay Nhân Thừa của PG, tức là con đường đưa con người đến chỗ viên mãn mà thôi. Sư Phụ có nhắc Trung cộng lập các viện Khổng tử trá hình trong các trường đại học khắp nơi trên thế giới để ăn cắp trí tuệ nhưng hiện nay đã bị các quốc gia phương Tây phát hiện và đã lần lược đóng cửa.


Tăng thưa:
-Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội. Xin lại nêu bài ra?
Sư đáp:
- Ngày thì vầng Nhật chiếu,
  Đêm đến ánh trăng soi.
Tăng hỏi:
- Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào?
Sư đáp:
- Bưng thau nước đầy không chú ý,
  Một lúc sẩy chân hối ích gì.

Sư Phụ giải thích:
Sự huyền cơ của Đạo Phật là chỉ cho sự nhiệm mầu của Phật pháp, đó chính là Chánh niệm tỉnh giác. Quá đơn giản, không ai ngờ đến. Con rất thích ý nghĩa đơn giản này khi nghe Sư phụ giải thích, con cứ nghĩa mầu nhiệm là cái gì đó phép lạ, thần thông.


Sư phụ có dẫn câu chuyện trong kinh Tạp A Hàm, Đức Phật có kể một câu chuyện: Một tên tử tội đã bị tuyên án xử chém. Nhưng nhà vua đổi cách xuống lệnh cho tên tử tội bưng một tô đầy dầu đi quanh thành có nhiều người ca hát, uống rượu, vui đùa ồn ào suốt trên đường đi, rồi trở về chỗ xuất phát, nếu dầu tràn ra ngoài tô một giọt thì bị tên đao phủ đi phía sau chém đầu ngay lập tức.
Tên tử tội sau khi bưng tô đầy dầu đi quanh thành không dám nhìn hai bên, cẩn thận chú tâm vào tô dầu, rồi trở về không bị đổ một giọt và được giải thoát.


Tô dầu biểu trưng một pháp tu.
Tên đao phủ đi phía sau là vô thường biến diêt

Tên tử tội là biểu trưng tất cả chúng sanh trong cõi giới ta bà, tất cả đều bị vô thường “chém đầu” trong một ngày nào đó nên phải cố gắng chánh niệm tỉnh giác chú tâm vào pháp tu mà mình đã chọn để tự giải thoát trong ngày cuối cùng của đời mình.
Con cảm ơn Sư phụ, con rất thích câu chuyện này.


Vị tăng hỏi:
- Tất cả chúng sanh từ đâu mà đến? Sau khi chết đi về đâu?
Sư đáp:
-Rùa mù dùi vách đá.
  Trạch què trèo núi cao.


Sư Phụ giải thích, Sư nói lên sự vô minh của chúng sanh, muốn biết từ đâu đến và chết đi về đâu thì phải tu cũng như người bị thương mà không lo chửa, mà lo hỏi lý tại sao tôi bị thương, giống như con rùa mù dùi vách đá, con cá què mà muốn trèo lên  núi cao.


Vị Tăng hỏi:
- Tâm và pháp cả hai đều quên, tánh tức chân, thế nào là chân?

Sư đáp:
- Hoa núi mưa sa, thần nữ khóc.
  Tre sân gió thổi, Bá Nha đờn.

Sư Phụ giải thích:
"Hoa núi mưa sa, thần nữ khóc" (lời của Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) (Đời thứ 7, dòng Vô Ngôn Thông) quá hay, ngài mô tả sự vọng tưởng điên đảo của con người khi nhìn thấy giọt mưa rơi trên cánh hoa, nghĩ đó là giọt lệ đau thương của nữ thần, để cảnh báo cho loài người cứ tự rước khổ về cho mình vì không chịu nhìn "người như họ đang là" mà cứ chủ quan biên kiến " họ như mình đang là". Mọi hệ lụy khổ đau trên đời sẽ biến mất nếu mỗi người chúng ta chịu điều chỉnh lại cái nhìn của mình.


 "Tre sân gió thổi, Bá Nha đờn" có nghĩa là khóm tre trước sân, gió thổi làm phát ra âm thanh giống như tiếng đàn của Bá Nha.
Bá Nha và Tử Kỳ là bạn tâm giao thời Xuân Thu Chiến Quốc vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch bên Trung Hoa, trên đời này chỉ có Tử Kỳ mới hiểu được tiếng đàn của Bá Nha. Khi Tử Kỳ qua đời, Bá Nha cũng đập bỏ cây đàn.

Sư Phụ giải thích, người đệ tử Phật phải có cái nhìn “pháp nhĩ như thị” nhìn sự vật như chúng đang là, nhìn con người như họ đang là chứ không phải như kiễu nhìn thấy giọt sương là nước mắt của thần nữ, nghe tiếng gió thổi cành tre mà cho đó là tiếng đàn của Bá Nha. Tưởng tri là ngã chấp, tự làm khổ đau cho mình, phải nhìn hiện tượng như nó đang là, tức là nhìn bằng chơn tâm.


giot le nu than
"Hoa núi mưa sa, thần nữ khóc"
(hình ảnh "giọt nước mắt của nữ thần" được ghi nhận tại hồ sen Tu Viện Quảng Đức, sáng nay, thứ bảy, 7/8/2021)



Sư có soạn “Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn “, vua Lý Nhân Tông đưa bản thảo cho sứ thần Trung Hoa dâng vua Triết Tông nhà Tống. Vua Triết Tông trao cho các vị Cao toạ ở chùa Trùng Quốc xem. Xem xong, các ngài tâu vua Tống rằng:
- Đây là nhục thân Bồ Tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, chúng tôi không dám thêm bớt chữ nào.
Vua Tống liền sắc sao lại một bản, bản chánh trả lại cho vua ta. Sứ thần về kinh tâu lại, triều đình càng kính nể vàm khen tưởng Sư.

Thánh chín năm Quảng Hựu thứ sáu (1090) đời Lý Nhân Tông, Sư không bệnh gọi môn đồ vào dạy:
- Trong thân ta đây, xương lóng gân mạch, bốn đại hoà hợp, ắt phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái, xà ngang đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi, hãy nghe ta nói kệ:

Thân như tường vách đã lung lay
Đau đáu người đời luống xót thay
Nếu đạt tâm không, không tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện, mặc vần xoay.

Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, thọ 92 tuổi, 56 tuổi hạ.

Tác phẩm của Sư gồm có:
- Tán Viên Giác kinh
- Thập nhị Bồ Tát Hạnh Tu Chứng Đạo Tràng.
- Tham Đồ Hiền Quyết một quyền.
- Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn.

Cuối bài giảng, Sư Phụ diễn ngâm bài thơ tán thán công hạnh của Thiển Sư Viên Chiếu do Thầy Chúc Hiền cúng dường:

Thông minh hiếu học tánh ngoan hiền
Kính lễ Định Hương học đạo huyền
Viên Giác kinh trì thông pháp quán
Văn Thù mộng ứng mở cơ duyên
Ngữ ngôn tam muội thâm sâu ngộ
Giáo pháp tổng trì lưu loát truyền
Ứng đối thiền thi siêu tuyệt xuất
Cát Tường Thạch Trụ tỏa nguồn thiêng…!
  
Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về Thiền Sư Viên Chiếu. Ngài là vị thiền sư đặc biệt, tin theo lời tướng số của Trưởng Lão Định Hương mà xuất gia, thăm nghiên cứu thiền học, trì kinh Viên Giác, tinh thông tam quán và rất huyền thoại là trong lúc thiền định, Sư được Bồ Tát Văn Thù mổ bụng, rửa ruột trao cho diệu dược, từ đó Sư nói pháp vô ngại và tác phẩm “Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn “ được xem như là do nhục thân của Bồ Tát soạn giải.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Cung kính và tri ơn Sư Phụ,
Đệ tử Quảng Tịnh Tâm
(Montréal, Canada).     

 


267_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Vien Chieu

Thiền sư Viên Chiếu (909-1090)

đời thứ 7 dòng Vô Ngôn Thông 

Kính dâng Thầy bài trình pháp với những chi tiết mà con đã lĩnh hội qua bài pháp thoại tuyệt vời kéo dài gần hai giờ về Thiền Sư Viên Chiếu nhưng không thể ghi trọn lại sự uyên bác của Thầy về điển tích Bá Nha Tử kỳ và những ví dụ về Tử tù trong kinh Tạp A Hàm vì bài trình pháp không cho phép . Kính đa tạ và tri ân Thầy đã giúp con tìm lại căn cơ mình sau khi nghiên cứu Tham Đồ Hiển Quyết và lịch sử triều đại Lý ( qua ba đời vua quá lỗi lạc anh minh Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông) Kính đảnh lễ Thầy và kính chúc Thầy pháp thể khinh an , HH


Thiền sư Viên Chiếu (909-1090) đời thứ 7 dòng Vô Ngôn Thông  là một tăng sĩ uyên bác kinh điển Phật Giáo, Nho giáo, từng nghiên cứu Thiền học. Nhờ thường trì bộ kinh đốn giáo đại thừa ( kinh Viên Giác bên đã linh hội  được phép Tam quán, sâu rõ ngôn ngữ tam muội, thuyết giảng lưu loát"



Trong số các Thiền sư nổi tiếng của Thiền phái Vô Ngôn Thông ở Việt Nam, Thiền sư Viên Chiếu (998-1090) có thể được xem như nhân vật tài hoa bậc nhất. Tất cả những tác phẩm Sư để lại như kết tinh hết những kỳ hoa dị thảo về khoe sắc giữa vườn văn học Thiền Việt Nam.


Văn tài kỳ vĩ, xuất khẩu thành thơ 

Bao nhiêu điển tích cổ Trung Hoa đều nằm sẵn trong lòng , vừa động đến liền xuất khẩu thành thơ văn , nhiều người thời nay khó hiểu 

Lý Thiền Tông sáng ngời như hòn Ngọc báu chôn sâu trong lùm ngôn ngữ kỳ bí , người thiết tha tu học không biết manh mối chỗ nào mà tìm 

Lời đối đáp trong tham đồ hiểu quyết rất linh động và chính xác với giáo điều cơ nguyên 

( trích trong lời bình giảng về THAM ĐỒ HIỂN QUYẾT - HT Thích Thanh Từ ) 


Đọc Tham Đồ Hiển Quyết của Viên Chiếu Thiền Sư, cũng như đọc những ngữ lục. 

“Tham đồ hiển quyết” của thiền sư Viên Chiếu là một tác phẩm văn học thiền, hàm tàng nhiều ẩn ngữ khó giải mã nhất trong số thiền ngữ, thiền thoại của nước ta.”(Minh Đức Triều Tâm Ảnh –  “Đọc yếu chỉ của thiền sư Viên Chiếu”)

“Tư tưởng thiền của Viên Chiếu, qua phương pháp, lập ngôn, khẩu khí… có cái gì đó rất riêng, rất sáng tạo; không hề bắt chước, lập lại, nói theo các ngữ lục của chư tổ thiền tông Trung Quốc. Ông đã sử dụng một hình thức thi ca bác học; câu cú, đối luật nghiêm túc, nghệ thuật tu từ lão luyện; và nhất là nghệ thuật hình tượng đa dạng, phong phú, tạo ấn tượng mạnh mẽ, chắt lọc cảm xúc, va động vào chiều sâu tâm linh của thiền giả (Minh Đức Triều Tâm Ảnh – “Đọc yếu chỉ của thiền sư Viên Chiếu”).

Kính ngưỡng Giảng Sư...tuyệt diệu nhạo tài uyên bác, 

.....trong pháp thoại, một văn tài kỳ vĩ một danh tăng 

Thiền Sư Viên Chiếu, đời 7 dòng phái Vô Ngôn Thông

Danh gia vọng tộc, nối pháp Trưởng Lão Đinh Hương(1) 

Tinh hoa hội nhập Tam Quán từ kinh Viên Giác (2) -(3) 



Ngôn ngữ tam muội sâu rõ, thuyết giảng lưu loát

Trong thiền định, Văn Thù mổ bụng...Dẹp sạch hết vô minh ! (4) 

Vấn đáp thiền sinh  chọn lọc ấn tượng thiên nhiên 

Cảm hứng thi ca  bày rõ bí quyết người tham vấn (5) 



Mượn điển tích ẩn dụ hiển hiện siêu việt tuệ mẫn 

Tham đồ hiển quyết ...minh chứng hùng hồn (6) 

Tác phẩm duy nhất còn sót lại ...liên quan đến Thiền Tông (7) 

Tiếc thay thất lạc  " Dược Sư Thập Nhị Nguyện văn "kiệt tác (8) 



Bài kệ thị tịch ....khuôn vàng thước ngọc tâm linh giải thoát (9) ! 

Nam Mô Viên Chiếu Thiền Sư tác đại chứng minh 




Huệ Hương 

Melbourne 3/8/2021 



(1) “Thiền Sư Viên Chiếu sinh năm 999 tịch năm 1090, đời thứ 7 dòng Vô Ngôn Thông. 

Sư họ Mai tên Trực, quê ở Phước Đường, Long Đàm, là con người anh bà Linh Thái hậu vợ vua Lý Thái Tông” Long Đàm là tên huyện, nay tuộc huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Cha Ngài là anh của bà Linh Cảm Thái hậu, tức là anh vợ vua Lý Thái Tông.

“Thuở nhỏ Sư rất thông minh và hiếu học, nghe ở chùa Mật Nghiêm trong bổn quận có vị trưởng lão giỏi về tướng số liền đến nhờ xem. Trưởng lão xem xong, bảo :

Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là vị thiện Bồ Tát, bằng không thì việc thọ yểu khó giữ”...

Viên Chiếu cảm ngộ, bèn tạ từ cha mẹ, rồi đi đến núi Ba Tiêu học đạo với thiền sư Định Hương

(2) 

Ông dành nhiều năm hầu hạ thầy và nghiên cứu Thiền học.Ông thường trì kinh Viên Giác và lĩnh hội được phép Tam quán

Đây là cốt tủy của kinh Viên Giác TRI HUYỄN TỨC LY, LY HUYỄN TỨC GIÁC 

Nội dung Kinh Viên Giác, theo cách chia khoa đoạn thông thường, đượ chia làm 3 đoạn” Tự phận, Chính tông và Lưu thông. Phần Chính tông chia làm 11 chương: từ chương Văn Thù đến chương Viên Giác. Sau cùng chương Hiền Thiện Thủ thuộc phần Lưu thông.

Chính Tông:

- Chương 1-Văn Thù

- Chương 2- Phổ Hiền

- Chương 3- Phổ Nhãn

- Chương 4-Kim Cương Tạng

- Chương 5-Di Lặc

- Chương 6-Thanh Tịnh Tuệ

- Chương 7-Oai Đức Tự Tại

- Chương 8- Biện Âm

- Chương 9-Tịnh Chu Nghiệp Chướng

- Chương 10-Phổ Giác

- Chương11-  Viên Giác

Lưu thông: 

- Chương12-  Hiền Thiện Thủ

Các chương, từ chương Văn Thù trở xuống đều lấy tên của người đối cơ mà đặt tên. Chương Văn Thù thứ nất, nói về nhân hạnh căn bản quả tướng của Như Lai. Nhân hạnh, nhân của Như Lai là bản thể của Như Lai là bản thể của Viên Giác sẵn có. Quả tướng là nói về phần khai hiển của Viên Giác sẵn có đó. Phật không phải là sự việc mới thành, mà chỉ là sự hoàn nguyên ở Viên Giác sẵn có. Đó là biểu thị về lý “thủy bản bất nhị”, đó cũng là then chốt yếu ước của phẩm này.

Ở chương Phổ Hiền, từ nơi Viên Giác sẵn có, không nói sự tu hành thành Phật nhưng vì kẻ ngộ giải “bản lai Phật” lại nói Phật từ nơi tu hành mà thành tựu được Vì kẻ ngộ giải ấy mà nói nguyên lý chân tu hành mới thành tựu được Phật quả.

Chương Phổ Nhãn căn cứ ở nguyên lý chân tu hành trước mà chỉ bày về phương pháp thực tu. Pháp thực tu này nói tu từ Sa ma tha, quán về lý huyễn tướng của thân tâm, nên biết được hết thảy đều là huyễn, thì bản tính của Viên Giác xuất hiện.

Chương Kim Cương Tạng, Phật trả lời câu hỏi của Kim Cương Tạng, vô minh có tái khởi hay không? Phật trả lời, hết thảy chư pháp đều biến hóa luân hồi, đi lại không trụ, đó gọi là luân hồi. Nếu đem con mắt của luân hồi mà thấy thì Viên Giác cũng luân hồi theo, nếu chủ quan xa lìa được luân hồi thì thể của Viên Giác thường trụ bất diệt. Trong nơi bản giác của thường trụ bất biến, thì không có sự kiện vô minh tái khởi, cũng như vàng từ quặng mà nấu thành, vàng không thể trở lại thành quặng.

Chương Di Lặc nói về căn bản của luân hồi là tham ái, nên hành giả tu hành trước tiên phải đoạn trừ tham ái.

Chương Thanh Tịnh Tuệ, nếu chứng được Viên Giác thì không có mê ngộ ở tính của Bồ Đề. Vì có mê ở nơi không mê ngộ nên lập ra giai vị tu chứng, mở ra con đường tu hành, tức là tùy thuận giác tính; người đã vào ngôi địa tùy thuận giác tính, và Như Lai tùy thuận giác tính. Phàm phu là ngô tín, chưa vào ngôi địa là Địa Tiền, đã vào ngôi địa là Địa Thượng, tới ngôi cực địa sau cùng là Diệu Giác, tức là Phật 

Chương Oai Đức Tự Tại nói về căn tính của chúng sinh có 3 thứ, theo 3 thứ quán môn ở trước, lại chia nhỏ thành 25 thứ “thanh tịnh định luân” để phối hợp với 3 thứ quán môn, chỉ dẫn cho việc thích nghi tu hành.

Chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng chỉ rõ căn bản phiền não, nó làm mờ lý bản lai Viên Giác. Đó là 4 thứ điên đảo: “ngã”, “nhân”, “chúng sinh”, “thọ mệnh”, vọng chấp nơi tồn tại của chúng. Do 4 thứ căn bản phiền não ấy mà mê tưởng là thực ngã.

Ở chương Phổ Giác, chỉ dẫn phải tỏ rõ về đạo, chọn thầy để tu, tìm bậc chính kiến thiện tri thức, phải dụng tâm, đừng lừa dối thân giáo. Vì tính Viên Giác không ở nơi phát minh của nhân lực mà lại nương ở thứ thứ tu hành để cần cầu Viên Giác, thì đó gọi là “tác bệnh”. Lại chân lý, gọi là không đọa sinh tử, không cầu Niết bàn, cũng không cần tu hành, tự nhiên phóng nhậm, đó gọi là “nhậm bệnh”. Hoặc lại ngăn chặn hết thẩy mối nghĩ, trở về không tịch, bảo đó là Niết bàn, gọi là “chỉ bệnh”. Nói thân tâm không tịch gọi là Viên Giác, chấp trước ở một tướng không tịch, đó gọi là “diệt bệnh”. Nếu muốn không bị giam hãm ở 4 thứ bệnh Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt này thì phải giữ luật nghi. Đó là căn yếu của chương này.

Cuối cùng, chương Viên Giác, chỉ bày phương pháp an cư của người tu hành, gồm có 3 thứ: trường kỳ, trung kỳ, đoản kỳ. Trường kỳ và đoản kỳ để lần lượt tiến tu 3 thứ quán. Môn tu trong đạo tràng an cư này, đó là Sa ma tha, Tam ma bát đề và Thiền na

Chương Hiền Thiện Thủ là chương thuộc phần lưu thông, thuyết minh về công đức phụng trì, tu tập và bảo hộ kinh này.

(3)HT Thích Thanh Từ giải thích 

gài trì pháp Tam quán cuả Kinh Viên Giác đến thông suốt. 

Điều này cho chúng ta thấy Ngài vừa tu thiền vừa trì kinh, chớ không phải chỉ chuyên về thiền. Tam quán của Kinh Viên Giác : Xa ma tha, Tam ma bát đề, Thiền na, dịch như thế thì đơn giản và dễ hiểu.

Kinh Viên Giác giải Xa ma tha là dừng lặng, người muốn cầu tánh Viên Giác nơi mình thì dùng tâm tỉnh giác quán chiếu, lấy lặng lẽ làm hạnh, đối cảnh nhiểm tịnh tâm không duyên theo là thể chân chỉ. Nhớ là thể chân chỉ, chớ không phải là kềm chế một chổ. Thể chân chỉ là dừng ở bản thể chân tâm. Như vậy ở đây khác với chỉ thông thường, chỉ thông thường là chú tâm vào một cảnh cho tâm an định. Còn chỉ ở đây là đối cảnh nhiểm tịnh không theo, tức là dừng ngay bản thể chơn tâm nơi mình, không phải dừng ở cảnh bên ngoài. Quý vị phải hiểu chổ này cho rõ, kẻo lầm với pháp tu chỉ khác. Pháp tu chí này tương đương với Không quán cuả tông Thiên Thai. Tông Thiên Thai cũng chia Tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán.

Tam ma bát đề ở đây dịch là đẳng chí, nghĩa là đến một cách bình đẳng, xa lià hôn trầm trạo cử gọi là đẳng. Người tu thiền đa số đều mắc bệnh hôn trầm và trạo cử, lià được hai bệnh này thì tâm bình đẳng an hòa, không còn bị trạo cử làm rối, không bị hôn trầm làm mê, bình đẳng ở chổ đó. Nói cách khác là trung hòa giữa trạo cử và hôn trầm, đến chổ an hòa gọi là đẳng gọi là chí. Người muốn cầu Viên Giác nơi mình, dùng tâm tỉnh giác biết rõ tâm thức và căn trần đều do nhân huyễn hóa mà có, liền khởi quán huyễn để trừ các huyễn. Nghĩa là thấy các pháp đều là huyễn hóa, do mê lầm nên chấp nó là thật. Bây giờ phải quán huyễn để trừ mê lầm, dứt cái chấp huyễ là thật, gọi là trừ huyễn. Đây là phương tiện tùy duyên quán, tức là tùy duyên trải qua các cảnh mà tâm an không động. Nói cách khác là thấy tất cả pháp như huyễn, hay thấy căn, trần và tâm thức đều là tướng huyễn hóa, nên tâm an không động. Tâm thức thuộc về thọ, tưởng, hành, thức, hay thuộc về ý, do các duyên sanh ra, không phải là thể tánh của tâm. Chổ này tôi thường nhắc tăng ni ‘tu biết vọng ‘ xả bỏ vọng niệm, lâu ngày thấy hơi đau đầu thì nên khởi quán thân này và ngoại cảnh đều là tướng huyễn hóa, để khỏi quay lại quán nội tâm. Nhờ thấy thân tứ đại và ngoại cảnh bên ngoài, do duyên hợp huyễn hóa không thật nên mắt thấy cảnh tâm không xao động không dính mắc. Quán bên ngoài thì không kềm chế bên trong do đó không bị đau đầu. Tu như thế gọi là ‘hay tùy duyên trải qua các cảnh mà tâm an không động ‘. Tuy vẫn thấy cảnh này cảnh nọ khác nhau, song tất cả tướng khác ấy đều là huyễn hóa không thật nên tâm không dính mắc không động. Đó cũng là một phương tiện an tâm. Thế nên nói pháp quán này tương đương với Giả quán của tông Thiên Thai. Về sau Ngài dịch qúa đơn giản, Tam ma bát đề dịch là quán, không dịch là đẳng chí.

Thiền na dịch là tịnh lự, tịnh là định, là tâm không dấy niệm xao động, lự là tuệ, là quán chiếu soi sét các pháp thấy đúng như thật. Người muốn cầu Viên Giác dùng tâm tịnh giác thấy các pháp thường yên lặng, không khởi quán càc pháp huyễn hóa. Khéo tùy thuận cảnh giới lặng lẽ, tức là đối cảnh mà tâm vẫn lặng lẽ. Thay vì đối cảnh phải quán huyễn hóa, nhưng không quán mà tùy thuận các cảnh tâm vẫn lặng lẽ, gọi là nhị biên chỉ. Nhị biên là hai bên, bên chỉ và bên quán đều lặng lẽ, tức là không phân biệt sanh tử và Niết bàn. Thường thì chúng ta hoặc đắm mê sanh tử hoặc ưa thích Niết bàn, nhưng tu tới đây thì không còn thấy sanh tử và Niết bàn là hai tướng đối đãi nữa. Tất cả tướng đối đãi : có không, phải quấy, tốt xấu... là kiến chấp hai bên đều hết sạch, Chỉ và Quán ở trước không còn. Đó là Thiền na, tương đương với Trung quán của tông Thiên Thai.

Ba pháp Chỉ, Quán và Thiền na là ba pháp tu cương yếu của kinh Viên Giác, thiền sư Viên Chiếu nghiên cứu lâu ngày được thâm nhập. Ngài tu thiền mà thâm nhập ba pháp quán của kinh Viên Giác, như vậy là Ngài vừa thông giáo vừa đạt lý thiền.

(4) ‘ Một đêm trong thiền định, Sư thấy Bồ Tát Văn Thù cầm dao mổ bụng Sư, rửa ruột cho và trao diệu dược. Từ đây những sở tập trong tâm rõ ràng khế hợp, sâu được ngôn ngữ tam muội, giảng kinh thuyết pháp thao thao ‘. 

Và HT cũng giải thích rằng :

 Chổ này hơi khó hiểu nhưng có thật. Tại sao khó hiểu ? Trong thiền định lẽ ra không được mê, mà Ngài thấy Bồ tát Văn Thừ cầm dao mổ bụng, rửa ruột rồi cho thuốc hay. Vậy lúc đó Ngài tỉnh hay mê? Nếu tỉnh thì không có mộng, mà mộng thì không tỉnh. 

Thật ra việc này hơi huyền bí, nhưng thường xảy ra ở các thiền sư. Tức là trong khi định dường như mê, song đây  là việc mầu nhiệm trong đạo, khó mà giải thích. 

Bồ tát Văn Thù là căn bản trí là trí gốc. Có sẵn nơi mỗi người, cầm dao mổ bụng rửa ruột là dẹp sạch hết vô minh phiền não, trao cho diệu dược là phát ra diệu dụng. Từ đó Ngài sạch hết vô minh phiền não, cho nên từ khi mộng về sau, những sở tập nơi tâm Ngài được khế hợp. Ngài không đắn đo, cần thì phát ngôn không nghĩ được ngôn ngữ tam muội giảng kinh thuyết pháp thao thao. 

Ngôn ngữ tam muội là nói năng trong chánh định. Nói năng là động làm sao định được ? Sở dĩ ở đây nói ngôn ngữ tam muội là vì người nhập được thể Viên Giác rồi, lúc nói không suy nghĩ, không đắn đo, cần thì phát ngôn không nghĩ ngợi, nên nói ngôn ngữ tam muội. Người thường người thường muốn nói phải suy nghĩ lựa lời rồi mới nói, nói như thế chưa phải là ngôn ngữ tam muội. còn Ngài thì giảng nói thao thao, không lắp bắp ngần ngại nên gọi là ngôn ngữ tam muội. 

(5) 

Về sau, ông tìm đến phía tả kinh đô Thăng Long dựng một ngôi chùa để hiệu là Cát Tường và trụ trì ở đó. Đệ tử từ khắp nơi đổ về theo học rất đông.[1]

Sách Thiền uyển tập anh có kể lại 1 đoạn đối thoại về Thiền giữa Viên Chiếu với đệ tử

Có vị tăng hỏi: "Phật với Thánh nghĩa ấy thế nào?"

Sư đáp:

Ly hạ trùng dương cúc,

Chi đầu thục khí oanh.

Dịch thơ:

Trùng dương cúc nở dưới rào

Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.

Tăng thưa: "Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại nêu bày ra?"

Sư đáp:

Trú tắc kim ô chiếu

Dạ lai ngọc thố minh.

Dịch thơ:

Ngày thì vầng nhật chiếu

Đêm đến ánh trăng soi.

Tăng hỏi: "Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào?"

Sư đáp:

Bất thận thủy bàn kình mãn khứ

Nhất tao tha điệt hối hà chi.

Dịch thơ:

Bưng thau nước đầy không chú ý

Một lúc sẩy chân hối ích gì.

Tăng hỏi: "Tất cả chúng sanh từ đâu mà đến? Sau khi chết đi về đâu?"

Sư đáp:

Manh qui xuyên thạch bích

Ba miết thướng cao sơn.

Dịch thơ:

Rùa mù dùi vách đá

Trạnh què trèo núi cao

Tăng hỏi: "Tâm và pháp cả hai đều quên, tánh tức chân; thế nào là chân?"

Sư đáp:

Vũ trích nham hoa thần nữ lệ

Phong xao đình trúc Bá Nha cầm.

Dịch thơ:

Hoa núi mưa sa, thần nữ khóc

Tre sân gió thổi, Bá Nha đờn.

.

(6)Tham Đồ hiển quyết  gồm 108 câu hỏi đáp giữa thiền sư và đệ tử. 

Toàn bộ các thiền ngữ, thoại đầu có màu sắc công án trong tác phẩm đều là những bài học tâm linh hướng tới giải thoát. 

Điều đặc biệt là câu hỏi bao giờ cũng hướng tới một đáp án rất cụ thể, và câu trả lời bao giờ cũng rất mơ hồ. Người hỏi muốn có câu trả lời rõ ràng để tu tập đúng hướng, sớm liễu ngộ Phật đạo. Người trả lời lại dùng một thứ ngôn ngữ ẩn nghĩa khác hẳn, với dụng ý “dường như” khác hẳn. Sau mỗi câu trả lời là một khoảng trống mênh mông, cho thấy mục đích của người thầy lớn hơn mục đích của học trò. Học trò hỏi để hiểu, nhưng thầy trả lại cho học trò sự siêu việt hỏi đáp. 

(7)

Một tác phẩm vừa tràn đầy trọng trách thuyết pháp theo nghĩa nào đó, nhưng lại thoát ly một cách tinh tế và diệu mật những đòi hỏi qui phạm của loại hình văn chương tôn giáo thời trung đại là một hiện tượng văn học đặc biệt để người đọc nhiều thời có thể tìm thấy những cách đọc phong phú hơn, sâu sắc hơn.

Về bản chất, có thể nói TĐHQ là một tác phẩm đi giữa thể loại đối cơ, ngữ lục và sự hồn nhiên thơ ca,  giữa tôn giáo và nghệ thuật, giữa sự sâu sắc triết lý với sự bay bổng của nội tâm sáng trong. Sự hô ứng giữa thoại đầu, thiền ngữ và các câu thơ cho thấy một sự chuyển hóa rất đặc biệt giữa tính chức năng và vẻ đẹp vô tâm của tác phẩm. Năng lực chuyển hóa này, hình như, không phải là một khuynh hướng dồi dào trong nền văn hóa tâm linh người Việt (ít nhất là xét trong phạm vi thời sơ kỳ trung đại). Nhiều tác phẩm thiền học giai đoạn này đều sử dụng kiểu ngôn ngữ hoằng pháp rất rõ, dụng ý tôn giáo mạnh, dù đôi lúc có “ngâm ngợi” như một hình thức vịnh, tán nhưng về cơ bản, vẫn không làm hiển lộ phẩm chất tự nhiên của ngôn từ nghệ thuật.

(8)

Sư có soạn Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, vua Lý Nhân Tông đưa bản thảo cho sứ thần sang Trung Hoadâng cho vua Triết Tông nhà Tống. Vua Triết Tông trao cho các vị cao tọa pháp sư ở chùa Tướng Quốc xem. Xem xong, các Ngài tâu vua Tống rằng :

Đây là nhục thân Bồ-tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào.

Vua Tống liền sắc sao một bản, bản chính liền trả lại cho vua ta. Sứ thần về kinh tâu lại, triều đình càng kính nể và khen thưởng Sư”.

Ngày xưa người Trung Hoa tự xem nước họ là nước lớn ở giữa, những nước nhỏ ở chung quanh, họ cho là những nước nhược tiểu. Việt Nam chúng ta cũng bị ở trong cảnh đó, vì vậy mỗi năm phải triều cống để giữ mối giao hòa. Và, văn học của chúng ta ngày xưa cũng bị lệ thuộc Trung Hoa, nên họ rất xem thường người Việt Nam. Thế mà khi đọc quyển Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn của thiền sư Viên Chiếu, các vị pháp sư đều khen và nói không dám thêm bớt một chữ. Đó là lòng kính trọng của họ đối với Ngài người nước nhược tiểu, khiến cho vua và triều đình Việt Nam càng kính trọng Ngài.

Tác phẩm gồm có:

- Tán Viên Giác Kinh.

- Thập Nhị Bồ-tát Hạnh Tu Chứng Đạo Tràng.

- Tham Đồ Hiển Quyết.

- Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn.

Các tác phẩm của Ngài đều bị mất, chỉ còn quyển Tham Đồ Hiển Quyết

(9) “Tháng 9 năm Quảng Hựu thứ 6 (1090) đời Lý Nhân Tông, Sư không bệnh gọi môn đồ vào dạy:

- Trong thân ta đây, xương lóng gân mạch, bốn đại hòa hợp, ắt phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái, xà ngang đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi, hãy nghe ta nói kệ:

            Thân như tường bích dĩ đồi thì,

            Cử thế thông thông thục bất bi.

            Nhược đạt tâm không vô sắc tướng,

            Sắc không ẩn hiển nhậm suy di.

Dịch :

            Thân như tường vách đã lung lay,

            Đau đáu người đời luống xót thay.

            Nếu đạt tâm không, không tướng sắc,

            Sắc không ẩn hiện mặc vần xoay.

Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, thọ 92 tuổi, 56 tuổi hạ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn