Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Quyển thứ tư. Phẩm thứ tư: Nguồn gốc các Bồ Tát được Thọ Ký (Phần 2)

15/05/201317:54(Xem: 6361)
Quyển thứ tư. Phẩm thứ tư: Nguồn gốc các Bồ Tát được Thọ Ký (Phần 2)

Kinh Bi Hoa (Lịch sử đức Phật A Di Đà và các Bồ Tát) 10 quyển

Quyển thứ tư
Phẩm thứ tư: Nguồn gốc các Bồ Tát được Thọ Ký (Phần 2)

Việt dịch: Thích nữ Tâm Thường

Nguồn: Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 3, No. 157 Bản dịch Hán văn Đời Bắc Lương, Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm Người Thiên Trúc Chứng nghĩa và nhuận văn Tỳ kheo Thích Đỗng Minh Tỳ kheo Tâm Hạnh

Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm chí Bảo Hải bạch với Vương tử Năng Già Nô thứ tư, v.v... cho đến phát nguyện cũng như ở trước.
Bấy giờ, Phật bảo Năng Già Nô:
- Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, khi ông hành đạo Bồ Tát đã dùng trí tuệ Kim cang phá tan vô lượng vô biên các núi phiền não của chúng sanh, làm xong Phật sự lớn như vậy rồi, sau đó mới thành Chánh Giác. Thiện nam tử! Vì thế nên hiệu của ông là Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức.
Phật bảo Bồ Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức:
- Thiện nam tử! Ông ở vào đời sau, qua hằng hà sa số kiếp thứ nhất, vào hằng hà sa số kiếp thứ hai, về phương Đông, vượt qua mười vô số thế giới như số cát của sông Hằng, có thế giới tên là Bất Tuần.
- Thiện nam tử! Ở nơi đó ông sẽ được thành Phật hiệu là Phổ Hiền Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thế giới của Phật đó có đầy đủ các thứ trang nghiêm xinh đẹp như ông đã nguyện.
Thiện nam tử! Khi Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho Đại Bồ Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức thành Chánh Giác, trong hư không có vô lượng vô biên trăm ngàn ức na do tha chư thiên khen ngợi: “Lành thay! lành thay!”, mưa hương thơm ngưu đầu chiên đàn, a già lưu, hương đa già lưu, hương đa ma la bạt tinh và hương bột để cúng dường.
Bấy giờ Bồ Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức bạch Phật:
- Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện của con thành tựu, bản thân con được lợi ích, con xin kính lễ chư Phật Thế Tôn, xin nguyện ngay lúc ấy, trong vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng trong mười phương, có đầy hương thơm vi diệu của chư thiên, các loại chúng sanh hoặc tại địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, trên trời, trong nhân gian, khi nghe được mùi thơm ấy thì thân tâm không còn các bệnh khổ não.
Thiên nam Tử! Khi Bồ Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức thưa như vậy xong và lập tức lạy Phật thì hằng hà sa vô số thế giới trong mười phương đều có hương thơm vi diệu bao bọc chung quanh. Chúng sanh nào nghe được mùi hương đó thì thân tâm đều được xa lìa các khổ não. Vì Bồ Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức, Bảo Tạng Như Lai thuyết kệ rằng:
Huệ Kim cang hay phá
Nay ông hãy đứng dậy
Thế giới Phật mười phương
Có hương thơm trùm khắp
Cho vô lượng chúng sanh
Được an lạc hoan hỷ
Tương lai ông thành Phật
Vô thượng Thế gian giải.
Thiện nam tử! Bấy giờ Bố Tát Kim Cang Trí Tuệ Quang Minh Công Đức nghe kệ xong, tâm rất vui mừng, liền đứng dậy lạy Phật, ngồi cách Phật không xa để nghe pháp.
Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm chí Bảo Hải lại bạch với Vương tử Vô Sở Úy thứ năm, cho đến phát tâm cũng như ở trước.
Vương tử thưa với Phạm chí:
- Nay nguyện của con là không muốn thành Chánh Giác ở thế giới bất tịnh này. Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới đó không có địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Đất ở đó toàn bằng lưu ly báu màu xanh biếc, v.v... nói rộng ra đều như các sự việc tốt đẹp ở thế giới Liên Hoa.
Bấy giờ, Vương tử Vô Úy đem hoa sen dâng lên Phật Bảo Tạng và thưa:
• Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện của con thành tựu, bản thân con được lợi ích, nhờ Phật lực, nay ở trước Phật, con nguyện sẽ dược thấy vô số thiền định vi diệu. Lại nguyện trời mưa vô số hoa sen lớn như bánh xe đầy khắp vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng trong mười phương, nhiều như vi trần. Tất cả chúng sanh trong các thế giới ấy đều trông thấy mưa hoa sen. Thấy rồi, họ đều rất hoan hỷ.
Thiện nam tử! Vương tử Vô Úy thưa như vậy xong, nhờ Phật lực cho nên ngay khi ấy liền được thấy vô số thiền định vi diệu. Trời mưa vô lượng hoa sen lớn như bánh xe đầy khắp vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng trong mười phương. Trong các quốc độ của chư Phật nhiều như cát sông Hằng trong mười phương, tất cả đại chúng đều trông thấy sự việc này, thấy xong, họ rất hoan hỷ.
Bấy giờ, Phật bảo Vương tử Vô Úy:
- Thiện nam tử! Ông phát nguyện lớn sâu xa vi diệu nhận cõi Phật thanh tịnh như vậy, lại có thể mau được thấy vô số thiền định vi diệu. Do nguyện không hư dối nên trời mưa vô lượng hoa sen như vậy.
• Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện của con thành tựu, bản thân con được lợi ích, con nguyện cho các hoa này đều trụ giữa hư không, không còn bị rơi xuống đất.
Khi ấy, Phật Bảo Tạng bảo với Vương tử Vô Úy:
• Thiện nam tử! Nay ông đem các hoa sen ấn lên hư không một cách nhanh chóng, do đó, nên hiệu của ông là Hư Không Ấn.
Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Hư Không Ấn:
Thiện nam tử! Ông ở đời sau trải qua một hằng hà sa số kiếp rồi, qua hằng hà sa số kiếp thứ hai, về phương Đông Nam, cách cõi Phật này trăm ngàn vạn ức hằng hà sa thế giới, ở đó có thế giới tên là Liên Hoa, ở đó ông sẽ thành Chánh Giác hiệu là Liên Hoa Tôn Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế tôn. Đại chúng đều là các Đại Bồ Tát, nhiều vô lượng không thể tính kể. Đức Phật đó sống lâu vô lượng vô biên, tất cả các sở nguyện đều được thành tựu.
Khi ấy, Bồ Tát Hư Không Ấn đem đầu mặt lạy đức Bảo Tạng Như Lai và ngồi cách Phật không xa để nghe pháp.
Bấy giờ, vì Bồ Tát Hư Không Ấn, đức Thế Tôn thuyết kệ:
Thiện nam tử nên biết
Có người đã lợi mình
Dứt phiền não trói buộc
Giác ngộ được vắng lặng
Những công đức làm được
Nhiều như cát sông Hằng
Trong vi trần thế giới
Thành tựu không hề mất
Ông vào đời vị lai
Thành tựu đạo cao cả
Như chư Phật quá khứ
Ông giống không sai khác.
Thiện nam tử! Bồ Tát Hư Không Ấn nghe kệ xong rất vui mừng hoan hỷ.
Thiện nam tử! Khi ấy, Phạm chí Bảo Hải bạch với vương tử Hư Không thứ sáu,... cho đến phát tâm cũng như trên.
Vương tử Am Bà La bạch Phật:
- Kính bạch đức Thế Tôn! Nay nguyện của con là không muốn thành Chánh Giác ở thế giới bất tịnh này... nói lược... như nguyện của Bồ Tát Hư Không Ấn. Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện của con thành tựu, bản thân con được lợi ích, con nguyện trong vô số thế giới nhiều như cát sông Hằng khắp mười phương tự nhiên có lọng đẹp bằng bảy báu làm toàn bằng kim cương che khắp nơi trên hư không. Lọng này có treo linh bằng bảy báu để trang trí. Lọng và linh báu đó thường phát ra tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tỳ kheo Tăng, tiếng sáu Ba la mật và sáu thần thông, Thập lực, Vô úy, ... Nơi thế giới đó, chúng sanh được nghe các thứ tiếng như vậy liền phát tâm thành Chánh Giác. Phát tâm xong, lập tức họ được bất thối chuyển. Trong linh báu phát ra tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, cho đến tiếng Vô sở úy, vang khắp thế giới trong mười phương. Bồ Tát Hư Không Ấn nhờ Phật lực nên cũng nghe được.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện con được thành tựu, bản thân con được lợi ích, nay con nguyện được Tri Nhật Tam muội, nhờ sức Tam muội nên tăng thêm tất cả các căn lành. Khi con được Tam muội xong, cúi xin chư Phật thọ ký cho con thành Chánh Giác.
Nói lời nguyện này xong, nhờ Phật lực nên Vương tử liền được Tri Nhật Tam muội. Bấy giờ đức Thế Tôn khen ngợi Vương tử:
- Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, nguyện của ông hết sức sâu xa, do nhân duyên công đức sâu xa đó cho nên ngay khi ấy ở các thế giới nhiều như cát sông Hằng khắp mười phương tự nhiên có lọng đẹp bảy báu làm toàn bằng kim cương che khắp nơi trên hư không, có linh trang nghiêm bằng bảy báu, trong linh thường phát ra tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, cho đến Vô sở úy. Bấy giờ có trăm ngàn ức na do tha chúng sanh nghe các âm thanh này xong, liền phát tâm thành Chánh Giác. Do đó nên hiệu của ông là Hư Không Nhật Quang Minh.
Phật lại bảo Bồ Tát Hư Không Nhật Quang Minh:
- Ông ở đời sau trải qua vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng lần thứ nhất rồi vào vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng lần thứ hai, về phương Đông cách đây hai hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Nhật Nguyệt, ở đó ông sẽ thành Chánh Giác hiệu là Pháp Tự Tại Phong Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Bồ Tát Hư Không Nhật Quang Minh nghe thọ ký như vậy xong, liền lạy sát đất chân Phật. Đức Thế Tôn vì Hư Không Nhật Quang Minh thuyết kệ:
Thiện nam, hãy đứng dậy
Lành thay tự điều ngự
Đem tịch tịnh đại bi
Đến cho cả chúng sanh
Độ thoát, chấm dứt khổ
Cuối cùng được giải thoát
Trí tuệ phân biệt rõ
Đạt đến đạo cao cả.
Thiện nam tử! Bồ Tát Hư Không Nhật Quang Minh nghe bài kệ này xong, rất hoan hỷ, đứng dậy chắp tay đảnh lễ sát chân Phật, ngồi cách Phật không xa để nghe pháp.
Bấy giờ, Phạm chí Bảo Hải lại bạch với Vương tử Thiện Tý thứ bảy, v.v... cho đến sự phát tâm cũng lại như trước. Vương tử bạch Phật:
- Nay nguyện của con không muốn thành Chánh Giác ở thế giới bất tịnh này. Con nguyện đời sau, trong thế giới của con không có địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, danh từ về nữ nhân và do thai sanh cùng các núi Tu Di, đại tiểu Thiết Vi, núi, gò, cát đá nhơ nhớp, không có gió độc, gai góc, rừng rú, cây cối, sông to biển lớn, mặt trời mặt trăng, ngày đêm, chốn tối tăm nhơ nhớp. Các loại chúng sanh không đại tiểu tiện, khạc nhổ nhơ nhớp, thân tâm không bị các việc không vui. Đất bằng mã não, không có các bụi bặm, chỉ hoàn toàn trang nghiêm bằng trăm ngàn vô lượng trân bảo, không có các cỏ rác, chỉ có hoa Mạn đà la xinh đẹp và vô số cây báu để trang sức. Dưới gốc cây báu, tràng hoa, các âm nhạc, hương hoa, anh lạc báu, các loại như vậy trang trí như cây báu kia. Trong thế giới đó không có ngày đêm, dùng hoa nở và khép để biết thời tiết. Các Bồ Tát ở trong hoa vàng tự nhiên sanh ra và liền được vô số thiền định trang nghiêm vi diệu.
- Nhờ sức Tam muội ấy nên các Bồ Tát được thấy chư Phật ở các thế giới nhiều như vi trần khắp mười phương, và nhờ Tam muội này nên trong khoảng một niệm họ được đầy đủ sáu phép thần thông.
• Nhờ thiên nhĩ cho nên nghe tất cả âm thanh của chư Phật hiện đang thuyết pháp ở các thế giới trong mười phương.
- Nhờ Túc mạng trí cho nên biết được những việc của vô số đời quá khứ như số vi trần trong một cõi Phật.
- Nhờ Thiên nhãn cho nên thấy tất cả những thứ vi diệu ở các thế giới chư Phật trong mười phương.
- Nhờ Tha tâm trí cho nên ngay trong một niệm biết được tâm niệm của các chúng sanh nhiều như số vi trần trong một thế giới Phật, cho đến khi thành tựu Chánh Giác cũng không mất Tam muội này.
• Lúc sáng sớm yên tịnh, bốn phía có gió trong lành thoảng nhẹ, thổi hương thơm vi diệu và rải các thứ hoa. Do sức gíó nên các Bồ Tát ra khỏi Tam muội, liền được năm lực như ý thông suốt. Do nhờ năng lực đó nên ngay trong khoảng một niệm, các Bồ Tát có thể đi đến các cõi Phật trong mỗi mỗi phương khắp mười phương, nơi vô số của chư Phật nhiều như vi trần trong một cõi Phật hiện tại, xin lãnh thọ diệu pháp và ngay trong một niệm trở về thế giới cũ mà không trở ngại. Các Bồ Tát ở trong đài hoa của hoa Mạn đà la, Ma ha mạn đà la, ngồi kiết già tư duy các pháp môn, muốn được thấy con (vị Phật tương lai) ở phương nào thì dù cho đang ngồi hướng về phía nào cũng được thấy. Người nào đối với giáo pháp sâu xa có chỗ nghi ngờ, nhờ thấy con (vị Phật tương lai) nên liền được hết nghi. Nếu có người muốn nghe pháp hỏi nghĩa, nhờ thấy con (vị Phật tương lai) nên liền được hiểu rõ không còn nghi ngờ. Các Bồ Tát nào hiểu rõ không có ngã và ngã sở nên có thể xả bỏ tất cả thân căn, mạng căn, nhất định không thối lui nơi quả vị Vô thượng Bồ đề. Thế giới ấy không có tất cả các tên về bất thiện, cũng không có danh từ thọ giới, phá giới, hủy giới, sám hối. Tất cả chúng sanh đều có ba mươi hai tướng tốt, được sức mạnh như Na-la-diên cho đến khi thành Chánh Giác. Tất cả mọi người có sáu căn đầy đủ. Nơi đó, chúng sanh ngay khi vừa mới sanh râu tóc tự rụng, mặc ba pháp y, phân biệt rành rẽ được Tam muội cho đến thành Chánh Giác không bị thối lui nửa chừng. Các chúng sanh, v.v... tất cả các căn đều được hài hòa. Tất cả mọi người không bị khổ về già, bệnh. Nếu các Bồ Tát khi qua đời đều ngồi kiết già nhập hỏa định, tự thiêu thân mình, sau khi thiêu xong, gíó trong lành bốn phía thổi đến làm cho xá lợi rải đến các phương không có thế giới Phật. Ngay khi ấy, xá lợi biến thành Ma ni bảo châu, như bảo châu của Chuyển Luân Thánh Vương. Chúng sanh nào được thấy và tiếp xúc với bảo châu ấy thì không còn bị đọa trong ba đường ác, cho đến được Niết Bàn không còn bị các khổ, liền được xả thân sanh về phương khác, nơi đang có chư Phật, được lãnh thọ diệu pháp, phát tâm thành Chánh Giác không thối chuyển. Nếu khi qua đời, tâm chúng sanh ở nơi đó vẫn ở trong định không tán loạn, không bị các nỗi khổ về ái biệt ly, v.v... Sau khi qua đời không còn bị đọa vào tám nạn hay về thế giới không Phật... cho đến được thành Chánh Giác, thường được thấy Phật, lãnh thọ diệu pháp,cúng dường chúng Tăng. Tất cả chúng sanh xa lìa tham dục, sân nhuế, ngu si, ân ái, tật đố, vô minh, kiêu mạn. Thế giới không có Thanh Văn, Duyên Giác. Đại chúng ở khắp trong nước đó chỉ thuần là các Đại Bồ Tát, v.v..., tâm họ mềm mỏng không ái trược, kiên cố không thối lui đối với quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, được các Tam muội. Thế giới ấy chỉ có ánh sáng thanh tịnh. Các thế giới của chư Phật nhiều như vô số vi trần trong mười phương đều được nghe đến thế giới của con. Thế giới của con có hương thơm vi diệu bay khắp vô lượng thế giới của chư Phật như số vi trần trong mười phương. Chúng sanh trong thế giới của con thường được an lạc, chưa từng nghe tiếng về cảm giác khổ.
- Bạch đức Thế Tôn! Khi con thực hành đạo Bồ Tát không có giới hạn nên con cần phải trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh như vậy, làm cho các chúng sanh ở khắp trong nước đó đều được thanh tịnh, sau đó con mới thành Chánh Giác.
- Bạch đức Thế Tôn! Con thành Chánh Giác xong sẽ phát ra vô lượng vô biên ánh sáng chiếu khắp các thế giới của Phật như số vi trần khắp mười phương, làm cho chúng sanh ở những nơi ấy đều được thấy con với ba mươi hai tướng tốt. Ngay khi ấy, chúng được sạch hết phiền não tham dục, sân giận, ngu si, ghen ghét, vô minh, kiêu mạn và phát tâm thành Chánh Giác, được Tam muội nhẫn nhục Đà la ni như đã nguyện. Nhờ thấy con, các chúng sanh ở chỗ rét buốt được ấm áp, an vui, giống như Bồ Tát khi vào đệ nhị thiền, nhờ thấy con nên thân tâm được diệu lạc bậc nhất và phát tâm thành Chánh Giác. Nếu người đó qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào thế giới Phật của con, sanh xong liền không bị thối chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các súc sanh, ngã quỷ, trong địa ngục nóng đốt cũng được thọ hưởng như trên. Chư thiên được thấy ánh áng ấy gấp bội và tuổi thọ của con được lâu dài vô lượng vô biên không thể tính kể, trừ bậc Nhất thiết trí.
• Bạch đức Thế Tôn! Con thành Chánh Giác xong, được chư Phật đang ở trong vô lượng vô biên thế giới khắp mười phương khen ngợi con. Ngoài ra, nếu các chúng sanh nào được nghe tiếng khen ngợi con như vậy mà nguyện làm việc lành thì mau được sanh vào nước của con. Sau khi qua đời, chắc chắn họ sẽ sanh vào nước con, chỉ trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, phá hoại Tam bảo, hủy báng Thánh nhân.
- Bạch đức Thế Tôn! Con thành Chánh Giác xong, chúng sanh ở nơi vô lượng vô biên vô số khắp mười phương nếu nghe tiếng con, phát nguyện muốn sanh về nước của con thì các chúng sanh ấy khi gần qua đời đều được thấy con cùng các đại chúng vây quanh. Ngay khi ấy, con nhập Vô úy Tam muội. Nhờ sức Tam muội này nên con ở ngay trước mặt họ thuyết pháp. Nhờ nghe pháp nên họ liền dứt trừ tất cả khổ não, tâm rất hoan hỷ. Tâm hoan hỷ nên được Bảo minh Tam muội. Nhờ sức Tam muội ấy nên tâm được chánh niệm và vô sanh nhẫn. Sau khi qua đời, chắc chắn sanh vào thế giới của con. Ngoài ra, ở các thế giới khác, chúng sanh nào không có bảy loại tài sản thánh, không muốn tu tập thực hành ba thừa, không muốn sanh trong hàng trời, người, cũng không tu hành tất cả thiện căn và ba loại phước, làm việc phi pháp, nhớp nhúa, luyến ái, ác dục, chuyên thực hành tà kiến thì với chúng sanh như vậy con nguyện nhập “Vô phiền não Tam muội”. Do năng lực Tam muội đó, nếu các chúng sanh kia khi qua đời, con cho đại chúng đứng ở trước mặt, vì họ thuyết diệu pháp, lại vì họ, con thị hiện tất cả những gì có trong cõi Phật, khuyến khích cho họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ấy nghe xong, sanh lòng tin vô cùng với con, được hoan hỷ, an lạc, liền phát tâm thành Chánh Giác và làm cho chúng sanh ấy dứt trừ khổ não, dứt trừ khổ não xong, được Nhật Đăng Quang minh Tam muội, dứt trừ tối tăm si ám. Sau khi qua đời, họ liền sanh về thế giới của con.
Bấy giờ Bảo Tạng Như Lai khen:
- Lành thay! Lành thay! Ông có thể phát được nguyện lớn vi diệu như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện con được thành tựu, bản thân con được lợi ích, con nguyện cho các thế giới của chư Phật như số vi trần trong mười phương đều có mưa hương thơm Ưu đà la bà la và hương thơm chiên đàn, hương thơm ngưu đầu chiên đàn cùng vô số hương bột thơm. Chúng sanh nào ở khắp mọi nơi nghe được mùi hương thơm này đều phát tâm thành Chánh Giác, làm cho con ngày hôm nay được Tam muội, nguyện rắn chắc như Kim cương. Nhờ năng lực Tam muội đó nên được trông thấy mưa các thứ hương thơm trong các thế giới ấy.
Bảo Tạng Như Lai bảo với Vương tử:
- Thiện nam tử! Nguyện cầu của ông đã được thành tựu. Trời đã mưa các thứ hương thơm vi diệu, có vô số chúng sanh chắp tay cung kính phát tâm thành Chánh Giác. Do đó hiệu của ông là Sư Tử Hương. Ông ở đời sau, trải qua một hằng hà sa đẳng a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng hà sa đẳng a tăng kỳ kiếp, ở phương trên cách đây bốn mươi hai hằng hà sa thế giới với vô số thế giới chư Phật nhiều như vi trần, có thế giới tên là Thanh Hương Quang Minh Vô Cấu, ở nơi đó ông sẽ thành được thành Chánh Giác hiệu là Quang Minh Vô Cấu Kiên Hương Phong Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
Thiện nam tử! Lúc ấy, Bồ Tát Sư Tử Hương Đem đầu mặt lậy Bảo Tạng Như Lai sát đất. Như Lai vì Bồ Tát Sư Tử Hương mà thuyết kệ rằng:
Đạo sư đứng dậy
Nhận các cúng dường
Vượt khỏi sanh tử
Sa lìa khổ não
Dứt các trói buộc
Và các phiền não
Đời sau sẽ làm
Thầy của trời, người
Thiện nam tử! Bấy giờ Bồ Tát Sư Tử Hương nghe kệ này xong, tâm rất vưi mừng, liền đứng dậy chắp tay ngồi ở cách chỗ Phật không xa để nghe pháp.
Thiện nam tử! Bấy giờ Phạm Chí Bảo Hải lại bạch với Vương Tử Mẫn Đồ thứ tám, cho đến phát tâm cũng như trên... Vương Tử ở trước Phật, bạch:
• Bạch đức Thế Tôn! Nay nguyện của con là cần phải ở nơi thế giới bất tịnh này tu đạo Bồ Tát. Lại cần phải làm cho mười ngàn thế giới bất tịnh trở nên thanh tịnh, làm cho các thế giới đó được xinh đẹp, sạch sẽ giống như thế giới Thanh Hương Quang Minh Vô Cấu. Con cũng sẽ giáo hóa vô lượng Bồ Tát, làm cho tâm họ được thanh tịnh, hướng đến Đại thừa, làm cho thế giới của con được đầy đủ tất cả, sau đó con mới thành Chánh Giác.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện khi con tu hành đạo Bồ Tát, quyết phải vượt hơn các Bồ tát khác. Suốt bảy năm, con ngồi ngay thẳng, tư duy về công đức thanh tịnh của chư Phật, Bồ Tát và vô số công đức để trang nghiêm cõi Phật. Khi ấy, con liền được thấy vô số các Tam muội trang nghiêm và một vạn một ngàn Bồ tát ở trong thiền định tinh tấn tu tập.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu đời vị lai, các Bồ Tát trong khi thực hành đạo Bồ Tát, cũng nguyện được tất cả Tam muội như vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Con nguyện được “Tam muội xuất ly tam thế thắng tràng” và nhờ sức Tam muội đó nên thấy tất cả thế giới của chư Phật vô lượng vô biên trong mười phương và chư Phật hiện tại ở khắp nơi vượt khỏi ba đời và thuyết pháp cho chúng sanh.
- Bạch đức Thế Tôn! Con nguyện được Tam muội Bất thối, nhờ sức Tam muội đó nên trong một niệm thấy tất cà chư Phật, Bồ Tát và các Thanh Văn như số vi trần cung kính vây quanh.
- Nguyện cho con được ở chỗ các đức Phật ấy, được Tam muội Vô y chỉ. Do sức Tam muội đó nên cùng một lúc con hóa thân đến khắp các quốc độ của Phật nhiều như vi trần để cúng dường, lễ bái Phật như ở một cõi Phật.
- Nguyện cho mỗi thân của con dùng vô số trân bảo, hương hoa, hương xoa, hương bột thơm đẹp thượng diệu, vô số âm nhạc trang nghiêm cúng dường các đức Phật.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện cho thân con ở chỗ mỗi đức Phật tu hành đạo Bồ Tát nhiều kiếp như số giọt nước trong biển lớn.
- Nguyện cho con được Tam muội biến hóa tất cả thân, do năng lực Tam muội này nên trong một niệm ở ngay trước từng đức Phật, con biết được vô số thế giới của chư Phật giống như một cõi Phật.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện cho con được Năng lực Công đức Tam muội, do sức Tam muội này nên ở trước từng đức Phật đến khắp vô số chỗ chư Phật giống như một cõi Phật, rồi dùng lời tán dương vi diệu để tán dương chư Phật.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện cho con được Bất Tuần Tam muội, nhờ sức Tam muội này nên trong một niệm thấy tất cả chư Phật đầy khắp trong vô lượng vô biên thế giới ở mười phương.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện cho con được Vô tránh Tam muội, nhờ sức Tam muội này thấy khắp các thế giới thanh tịnh vi diệu của chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện cho con được Thủ Lăng Nghiêm Tam muội, nhờ sức Tam muội này nên hóa làm thân địa ngục, vào trong địa ngục thuyết pháp vi diệu cho chúng sanh trong địa ngục, khuyên dạy làm cho họ phát tâm thành Chánh Giác. Các chúng sanh kia được nghe pháp này xong, liền phát tâm thành Chánh Giác và liền qua đời, được sanh trong loài người, và sanh ở chỗ nào cũng đều được gặp Phật, được gặp Phật liền được nghe pháp, lãng thọ pháp xong được an trụ ngay địa vị Bất thối chuyển. Đối với Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân, v.v..., trời. rồng, quỷ thần, dạ xoa, la sát, yêu tinh, quỷ hôi hám, quỷ tha ma, nô lệ, đồ tể hàng thịt, buôn bán dâm nữ, súc sanh, ngã quỷ, v.v... các chúng như vậy con cũng giáo hóa như vậy, đều làm cho họ phát tâm thành Chánh Giác. Có các chúng sanh tùy theo chỗ sanh mà mang các hình tướng khác nhau. Con phân thân theo như nghiệp chúng đã tạo, tùy theo thọ sự khổ vui và các nghề nghiệp của chúng, nguyện cho con biến hóa ra các thân hình như vậy và tùy theo hành động của họ, giáo hóa cho họ.
• Bạch đức Thế Tôn! Có những chúng sanh với các loại âm thanh khác nhau, nguyện cho con tùy theo vô số âm thanh đó mà thuyết pháp làm cho họ được hoan hỷ. Nhờ hoan hỷ, khuyên họ phát tâm an trụ vào đó, làm cho không thối lui nơi quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
- Bạch đức Thế Tôn! Con cần phải giáo hóa số chúng sanh trong mười ngàn cõi Phật, làm cho tâm họ được thanh tịnh, không còn làm các nghiệp phiền não độc hại, không để cho một người nào còn lệ thuộc vào bốn loại ma, huống là nhiều người. Nếu con trang nghiêm mười ngàn cõi Phật thanh tịnh như vậy, như thế giới Quang Minh Thanh Hương Vô Cấu của Phật Quang Minh Vô Cấu Tôn Hương Vương với vô số sự trang nghiêm vi diệu, sau đó con cùng các quyến thuộc mới đạt được ước nguyện như của Bồ tát Sư Tử Hương kia.
• Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện con thành tựu, bản thân con được lợi ích, con sẽ làm cho tất cả chúng sanh trong mười ngàn thế giới của chư Phật không còn các khổ, tâm được nhu hòa, tâm được điều phục. Người người ở khắp bốn thiên hạ đều thấy Phật Thế Tôn đang thuyết pháp. Tất cả chúng sanh tự nhiên được vô số của báu, hương hoa, hương bộ, hương xoa, vô số y phục và cờ phướn, đem tất cả cúng dường Phật. Sau khi cúng dường Phật, họ đều phát tâm Vô thượng Bồ đề.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện chúng con nhờ được vô số năng lực Tam muội vi diệu nên được thấy các việc như vậy, và khi nguyện như vậy xong, liền như ước nguyện, được thấy tất cả.
Bấy giờ đức Thế Tôn khen A Di Cụ:
- Lành thay! lành thay! Thiện nam tử! Nay bốn phía thế giới của ông được bao bọc với một vạn cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm, đời vị lai ông sẽ giáo hóa vô lượng chúng sanh làm cho tâm họ được thanh tịnh, lại sẽ cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn ở các thế giới ấy.
- Thiện nam tử! Do nhân duyên này nên đổi tên ông là Phổ Hiền, vào đời vị lai trải qua một hằng hà sa a tăng kỳ kiếp, vào đệ nhị hằng hà sa a tăng kỳ kiếp, trong thời gian cuối cùng, về phương Bắc, cách thế giới này hơn sáu mươi hằng hà sa coi Phật có thế giới tên là tri Thủy Thiện Tịch Công Đức, ông sẽ ở đó thành Chánh Giác hiệu là Trí Cương Hống Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Thiện nam tử! Khi ấy Đại Bồ Tát Phổ Hiền lạy Phật Bảo Tạng, đức Như Lai vì Đại Bồ Tát mà thuyết kệ:
Đạo sư, hãy đứng dậy
Đã được như sở nguyện
Khéo điều phục chúng sanh
Làm cho đều nhất tâm
Vượt qua sông phiền não
Và khỏi các pháp ác
Đời sau làm đèn sáng
Bậc thầy của trời, người.
Thiện nam tử! Bấy giờ trong hội có mười ngàn người tiêu cực, đồng thanh thưa:
- Bạch đức Thế Tôn! Đời sau chúng con sẽ thành Chánh Giác ở cõi Phật nghiêm tịnh như vậy, đó là các thế giới do sự tu hành thanh tịnh của Bồ tát Phổ Hiền.
Bạch đức Thế Tôn! Chúng con cần phải tu đầy đủ sáu Ba la mật, nhờ đầy đủ sáu Ba la mật nên mỗi người đều thành Chánh Giác ở nơi các cõi Phật.
Thiện nam tử! Khi ấy Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký mười ngàn người ấy thành Chánh Giác:
- Thiện nam tử! Khi Bồ Tát Phổ Hiền thành Chánh Giác, các ông sẽ ở trong vạn cõi Phật mà Bồ Tát Phổ Hiền đã tu thanh tịnh, đồng một lúc thành Chánh Giác. Có một ngàn vị Phật đồng một hiệu là Trí Xí Tôn Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiện Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Lại có một ngàn vị Phật đồng hiệu Tăng Tướng Tôn Âm Vương.
Lại có một ngàn vị Phật đồng một hiệu là Thiện Vô Cấu Tôn Âm Vương.
Có một ngàn vị Phật đồng một hiệu là Ly Bố Úy Tôn Âm Vương.
Có một ngàn vị Phật đồng một hiệu là Thiện Vô Cấu Quang Tôn Âm Vương.
Có một ngàn năm trăm vị Phật đồng một hiệu là Nhật Âm Vương.
Có năm trăm vị Phật đồng một hiệu là Nhật Bảo Tạng Tôn Vương.
Có năm vị Phật đồng một hiệu là Nhạo Âm Tôn Vương.
Có hai đức Phật đồng một hiệu là Nhật Quang Minh.
Có bốn đức Phật đồng một hiệu là Long Tự Tại.
Có tám đức Phật đồng một hiệu là Ly Khủng Bồ Xưng Vương Quang Minh.
Có mười vị Phật đồng một hiệu là Ly Âm Quang Minh.
Có tám vị Phật đồng một hiệu là Âm Thanh Xưng.
Có mười một vị Phật đồng một hiệu là Hiển Lộ Pháp Âm.
Có chín vị Phật đồng một hiệu là Công Đức Pháp Xưng Vương.
Có hai mươi vị Phật đồng một hiệu là Bất Khả Tư Nghì Vương.
Có bốn mươi đức Phật đồng một hiệu là Bảo Tràng Quang Minh Tôn Vương.
Lại có một vị Phật hiệu Giác Tri Tôn Tưởng Vương.
Có bảy vị Phật đồng một hiệu là Bất Khả Tư Nghì Âm.
Có ba vị Phật đồng một hiệu là Trí Tạng.
Có mười lăm vị Phật đồng một hiệu là Trí Sơn Tràng.
Có năm mươi vị Phật đồng một hiệu là Trí Hải Vương.
Có ba mươi vị Phật đồng một hiệu là Đại Lực Tôn Âm Vương.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Sơn Công Đức Kiếp.
Có tám mươi vị Phật đồng một hiệu là Thanh Tịnh Trí Cần.
Có chín mươi vị Phật đồng một hiệu là Tôn Tướng Chủng Vương.
Có một trăm vị Phật đồng một hiệu là Thiện Trí Vô Cấu Lôi Âm Tôn Vương.
Có tám mươi vị Phật đồng một hiệu là Thắng Tôn Đại Hải Công Đức Trí Sơn Lực Vương.
Có bốn mươi vị Phật đồng một hiệu là Vô Cấu Bồ Đề Tôn Vương.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Trí Giác Sơn Hoa Vương.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Công Đức Sơn Trí Giác.
Có ba vị Phật đồng một hiệu là Kim Cang Sư Tử.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Trí Giới Quang Minh.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Thị Hiện Tăng Ích.
Có một vị Phật hiệu là Vô Lượng Quang Minh.
Có ba vị Phật đồng một hiệu là Sư Tử Du Hý.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Vô Tận Trí Sơn.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Bảo Quang Minh.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Vô Cấu Trí Huệ.
Có chín vị Phật đồng một hiệu là Trí Huệ Quang Minh.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Sư Tử Xưng.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Công Đức Thông Vương.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Vũ Pháp Hoa.
Có một vị Phật hiệu Tạo Quang Minh.
Có một vị Phật hiệu Tăng Ích Sơn Vương.
Có một vị Phật hiệu Xuất Pháp Vô Cấu Vương.
Có một vị Phật hiệu Hương Tôn Vương.
Có một vị Phật hiệu Vô Cấu Mục.
Có một vị Phật hiệu Đại Bảo Tạng.
Có một vị Phật hiệu Lực Vô Chướng Ngại Vương.
Có một vị Phật hiệu Tự Tri Công Đức Vương.
Có một vị Phật hiệu Y Phục Tri Túc.
Có một vị Phật hiệu Đắc Tự Tại.
Có một vị Phật hiệu Vô Chướng Ngại Lợi Ích.
Có một vị Phật hiệu Trí Huệ Tàng.
Có một vị Phật hiệu Đại Sơn Vương.
Có một Vị Phật hiệu Viết Lực Tàng.
Có một vị Phật hiệu Cầu Công Đức.
Có một vị Phật hiệu Hoa Tràng Chi.
Có một vị Phật hiệu Chúng Quang Minh.
Có một vị Phật hiệu Vô Si Công Đức Vương.
Có một vị Phật hiệu Kim Cang Thượng.
Có một vị Phật hiệu Pháp Tướng.
Có một vị Phật hiệu Tôn Âm Vương.
Có một vị Phật hiệu Kiên Trì Kim Cang.
Có một vị Phật hiệu Trân Bảo Tự Tại Vương.
Có một vị Phật hiệu Kiên Tự Nhiên Tràng.
Có một vị Phật hiệu Sơn Kiếp.
Có một vị Phật hiệu Vũ Ngu Lạc.
Có một vị Phật hiệu Tăng Ích Thiện Pháp.
Có một vị Phật hiệu Bà La Vương.
Có hai vị Phật hiệu đồng một hiệu là Công Đức Biến Mãn Đại Hải Công Đức Vương.
Có một vị Phật hiệu Trí Huệ Hòa Hiệp.
Có một vị Phật hiệu Trí Thức.
Có một vị Phật hiệu Hoa Chúng.
Có một vị Phật hiệu Thế Gian Tôn.
Có một vị Phật hiệu Ưu Đàm Bát Hoa Tràng.
Có một vị Phật hiệu Pháp Tràng Tự Tại Vương.
Có một vị Phật hiệu Chiên Đàn Vương.
Có một vị Phật hiệu Thiện Trụ.
Có một vị Phật hiệu Tinh Tấn Lực.
Có một vị Phật hiệu Tràng Đẳng Quang Minh.
Có một vị Phật hiệu Viết Trí Bộ.
Có một vị Phật hiệu Viết Hải Tràng.
Có một vị Phật hiệu Diệt Pháp Sinh.
Có một vị Phật hiệu Hoại Ma Vương.
Có một vị Phật hiệu Chúng Quang Minh.
Có một vị Phật hiệu Xuất Trí Quang Minh.
Có một vị Phật hiệu Viết Huệ Đăng.
Có một vị Phật hiệu An Ổn Vương.
Có một vị Phật hiệu Viết Trí Ân.
Có một vị Phật hiệu Tràng Nhiếp Thủ.
Có một vị Phật hiệu Thiên Kim Cang.
Có một vị Phật hiệu Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương.
Có một vị Phật hiệu Vô Thắng Trí.
Có một vị Phật hiệu Thiện Trụ Ý.
Có một vị Phật hiệu Nguyệt Vương.
Có một vị Phật hiệu Vô Thắng Bộ Tự Tại Vương.
Có một vị Phật hiệu Sa Lân Đà Vương.
Có tám mươi vị Phật đồng một hiệu là Sư Tử Bộ Vương.
Có năm mươi vị Phật đồng một hiệu là Na La Diên Vô Thắng Tàng.
Có bảy mươi vị Phật đồng một hiệu là Tụ Tập Trân Bảo Công Đức.
Có ba mươi vị Phật đồng một hiệu là Quang Minh Tàng.
Có hai mươi vị Phật đồng một hiệu là Phân Biệt Tinh Tú Xưng Vương.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Công Đức Lực Sa La Vương.
Có chín mươi vị Phật đồng một hiệu là Vi Diệu Âm.
Có một vị Phật hiệu Viết Phạm Tăng.
Có một vị Phật hiệu Đề Đầu Lại Tra Vương.
Có một ngàn vị Phật đồng một hiệu là Liên Hoa Hương Trạch Xưng Tôn Vương.
Có sáu mươi vị Phật đồng một hiệu là Quang Minh Sí Chử Vương.
Có ba mươi vị Phật đồng một hiệu là Liên Hoa Hương Lực Tăng.
Có hai vị Phật đồng một hiệu là Vô Lượng Công Đức Đại Hải Trí Tăng.
Có một vị Phật hiệu Diêm Phù Âm.
Có một trăm lẻ hai vị Phật đồng một hiệu là Công Đức Sơn Tràng.
Có một vị Phật hiệu Sư Tử Tướng.
Có một trăm lẻ một vị Phật đồng một hiệu là Long Lôi Tôn Hoa Quang Minh Vương.
Có một vị Phật hiệu Thiện Thú Chủng Vô Ngã Cam Lộ Công Đức Vương Kiếp.
Có một ngàn vị Phật đồng một hiệu là Ly Pháp Trí Long Vương Giải Thoát Giác Thế giới Hải Nhãn Sơn Vương.
Các đức Phật trên đây đều có mười hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Các đức Phật này đồng thành Chánh Giác cùng một ngày một giờ, mỗi Ngài ở các thế giới đều sống đến mười trung kiếp. Các Ngài Niết Bàn cũng đồng một ngày. Bát Niết bàn xong, chánh pháp sau bảy ngày liền diệt.
Thiện nam tử! Khi ấy mười ngàn người hướng về Phật Bảo Tạng làm lễ. Đức Thế Tôn vì mười ngàn người thuyết kệ:
Long Vương hãy đứng
Bền vững tự tại
Nguyện tốt cao cả
Thanh tịnh hòa hiệp
Các khanh dụng ý
Nhanh như gíó mạnh
Siêng năng tu học
Sáu Ba la mật
Đời sau sẽ thành
Thầy của trời, người.
Thiện nam tử! Khi ấy mười ngàn người nghe bài kệ này xong, rất hoan hỷ, liền đứng dậy lạy Phật, ngồi cách chỗ Phật không xa để nghe pháp.
Thiện nam tử! Phạm chí Bảo Hải lại bạch với Vương tử Mật Tô thứ chín..., cho đến phát tâm cũng như trước. Bấy giờ, Vương tử ở trước Phật, bạch:
- Bạch đức Thế Tôn! Khi con tu hành đạo Bồ Tát, nguyện chư Phật ở các thế giới nhiều như cát sông Hằng trong mười phương sẽ làm chứng cho con, nay ở trước Phật phát tâm thành Chánh Giác.
- Bạch đức Thế Tôn! Con nguyện khi thực hành đạo Bồ Tát cho đến khi thành Phật, trong thời gian đó không sanh tâm hối hận, cho đến khi thành Phật, thường giữ nhất tâm không thối chuyển. Lời nói và việc làm như nhau, cho đến không có một người nào đến quấy rối tâm con. Con lại không cầu Thanh Văn, Duyên Giác, không khởi tâm dâm dục, tưởng ác. Tâm đó không tương ưng với kiêu ngạo, nghi ngờ, hối hận, v.v... Lại cũng không có tâm tham lam, dâm dục, sát sanh, trộm cướp, nói dối, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, nói thêu dệt, tham lam, sân hận, tà kiến, ganh ghét, kiêu mạn, khinh khi, lừa dối. Con tu hành đạo Bồ Tát cho đến khi thành Chánh Giác, trong khoảng giữa đó cũng không sanh các ác pháp như thế. Trong từng bước đi, tâm và tâm sở thường nghĩ nhớ đến chư Phật, được thấy chư Phật, thỉnh nhận diệu pháp, cúng dường chúng Tăng.
- Con sanh đến nơi nào cũng thường nguyện được xuất gia, ngay khi xuất gia liền được thành tựu ba y phấn tảo. Thường ở dưới gốc cây, ngôi một mình tư duy, ở chốn lan nhã, thường đi khất thực, không cầu mong lợi dưỡng, hành hạnh tri túc, thường giảng thuyết Chánh pháp, thành tựu vô lượng biện tài thông suốt, không phạm tội lớn, không dùng tướng của mình thuyết pháp cho người nữ. Nếu khi thuyết pháp, thường dùng tướng không, tâm thường nghĩ đến pháp không, chắp tay ngồi ngay ngắn, cũng không để lộ răng ra. Nếu có người học tập Đại thừa, thì đối với người đó có ý tưởng như Thế Tôn, cung kính cúng dường. Nghe người thuyết pháp cũng tưởng như được nghe Phật thuyết. Đối với các Sa môn, Bà la môn ấy sanh cung kính, cúng dường, tôn trọng. Trừ Phật Thế Tôn, đối với các chúng, khi làm việc bố thí chẳng sanh tâm phân biệt: đây là phước điền, đây không phải là phước điền.
- Nguyện con đối với pháp thí của người, không sanh tâm ganh ghét. Nếu có chúng sanh bị hình phạt phanh thây, nguyện cho con được xả thân mạng để cứu giúp chúng. Nếu có chúng sanh phạm các tội, nguyện cho con dùng năng lực, lời nói và tiền của mà cứu giúp họ, làm cho họ được giải thoát. Nếu có người tại gia, xuất gia có các tội lỗi, con nguyện không phơi bầy với người khác. Đối với các việc tiếng khen, lợi dưỡng, thường xa lìa như tránh hầm lửa, đao kiếm, cây độc.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu các nguyện như vậy của con cho đến khi thành Chánh Giác đều được thành tựu như hôm nay con đã phát nguyện ở trước Phật, thì khiến cho hai tay con tự nhiên có bánh xe trời một ngàn căm sáng chói như lửa cháy rực.
Thiện nam tử! Vương tử nói như vậy xong, trong hai tay của ông ngay khi đó có bánh xe một ngàn căm như đã nguyện.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện của con được thành tựu, bản thân con được lợi ích, thành Chánh Giác, con sai bánh xe một ngàn căm này sẽ phát tiếng vang lớn khắp cõi Phật như Nan Đà Long Vương, Ưu Ba Nan Đà Long Vương, phát âm thanh lớn đầy khắp thế giới. Âm thanh của bánh xe đó cũng như vậy. Đó là âm thanh thọ ký cho Bồ Tát. Âm thanh chánh niệm, trí tuệ, âm thanh tu học Không pháp, pháp tạng của chư Phật. Nếu có chúng sanh ở bất cứ nơi nào nghe pháp âm này, lập tức dứt trừ được tham dục, sân hận, ngu si, kiêu mạn, keo kiệt, tật đố và được an tịnh tư duy về trí tuệ sâu xa của chư Phật, phát tâm thành Chánh Giác.
Thiện nam tử! Khi ấy, Vương tử liền sai hai bánh xe đi nhanh như thần túc của chư Phật, bánh xe đó đến các thế giới ác không có Phật trong mười phương, vì các chúng sanh phát ra âm thanh thọ ký cho các Bồ Tát, phát ra âm thanh chẳng mất chánh niệm trí tuệ, phát ra âm thanh tu học pháp Không và pháp tạng của chư Phật đã có. Bất cứ ở đâu, các chúng sanh nào nghe được phát âm này thì lập tức diệt được tham dục, sân nhuế, ngu si, kiêu mạn, keo kiệt, tật đố và được yên tịnh tư duy về trí tuệ sâu xa của chư Phật, phát Bồ đề tâm thành Chánh Giác. Bánh xe đó, trở về ở trước mặt vương tử này trong thời gian rất ngắn.
Thiện nam tử! Bảo Tạng Như Lai khen Vương tử:
- Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông thực hành đạo Bồ Tát đã phát nguyện tốt đẹp, cao cả, sai bánh xe ngàn cân đến nơi các thế giới ngũ trược không có Phật, làm cho vô lượng vô biên a tăng kỳ ức trăm ngàn chúng sanh được tâm không còn uế trược, tâm không não hại và khuyến hóa họ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì thế nên đổi tên ông là A Súc, ở đời vị lai sẽ làm Thế Tôn. Ông nên ở với vô số sự trang nghiêm.
Bấy giờ, A Súc bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Theo ý nguyện của con là cõi Phật với các loại trang nghiêm như vậy, khiến cho thế giới của con đất toàn bằng vàng, bằng thẳng như bàn tay, có vô số diệu bảo của chư thiên đầy khắp trong cõi góc.... Đất ở đó mềm mại giống như thiên y, khi đi chân đạp lún sâu bốn tấc, dở chân lên đất trở lại bình thường, không có địa ngục, ngã quỷ, súc sanh cùng các thứ bất tịnh, nhơ nhớp, mà chỉ có hương thơm thanh cao vi diệu của chư thiên và hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la đầy khắp trong nước đó. Chúng sanh ở nơi đó không có già, bệnh, tất cả đều sống tự do, không sợ hãi nhau, không bao giờ gây hại người khác, không bị chết yểu. Khi sắp qua đời, tâm họ không hối hận, tâm ổn định không toán loạn, chỉ có suy nghĩ về Như Lai. Nếu qua đời thì họ không đọa đường ác, không sanh nơi ngũ trược, nơi không có Phật, cho đến thành Chánh Giác thường được thấy Phật, thỉnh thọ diệu pháp, cúng dường chúng Tăng. Chúng sanh nơi đó ít tham dâm, sân hận, ngu si, luôn thực hành mười điều lành. Thế giới ấy không có các thứ nghề nghiệp, không có tội phạm và tên về tội phạm. Cũng không có thiên ma cùng các việc trở ngại. Chúng sanh đều có những thân hình tốt đẹp, cũng không phân biệt lớn nhỏ, cao thấp. Tất cả chúng sanh hiểu rất sâu xa về không có ta và của ta. Cho đến trong mộng, các vị Thanh văn, Bồ Tát cũng không bị xuất bất tịnh. Chúng sanh thường ưa cầu pháp, nghe pháp, không có một người nào sanh kiến chấp điên đảo, cũng không có ngoại đạo. Chúng sanh không có thân tâm mỏi mệt, đều được năm pháp thần thông, không bị các nghiệp đói khát khổ não. Tùy theo sự ưa thích, liền có vô số vật dụng quý báu đựng đầy thức ăn tự nhiên ở nơi tay. Có vô số thức ăn giống như của chư thiên cõi dục. Không có các chất đờm dãi khạc nhổ, đại tiểu tiện, nước mắt dơ nhớp. Cũng không nóng, lạnh, thường có gió thơm mát mẻ chạm thân. Hơi gió thơm vi diệu này tỏa khắp cả trời người mà chẳng cần các loại hoa thơm khác. Gió thơm này tùy theo sự cầu mong lạnh ấm của chư thiên đều làm cho được thỏa mãn. Lại có người cầu gió thơm hoa Ưu bát la, gió hương hoa Ưu đà sa la, gió thơm trầm thủy, gió thơm đa già la, gió thơm a già la, vô số gió thơm theo sự mong cầu khi có ý muốn liền được đáp ứng, trừ hẳn cõi năm trược.
- Nguyện trong quốc độ của con có lầu bảy báu, trong lầu bảy báu đó có giường, tòa ngồi bằng bảy báu, nệm, chiếu, gối đỏ mịn màng, trơn láng, mềm mại như áo trời. Chúng sanh ở trong lầu báu này đều được vui vẻ với sàn tòa ấy. Bốn phía lầu ao nước tốt đẹp với nước có đầy đủ tám công đức, chúng sanh tùy ý lấy dùng. Quốc độ đó có nhiều cây đa la bằng vàng, vô số hương thơm, hoa quả, đầy đủ y báu thượng hạng, vô số lọng báu được trang trí bằng châu ngọc, anh lạc. Các chúng sanh, v.v... tùy theo ý thích mà lấy y phục báu đẹp ở ngay trên cây để dùng. Đối với hoa quả, hương thơm, v.v... cũng như trên.
- Bạch đức Thế Tôn! Nguyện cho cây Bồ Đề của con toàn bằng bảy báu, cao một ngàn do tuần, chu vi thân cây lớn rộng một do tuần , cành lá tỏa rộng một ngàn do tuần, thường có gió nhẹ thổi cây Bồ đề, cây liền phát ra âm thanh vi diệu về sáu Ba la mật, căn, lực, giác, đạo. Chúng sanh nào nghe âm thanh vi diệu này thì đều được xa lìa tâm dục.
- Nữ nhân nơi đó thành tựu tất cả các công đức vi diệu, giống như thiên nữ trên trời Đâu Suất, không có các việc: bất tịnh, nói chia rẽ, keo kiệt, ganh ghét, tâm che dấu... của phụ nữ. Không cùng giao hội với dàn ông có tâm hữu lậu. Những đàn ông nào sanh tâm dâm dục, đi đến chỗ người phụ nữ và nhìn họ bằng tâm luyến ái, thì ngay trong chốc lát bèn xa lìa tâm dục, phát sanh nhàm chán, lập tức trở lui, liền được Tam muội thanh tịnh. Do năng lực Tam muội đó nên đối với các sự trói buộc của các ma, được giải thoát, không còn sanh lại tâm ái dục. Người nữ cũng như vậy, khi thấy người nam mà có tâm ái dục, liền có thai và được xa lìa ý tưởng về dâm dục trong lúc mang thai; thân tâm của người nam hay nữ cũng không có các việc khổ não, hưởng thọ khoái lạc vi diệu như thân tâm của chư thiên trên cung trời Đao Lợi.
- Người nữ mang thai bảy ngày bảy đêm hưởng thọ an lạc cũng như Tỳ kheo vào đệ nhị thiền. Nam nữ ở trong thai không bị các thứ bất tịnh làm nhơ nhớp. Đủ hưởng thọ các an lạc với hương thơm vi diệu. Người nữ khi sanh cũng không có các đau đớn khổ cực, mẹ con cùng vào trong nước tắm rửa thân thể. Khi ấy, người nữ được chánh niệm, nhờ sức chánh niệm nên được Tam muội Ly dục thanh tịnh, nhờ sức Tam muội nên tâm thường định, được giải thoát khỏi các sự trói buộc của ma.
- Chúng sanh nào theo kết quả của nghiệp cũ nên trong vô lượng đời phải làm thân người nữ, do định lực nên được lìa thân nữ, cho đến khi đắc Niết Bàn. Tất cả nghiệp nữ vĩnh viễn diệt sạch không còn thọ trở lại.
- Chúng sanh nào từ nơi vô lượng ức kiếp, theo kết quả của nghiệp cũ nên phải chịu khổ não trong bào thai đến vô lượng kiếp, nguyện cho con thành Chánh Giác xong, họ nghe danh tự của con liền sanh hoan hỷ, hoan hỷ xong họ liền qua đời, ngay khi còn trong thai họ liền sanh về thế giới của con. Vừa sanh xong vĩnh viễn không còn thọ thai nữa, cho đến thành Chánh Giác.
- Chúng sanh nào có nhiều căn lành, liền được đến thế giới của con sanh trong hoa sen. Chúng sanh nào có ít căn lành phải ở trong thai, hoặc nhận thân người nữ mà được sanh trong cõi của con, thì sau đó mới được dứt hẳn việc sanh bằng thai. Các chúng sanh trong cõi của con đều được hưởng thọ khoái lạc vi diệu. Gió thổi nhẹ, cây Kim đa la này phát ra âm thanh vi diệu, đó là âm thanh khổ, không, vô ngã, vô thường, v.v.... Người nghe âm thanh này được Quang Minh Tam muội, nhờ sức Tam muội này Không định sâu xa. Thế giới không có âm thanh và hình tướng về dâm dục.
- Bạch đức Thế Tôn! Con ngồi dưới gốc cây Bồ đề, ngay trong một niệm thành Chánh Giác xong, nguyện cho thế giới của con không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng làm cho ngày đêm sai khác, trừ hoa nở khép. Con thành Chánh Giác xong sẽ đem ánh sáng chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, làm cho các chúng sanh đều được thiên nhãn, do thiên nhãn nên thấy được vô lượng vô biên thế giới của chư Phật trong mười phương, khắp nơi chư Phật Thế Tôn đều đang thuyết pháp.
- Bạch đức Thế Tôn! Con thành Chánh Giác xong, thuyết Chánh Pháp làm cho âm thanh ấy vang khắp ba ngàn đại thiên thế giới, chúng sanh nào nghe được liền được Niệm Phật Tam muội. Các chúng sanh đi - đứng - tới – lui về phía nào cũng được thấy con. Hoặc đối với các pháp có sự nghi ngờ vướng mắc, nhờ thấy con nên họ liền được hết nghi.
- Bạch đức Thế Tôn! Con thành Chánh Giác xong, vô lượng vô biên vô số thế giới chư Phật trong mười phương bất kỳ ở đâu có chúng sanh nào học Thanh Văn, học Duyên Giác, học Đại thừa mà nghe đến tên con thì khi qua đời liền sanh về thế giới của con được quả A La Hán với tám giải thoát. Người nào học Đại thừa, nghe pháp của con thi được hiểu sâu Pháp nhẫn Đà la ni cùng với các Tam muội, không thối chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, được bà con với vô lượng Thanh Văn , số đó vô biên không thể tính đếm, chỉ trừ chư Phật.
- Bạch đức Thế Tôn! Khi con đã thành Chánh Giác, bất ký nơi nào con bước đến, chỗ con cát hạ chân liền mọc lên hoa sen vàng ngàn cánh, hoa đó vi diệu, có ánh sáng lớn. Con sẽ sai hoa ấy đến chỗ không có Phật để khen ngợi danh hiệu con. Có chúng sanh nào nhờ hoa này mà được nghe , khen ngợi về danh hiệu con, liền sanh hoan hỷ, trồng các căn lành, muốn đến.
- Người xuất gia trong các đại chúng của con xa lìa dua nịnh, ghen ghét, gian trá, làm nhơ nhớp Sa Môn, tôn trọng chánh pháp. Đối với tiếng khen, lợi dưỡng, tâm không quý trọng, thường ưa khổ, không, vô thường, vô ngã, thường siêng năng tinh tấn tôn trọng pháp, quy y Tăng . Các Bồ Tát nào được Bất thối thì đều đắc Long Vũ Tam muội. Do năng lực Tam muội này nên thuyết Bát Nhã Ba la mật cho chúng sanh, làm cho lìa sanh tử, cho đến thành Phật. Trong khoảng thời gian đó, chúng sanh không quên hay bỏ mất những pháp đã được nghe.
- Bạch đức Thế Tôn! Con thành Phật xong, sống lâu ở đời mười ngàn đại kiếp. Sau khi Bát Niết Bàn, chánh pháp trụ thế đủ một ngàn kiếp.
Bấy giờ Như Lai khen ngợi A Súc:
- Lành thay! Lành Thay! Thiện nam tử, nay ông đã nhận thế giới thanh tịnh, ông ở đời sau trải qua vô số kiếp nhiều như số cát sông Hằng, vào vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng lần thứ hai, ở phương Đông cách đây mười ngàn thế giới Phật, có thế giới tên là Diệu Lạc, ở đó có đầy đủ các thứ trang nghiêm như ông đã nguyện. Ông ở nơi đó sẽ thành Chánh Giác, cũng hiệu A Súc Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Khi ấy, Bồ Tát A Súc bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu nguyện con thành tựu, bản thân con được lợi ích thì con sẽ giúp đỡ cho tất cả chúng sanh thuộc về ấm, giới, nhập ở trong thế gian đều được tâm từ, không tưởng oán tặc và các uế trược, thân tâm khoái lạc, giống như các Bồ Tát Thập trụ, v.v... ngồi trên hoa sen kiết già nhập định. Do năng lực của định đó khiến tâm không dơ bẩn, các chúng sanh ấy được thân tâm khoái lạc cũng như vậy. Nay con kính lạy Phật, cúi xin đất nơi đây có ánh sáng mầu vàng.
Thiện nam tử! Khi Bồ Tát A Súc đem đầu mặt kính lễ sát chân Phật, tức thì tất cả vô lượng chúng sanh thân tâm lập tức được hưởng thọ diệu lạc, đất ở đó cũng sáng chói mầu vàng.
Bấy giờ, Bảo Tạng Bồ Tát Như Lai vì Bồ Tát A Súc mà thuyết kệ rằng:
Tôn ý, đứng dậy
Nay ông làm cho
Tất cả chúng sanh
Tâm không giận dữ
Đối với chúng sanh
Sanh tâm đại bi
Hai tay đều được
Bánh xe ngàn căm
Tịnh ý tương lai
Làm Thiên nhân tôn.
Thiện nam tử! Nghe kệ xong, Bồ Tát A Súc rất vui mừng, liền đứng dậy lạy Phật, ngồi cách Phật không xa để nghe pháp.
Hết quyển thứ tư

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn