Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Thiền Sư Không Lộ, Đời thứ 09, Thiền Phái Vô Ngôn Thông 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺

11/09/202108:22(Xem: 1628)
Thiền Sư Không Lộ, Đời thứ 09, Thiền Phái Vô Ngôn Thông 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺



Thiền Sư Không Lộ, Đời thứ 09, Thiền Phái Vô Ngôn Thông
🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺


Thuyết giảng: Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Trình pháp: Cư Sĩ Quảng Tịnh Tâm, Cư Sĩ Huệ Hương
Diễn đọc: Cư Sĩ Diệu Danh
Lồng nhạc và online: Cư Sĩ Quảng Phước, Cư Sĩ Quảng Tịnh





Nam Mô A Di Đà Phật

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay cuối tuần thứ bảy, 11/9/2021, chúng con được học về Thiền Sư Không Lộ, đời thứ 9, Thiền Phái Vô Ngôn Thông, Sư phụ dựa theo tài liệu gốc Thiền Sư Việt Nam do HT Thích Thanh Từ biên soạn và ấn hành tại VN vào năm 1972. Pháp thoại hôm nay là bài giảng thứ 284 của Sư Phụ bắt đầu từ mùa cách ly do bệnh đại dịch covid 19 (đầu tháng 5-2020).

 

Sư họ Dương, không rõ tên thật là gì, quê ở làng Hải Thanh. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Sư theo Thiền sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

 

Sư phụ giải thích:

Sư Phụ nhắc lại sự khác biệt của tiểu sử của thiền sư Minh Không và thiền sư Không Lộ:

 -Thiền sư Minh Không họ Nguyễn ở Nam Định, thiền sư Không Lộ họ Dương ở Thái Bình.

- Thiền sư Không Lộ xuất thân trong gia đình làm nghề chài lưới, nhưng đến đời ngài, ngài quyết định từ bỏ vì do túc duyên nhiều đời nên bản thân ngài giúp khuyến hóa gia đình chấm dứt nghiệp sát sanh này.

 

Sư Phụ kể trường hợp của thiền sư Tư Nghiệp cũng giống hoàn cảnh của thiền sư Không Lộ. Ngài Tư nghiệp làm nghề đồ tể, khi ngài vừa cầm dao chuẩn bị thọc huyết con heo, ngài thoạt nhiên dừng lại và đọc 4 câu:

" Tạc nhật Dạ-xoa tâm
 Kim triêu Bồ-tát diện
 Bồ-tát dữ Dạ-xoa
 Bất cách nhất điều tuyến”.

 

Nghĩa là:


“Hôm qua tâm Dạ-xoa,
Ngày nay mặt Bồ Tát
Bồ-tát cùng Dạ-xoa
Không cách một sợi chỉ."

 

Ngài Tư Nghiệp vứt đao và chạy lên Chùa Văn Thù để xin xuất gia. Thiền Sư Đạo ở Chùa Văn Thù hỏi đệ tử “Trong lúc giết heo, ông thấy cái gì mà đòi đi xuất gia?” Ngài Tư Nghiệp im lặng không đáp nhưng đưa tay lên với tư thế như đang mài dao. Thiền Sư Đạo đã nhận làm đệ tử.

Sư Phụ giải thích, trường hợp Ngài Tu Nghiệp là “phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” có nghĩa là “buông dao xuống đất, ngay tại đó liền thành Phật”, thành Phật là vì ngài đã “hồi đầu thị ngạn”, quay đầu lại là bờ giác. Hôm qua ngài mài dao để sát sanh, hôm nay “lấy thể mài dao” là giết giặc phiền não.

Câu chuyện “hồi đầu thị ngạn” của Ngài Tu Nghiệp đã cho một tiếng vang lớn trong chốn thiền môn.

Sư Phụ cũng nhắc lại giai thoại “khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn” của thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng (là đệ tử đắc pháp của thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất). Lúc còn tại gia, ngài Thạch Cũng làm nghề săn bắn, không thích gặp các nhà tu. Một hôm, đi săn đuổi bầy nai chạy qua trước am của Mã Tổ, gặp Mã Tổ đứng trước am. Sư hỏi ngài Mã Tổ  
“ Hòa thượng thấy bầy nai chạy qua đây chăng? “

Ngài Mã Tổ hỏi lại:- Chú là người gì?
- Con là thợ săn.
- Chú bắn giỏi không?
- Con bắn giỏi.
- Một mũi tên chú bắn được mấy con?
- Một mũi bắn được một con.
- Chú bắn không giỏi.
- Hòa thượng bắn giỏi không?
- Ta bắn giỏi.
- Một mũi tên Hòa thượng bắn được mấy con?
- Một mũi tên ta bắn được một bầy.
- Sanh mạng chúng nó, đâu thể nào bắn một bầy.
- Chú biết như thế, tại sao không tự bắn?
- Nếu dạy con bắn như thế, không có chỗ hạ thủ.
- Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt.

Ngay câu nói này của Mã Tổ, ngài Thạch Củng ném cung bẻ tên, tự lấy dao cạo tóc, theo Mã Tổ xuất gia.



Thiền sư Không Lộ có túc duyên nên khi gặp Phật pháp khiến Sư bỏ nghề chài lưới của gia đình, xin xuất gia theo thiền sư Lôi Hà Trạch.

 Phong cách Sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng mắc vật chất thường tình, chỉ tinh chuyên Thiền định, trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình.

Sau khi đắc đạo, Sư có thể bay trên không, hoặc đi trên mặt nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục. Những pháp thuật thần bí của Sư không đo lường được.

Sư phụ giải thích:

Thiền sư Không Lộ có tính khắc kỷ, sống đơn giản, chuyên tu thiền định và đắc thần thông, giống như các thiền sư Minh Không, Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

 

Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lý Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng, thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang là nơi Sư trụ trì.

Tác phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn.


Bài Kệ Ngôn Hoài

Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Dịch:

Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả buổi tình quê những mảng vui.
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.

(Ngô Tất Tố)

Sư phụ giải thích:

Bài kệ Ngôn Hoài rất nổi tiếng, Sư bài tỏ nỗi lòng gởi vào từng lời thơ, dưới nhãn quan của thế gian thì cho là phong thủy.

Lựa nơi rồng rắn đất ưa người:

Sư Phụ giải thích: câu 1 của bài thơ này là ngài chỉ thẳng Phật tánh đang ẩn tàng trên tâm địa chúng sanh. Địa ở đây là chỉ tâm địa. Rồng là nơi cao quý, rắn là chỗ hạ tiện. Ngay nơi chỗ cao sang đã có sự nghèo khổ. Ngay trong phiền não (rắn) đã có mầm mống Bồ Đề (rồng). Ngay trong sanh tử đã có Niết Bàn. Trong dòng nước đục tìm được nước trong. Trong thân ngũ uẩn có đất tâm, ngay nơi thân này mà chấp nhận thực tại để chuyển hoá.

 

Câu 2: “Cả buổi tình quê những mảng vui”

Sư Phụ giải thích: “Dã tình” chỉ quê hương cội nguồn tâm linh, nơi yên tịnh, không ai  đến khuấy rối được, nơi đó chung nhật, suốt ngày đều ở trong trạng thái “an lạc” và “vô dư Niết Bàn”.

Câu 3: “ Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm”

Sư Phụ giải thích: Cô phong đảnh, đầu núi thẳm là nơi tận cùng, là chỗ đến của hành giả, là chỗ Bát Nhã Bát La Ma Mật, chỗ phía bên kia bờ


Câu 4: “Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời”.
Sư Phụ giải thích, tiếng sáo là tiếng vọng của chân tâm, tiếng nói của huyền diêu chân tâm, âm thanh của bậc giác ngộ lan vang vọng khắp trong không gian.

 

Thơ Ngư Nhàn

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.
Ngư ông thùy trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

Dịch:

Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,
Một làng dâu giá, một làng hơi.
Ông chài mê ngủ, không người gọi,
Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.

 

Sư phụ giải thích:

Ngư nhàn, ông già đánh cá nhàn rỗi, hình ảnh của ông ngư phủ ở quê hương của ngài.

Câu 1: “Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời”

Có nghĩa là: nơi nào có dòng sông chảy qua là nơi đó có ánh sáng mặt trời chiếu xuống, là biểu trưng khi tâm hành giả lắng yên thanh tịnh thì mặt trời trí tuệ sẽ chiếu tới.

Câu 2: “Một làng dâu giá, một làng hơi”.

Nơi làng trồng dâu, trồng giá bốc hơi lên, biểu trưng cho cảnh đẹp của làng quê lung linh kỳ ảo như bức tranh tỉnh mặc.Tâm người giác ngộ, thư thái tỉnh lặng thì cảnh nào cũng đẹp đẻ nên thơ, tâm như thì cảnh cũng như.

 

Câu 3: “ Ông chài mê ngủ, không người gọi”

Ông chài mê ngủ biểu trưng cho trạng thái mê muội trôi lăn trong sanh tử luân hồi.


Câu 4: “Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền”

Tỉnh giấc chỉ cho giác ngộ; màu tuyết trắng biểu trưng cho thanh tịnh như nhiên. Người đã giác ngộ thì không còn phiền não nhiễm ô vấy bẫn tâm trí nữa.

 

Thiền sư Không Lộ có công khai sơn chùa Nghiêm Quang: Chùa Nghiêm Quang đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị hủy hoại vì bão lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thường gọi là Chùa Keo.

 

Sư phụ giải thích: hiện tại ngôi chùa Keo (còn gọi là Thần Quang, Nghiêm Quang) do Thiền Sư Không Lộ khai sáng, mỗi năm đều có 2 lễ hội Xuân  (mồng 4 tháng Giêng âm lịch) và Hội Thu (ba ngày chính 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch). Lễ hội có nhiều hoạt động mang tính lịch sử, gắn liền với cuộc đời của thiền sư Không Lộ (thời Lý) như tế lễ, rước kiệu Thánh, múa lục cúng, hội thi bơi chải trên sông, thi kéo lửa nấu cơm, xôi, bánh… lễ hội đặc biệt này đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2017, trong dân gian Việt Nam có câu ca dao như sau về lễ hội này:

"Dù cho cha đánh mẹ treo

Em cũng chẳng bỏ chùa Keo hôm rằm

Dù cho cha đánh mẹ vằm

Em cũng chẳng bỏ hôm rằm chùa Keo."

 

Cuối bài giảng, Sư Phụ diễn ngâm bài thơ tán thán công hạnh của Thiền Sư Pháp Dung do Thầy Chúc Hiền sáng tán cúng dường Ngài:

 

Bỏ chài quy Phật hướng tu tâm

Thoát khổ sầu ưu thoát khổ trần

Chọn cảnh thanh u về tánh diệu

Xa bờ não chướng tỏ nguồn chân

Thần thông tự tại đi trên nước

Biến hoá thong dong lượn ở không

Cọp thấy cúi đầu rồng nép phục

Ngôn Hoài thiền kệ rạng tông phong…!

 

Kính bạch Sư Phụ, hôm nay chúng con được Sư Phụ ban giảng về Thiền Sư Không Lộ, Sư tuy xuất thân từ gia đình chuyên nghề chài lưới nhưng nhờ Sư bỏ nghề chài truyền thống, và tinh chuyên theo thiền định. Sau nhiều năm tu tập, Sư đắc đạo và đạt được pháp thuật thần bí. Sư để lại bài kệ Ngôn Hoài nói lên sự đạt ngộ chân tâm Phật tánh của Sư, và bài thơ Ngư Nhàn, biểu trưng trạng thái giải thoát như nhiên một màu trắng tỉnh lặng trùm khắp. 

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Cung kính và tri ơn Sư Phụ,

Đệ tử Quảng Tịnh Tâm

(Montréal, Canada).

 

 




284_TT Thich Nguyen Tang_Thien Su Khong Lo




Thiền Sư Không Lộ- Đời thứ 09, Thiền Phái Vô Ngôn Thông


Kính dâng Thầy bài trình pháp về Thiền Sư Không Lộ qua pháp thoại thứ 284 quá tuyệt vời vào sáng nay ...kính ngưỡng phục sự thâm uyên văn học và lịch sử Phật giáo của Thầy và con đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi thấy tất cả tư liệu được bàn luận từ nhiều năm nay đã được Thày gom nhặt và trình bày rõ ràng cho chúng đệ tử cùng các đạo hữu khi tham vấn lại về sự khác biệt giữa Quốc Sư Nhà Lý NGUYỄN MINH KHÔNG và Thiền Sư KHÔNG LỘ . Kính đảnh lễ Thầy và kính tri ân lòng từ bi của Thầy khi trao truyền Đạo Pháp và kính chúc Thầy pháp thể khinh an, HH


Dù cho Việt Nam Phật Giáo Sử Luân của HT Thích Nhất Hạnh có ghi rằng Thiền Sư Không Lộ và Quốc Sư Nguyễn Minh Không là một ( Theo khảo cứu của Nguyễn Lang thì tác giả Thiền uyển tập anh khởi thảo bởi thiền sư Thông Biện (?—1134) chuyển tiếp qua các thiền sư Biện Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi đến Ẩn Không (tức Na Ngạn đại sư) là người cuối cùng hoàn thành việc biên soạn vào khoảng cuối thời Lý. ) và như vậy khi biên soạn lúc   ấy chuyện về thiền sư Không Lộ cũng đã qua đi trên đưới 10 năm. 

Chỉ vì  trong hai tích sử Hai Ngài cùng chung một chi tiết là  cùng làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh....nhưng nếu ta so sánh năm thị tịch của Thiền Sư Không Lộ (1119) và năm sinh của Vua Lý Thần Tông (1116) thì chuyện chửa bịnh hoá hổ lúc vua lên ngôi (1128 -1138)  đã có thể cho chúng ta  một kết luận : 

1. Không Lộ là đạo hiệu có thật ở thời nhà Lý.

2. Không Lộ và Minh Không là hai người khác nhau. Không Lộ ở thế hệ trước cùng với Giác Hải và Từ Đạo Hạnh. Còn Minh Không ở thế hệ sau và là học trò của Từ Đạo Hạnh.

3. Nguyên nhân dẫn đến sự lầm lẫn giữa Không Lộ với Minh Không vì sự tích hai nhà sư này có những điểm tương tự như nhau:

a/ Cả hai người đều chữa bệnh cho vua nhà Lý. Không Lộ chữa bệnh sợ tiếng tắc kè kêu của Lý Nhân Tông (1072-1128), còn Minh Không chữa bệnh hóa hổ cho Lý Thần Tông (1128-1138).

b/ Minh Không cũng tu ở chùa Diên Phúc (sau đó là Viên Quang) nơi mà Không Lộ và Giác Hải trước đó đã từng tu.

Nhưng, trên thi đàn và văn hoá Phật giáo cho đến ngày nay thì thiền sư  Không Lộ là một vị thiền sư có định, có thần thông, có tuệ - đã  để lại hai bài thơ nổi tiếng, lời giản dị, văn phong thanh cao, thiền ý thâm sâu rất có giá trị văn học và thiền học.

Bài thơ thứ nhất:
“Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên

 Nhất thôn tang giá nhất thôn yên

 Ngư ông thùy trước vô nhân hoán

 Quá ngọ tình lai tuyết mãn thuyền!” 

Tạm dịch:
“Trời nước xanh xanh, muôn dặm liền 

Làng dâu lạnh giá, khói đông miên

Ông chài say ngủ, không ai gọi 

Trưa trợt, mây quang, tuyết ngập thuyền!”

Bài thơ Ngư nhàn này, ai cũng bảo đây là một điển hình thi pháp của nghệ thuật thiền tông. Nó không nói bằng những thuật ngữ Phật học dành cho lý trí suy nghiệm, không nói bằng tư duy khái niệm mệt mề khô rỗng - mà nói bằng tư duy hình tượng -những hình ảnh khói sương, những nét chấm phá trời, nước, mây thủy mặc( MĐTTA) 

bài thơ thứ hai sau đây - Ngôn hoài -

“Trạch đắc long xà địa khả cư 

Dã tình chung nhật lạc vô dư 

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh 

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”

Tạm dịch: 

“Thế đất rắn rồng chọn được nơi 

Tình quê chan chứa suốt ngày vui 

Có khi chót vót đầu non quạnh 

Một tiếng cười vang lạnh cả trời!” 

Hoặc: 

“Rắn rồng, chọn đất dễ ưa 

Tình quê vui thú sớm trưa chẳng rời  

Có khi đứng chót non vời 

Cất dài tiếng hú, đất trời lạnh băng!”

Bài thơ Ngôn hoài  này khó  có thể dịch bằng hiển ngữ rạch ròi. Cảm nhận thầm lặng. Cảm nhận và không thốt nên lời. Vì rằng đây là tiếng hú, tiếng cười trên đỉnh cô phong, đỉnh cô liêu của tuệ giác! Tiếng hú, tiếng cười ở biên cõi này vốn không có người hú, người cười! Chỉ có năng lực của sự giác ngộ tự nó bùng vỡ thành băng giá làm đông lạnh cả thiên nhiên ngoại vật.( MĐTTA) 



Nhìn tích sử năm thị tịch của Thiền Sư Không Lộ (1119) (1) 

Nguyên quán, truyền thống nghề nghiệp ...giúp phân biệt rõ ràng (2) 

Họ Nguyễn, họ Dương nhưng một  chi tiết khiến nhọc nhằn 

Cùng làm bạn với Thiền Sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh (3) 

Kính đa tạ Giảng Sư ...

" Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật "

Từ bỏ nghề chài ...tương tự chuyện nhà Thiền 

Thiền Sư Tư Nghiệp cùng Thạch Củng hẳn phải túc duyên ? (4) 

Đường đến Đạo  Quả ...Ngài Không Lộ quả thật đặc dị (5) 

Ngoài hành trạng nổi bật ...hai bài thơ thẩm sâu thiền ý (6) 

Kính ghi lời bình giải Ngôn Hoài ....văn phong rất thanh cao 

Qua nhiều cách phiên dịch rất khác nhau (7) 

Nhưng tựu chung đề cao Tuệ Giác người đạt Đạo 

  Lễ Chùa Keo...và cuộc thi kéo lửa "...thu hút đông đảo (8) 

Kính tán thán Giảng Sư ...hứa hẹn chuyến hành hương 

Sau đại dịch thăm viếng quê xưa mấy dặm trường 

Rong chơi miền tịnh độ nơi Tổ Sư Thiền từng hiện  diện ! 

Nam Mô Thiền Sư Không Lộ tác đại chứng minh 


Huệ Hương 

Melbourne 11/9/2021 



Chú thích : 

(1) Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lý Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng, thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang

 (2) 

Sư họ Dương, không rõ tên thực là gì, quê ở làng Hải Thanh. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), 

 Nếu so sánh thì Không Lộ họ Dương, Minh Không họ Nguyễn, Không Lộ huý là Minh Nghiêm. Minh Không huý là Chí Thành. Họ và tên đều khác nhau. Không Lộ quê ở phủ Hải Thanh, Minh Không quê ở Đàm Xá, quê quán cũng khác nhau. 

Không Lộ sinh năm Bính Thìn niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) triều Lý Thái Tổ. Minh Không sinh năm Bính Ngọ niên hiệu Long Chương Thiên Tự nguyên niên (1066) triều Lý Thánh Tông.  Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lý Nhân Tông, Không Lộ viên tịch Minh Không mất năm Tân Dậu, niên hiệu Đại Định thứ 2 (1141) triều Lý Anh Tôn

(3)

Sư theo Thiền sư  Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

(4) . câu chuyện thiền Sư Tư Nghiệp( nguyên là đồ tể giết heo , không hiểu vì sao một sáng khi đưa dao thọc heo bỗng nghiệm " Bồ Tát cùng Dạ Xoa tâm chỉ cách nhau một lằn chỉ " bèn  ném cái đao hàng thịt xuống, chạy lên chùa Thiền  Sư Đạo  xin sám hối và cầu được xuất gia " Sau đó được Thầy xoa đầu hứa khả vì vậy mới có câu thành ngữ ném cái đao hàng thịt xuống thành Phật ngay lập tức. 

Có nghĩa là Phút trước còn mê lầm, phạm sai lầm, như là làm nghề hàng ngày sát sinh, thế nhưng nếu phút sau, biết tận tình ăn năn hối lõi, giác ngộ, thì chỉ ném cái dao xuống đất là có thể chứng đạo. Như, cái nhà bị bóng tối bao phủ hàng trăm năm, hàng nghìn năm, nhưng nếu rọi đèn vào thì phút chốc trở nên sáng.

. Câu chuyện thiền sư Thạch Củng)

Lúc còn tại gia, Sư chuyên nghề săn bắn, không thích gặp các nhà tu. Một hôm, nhân đuổi bầy nai chạy qua trước am Mã Tổ, gặp Mã Tổ đứng trước.

Sư hỏi:- Hòa thượng thấy bầy nai chạy qua đây chăng? 

Mã Tổ hỏi lại:- Chú là người gì?

- Thợ săn.

- Chú bắn giỏi không?

- Bắn giỏi.

- Một mũi tên chú bắn được mấy con?

- Một mũi bắn được một con.

- Chú bắn không giỏi.

- Hòa thượng bắn giỏi không?

- Bắn giỏi.

- Một mũi tên Hòa thượng bắn được mấy con?

- Một mũi tên bắn được một bầy.

- Sanh mạng chúng nó, đâu nên bắn một bầy.

- Chú đã biết như thế, sao không tự bắn?

- Nếu dạy tôi bắn tức không có chỗ hạ thủ.

- Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt.

Ngay khi đó, Sư ném cung bẻ tên, tự lấy dao cạo tóc, theo Mã Tổ xuất gia.

(5) 

Phong cách Sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng mắc vật chất thường tình, chỉ tinh chuyên thiền định, trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình.

Sau khi đắc đạo, Sư có thể bay trên không, hoặc đi trên mặt nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục. Những pháp thuật thần bí của Sư không đo lường được.

(6) 

Ngoài hành trạng nổi bật như thế, Không Lộ còn để lại hai bài thơ nổi tiếng, tứ lời giản dị, văn phong thanh cao, thiền ý thâm sâu rất có giá trị văn học và thiền học.

Tác phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư  Nhàn.

Kệ Ngôn Hoài:

          Trạch đắc long xà địa khả cư,

          Dã tình chung nhật lạc vô dư.

          Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,

          Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Dịch: 

          Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,

          Cả buổi tình quê những mảng vui.

          Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,

          Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.

                                                  (Ngô Tất Tố)

Thơ Ngư Nhàn:

          Vạn lý thanh giang vạn lý thiên,

          Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.

          Ngư ông thùy trước vô nhân hoán,

          Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

HT Thích Thanh Tu Dịch:

          Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,

          Một làng dâu giá, một làng hơi.

          Ông chài mê ngủ, không người gọi,

          Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.

(7) 

Với bài thơ Ngôn hoài.HT Giới Đức có viết trong tạp chí Sông Hương SỐ 228 (THÁNG 2)Tiếng hú trên đỉnh cô phong 16:45 | 12/09/2008 như sau 

 Bài thơ Ngôn hoài vậy là khó có thể dịch bằng hiển ngữ rạch ròi. Cảm nhận thầm lặng. Cảm nhận và không thốt nên lời. Vì rằng đây là tiếng hú, tiếng cười trên đỉnh cô phong, đỉnh cô liêu của tuệ giác! Tiếng hú, tiếng cười ở biên cõi này vốn không có người hú, người cười! Chỉ có năng lực của sự giác ngộ tự nó bùng vỡ thành băng giá làm đông lạnh cả thiên nhiên ngoại vậ

Trạch đắc long xà địa khả cư...

( Rắn rồng chọn đất dễ ưa...)

Câu thơ đầu, trước đây có một số nhà nghiên cứu bảo là vị thiền sư này lựa tìm được một chỗ đất hợp với phong thuỷ - do hai chữ long xà! Xin thưa, tả thanh long, hữu bạch hổ; rồng xanh mà dài, hổ trắng mà cao mới là thế đất hợp với phong thủy - chứ không hề có xà nào ở đây cả! Phong thủy là các lực, các từ, các khí của ngoại giới thiên nhiên, chúng tương quan, tương tác với nhau mà ảnh hưởng, liên hệ đến con người là tiểu vũ trụ. 

Nói cách khác, phong thủy là các định luật tự nhiên của trời đất tác động đến sông núi, mùa tiết, muôn sinh và thảo mộc. Ở đây, nói đến phong thủy tác động đến nơi ở của con người: Ai thuận thiên (thuận với các định luật vũ trụ)thì còn, ai nghịch thiên thì mất! (thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong). Đối với khoa thiên văn, địa lý thì phong thủy quan trọng như vậy đấy. 

Nhưng đối với nhà Phật, nhà Thiền - chúng chỉ là ngoại duyên (thuận duyên, trợ duyên hoặc ngại duyên, chướng duyên) mà thôi. Duyên cũng có hai là nội duyên và ngoại duyên (theo Abhidharma – trong và ngoài tương tác có cả thảy 24 duyên). Duyên bên ngoàikhông quan trọng bằng duyên bên trong. Ngay cái duyên bên trong này cũng không quan trọng bằng nhân bên trong. 

Nói khái lược như vậy để biết rằng, người tu Phật, tu Thiền dẫu xem ngoại duyên là có thật – nhưng họ vẫn xem trọng nội nhân, nội duyên hơn. Bởi vì chính nội nhân, nội duyên này mới là cái gốc, cái bản căn, chúng duyên hệ với ngoại duyên mới sinh ra hữu vi, vô vi, khổ lạc, tham sân, si tuệ, trí bi, mê ngộ, sinh tử, Niết-bàn... Biết phong thủy, có thể mượn phong thủy – nhưng chưa bao giờ con cái nhà Phật xem phong thủy là yếu tố tích cực có thể quyết định số mạng, vận mạng con người (Định mệnh thuyết của Khổng Nho - cái tơ cái tóc cũng do trời định; tuy nhiên, nếu hiểu thiên - thiên lý, thiên mệnh - là những luật tắc của vũ trụ thì nó lại khác). 

Là một vị thiền sư uyên thâm, thông tuệ, chẳng lẽ nào những buồn vui, khổ lạc, trược thanh, mê ngộ của chính mình – Không Lộ lại nương nhờ vào cuộc đất do phong thủy (ngoại duyên) quyết định? Hóa ra, có lẽ do cả một thời đại chuộng huyền thuật, phép lạ - phong thủy lại đóng một vai trò quan trọng với mọi nhà, nên Không Lộ chỉ nói cười vui với thiên hạ rằng là, tui cũng tìm được cái chỗ đất có thể ở được, nó cũng có long, có xà như ai vậy. Xà – chính là nụ cười mỉm (vi tiếu), nụ cười nhỏ nhẻ của bậc thông đạt - do đã kinh qua tất cả thế trí, không nhạo báng ai mà chỉ muốn hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (hòa với ánh sáng, cùng với bụi bặm - Lão) một chút mà chơi thôi. 

Câu thơ thứ hai:

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Theo với sự liên tưởng ấy, dã tình phải là nơi u cư, nhưng u cư này không phải là nơi ở ẩn của những Nho gia bất đắc chí. Tôi đồng ý với anh Thúy - cả Nguyễn Khắc Phi - khi đã lựa chọn nghĩa u cư là tính ưa ẩn dật nhàn tản, cộng thêm với tính chất phóng khoáng theo cả hai nghĩa của Từ nguyên. Phát kiến ấy thật là tuyệt, đã giải mã được ngữ nghĩa mới lạ để mở mắt cho những học giả dốt mà ưa nói chữ. Đồng thời, mở hé được cánh cửa tâm linh, để cho những anh chàng trí thức một cục, một hòn, chủ quan, phiến diện bình giảng rằng là, kết hợp giữa niềm vui về hạnh phúc trần thế...; rằng là tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt với đất nước nông nghiệp thường được bắt đầu từ nguồn vui “thú quê” chung đó!? (Văn 10, NXB Giáo dục, 1991). Ở đây, tại văn cảnh này, ngữ cảnh này, tôi muốn tiếp với anh Thúy để nói thêm rằng, tính ưa ẩn dật nhàn tản, phóng khoáng kia cũng vẫn là của Khổng, của Lão chứ chưa phải là của Phật, của Thiền! 

Muốn nắm hết tâm yếu thiền - thiền Đông độ, thiền Zen hoặc cả thiền Vipassanā nguyên thủy - thì ẩn dật, nhàn tản, phóng khoáng đều chưa phải là thiền duyệt, niềm vui thầm lặng nội tâm (lạc về thiền, lạc về quả) của thiền gia! Ẩn dật là còn ngại trú xứ, ngại hồng trần! Nhàn tản là còn ngại công việc, ngại bận rộn. Phóng khoáng là còn ngại buộc ràng, ngại luật nghi!

Các vị thiền sư là những bậc đạt ngộ, do kinh nghiệm tâm linh tu chứng, họ thường vô ngại trước mọi chướng duyên. Ví dụ, có vị vô ngại trước vô thường biến đổi của cuộc đời: “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy” (Gẫm chuyện thịnh suy không sợ hãi - Vạn Hạnh). 

Có vị, càng chướng ngại chừng nào thì tâm tuệ càng sáng trong, càng cao đẹp chừng ấy: “Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận, liên phát lô trung thấp vị can” (Trên non ngọc đốt màu thêm nhuận, sen nở trong lò sắc chẳng phai - Ngộ Ấn).Có vị không cần hỏi gì cả, chỉ tin vào nắm tay quyền biến phương tiện của mình: “Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ, thùy tri phàm thánh dữ tây đông” (Trước mắt, nắm tay dùng việc lớn, biết chi phàm thánh với tây đông - Khánh Hỷ). 

Vậy, Không Lộ là một vị thiền sư có định, có thần thông, có tuệ - không lý nào lại còn ngại lắm chuyện tầm thường như thế. Có lẽ, do người ta chưa giải mã được câu thơ thứ hai này, nó nằm nơi chỗ “dã tình” và “lạc vô dư”. 

Nó là hai nghĩa đối sánh trong câu, bổ túc cho nhau để làm nên một tâm tuệ vẹn toàn. Dã tình là tình quê mùa thảo dã, tình thế gian, lạc vô dư là niềm vui vượt ngoài trần tục, niềm vui siêu thế. Vô dư – cái từ huyền mật, bí hiểm - mà từ xưa đến nay chưa ai diễn nghĩa đúng nên cứ rơi vào những niềm vui dung tục, tầm thường. 

Vô dư là thuật ngữ của Phật học (Hữu dư Niết-bàn, Vô dư Niết-bàn), có nghĩa là không còn dư sót bất kỳ một lậu hoặc phiền não nào dù thô hay tế - chỉ cái tâm, cái tuệ của bậc giải thoát! Lạc vô dư - chữ lạc này cũng không phải là khổ-lạc tương quan đối đãi nhau - mà phải là cái lạc siêu thế, ly thoát khổ-lạc (dukkha) tại thế. Nó tại thế gian mà vẫn xuất thế gian – đúng như câu kinh: Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch bồ đề, cáp như tầm thố giác. Tạm diễn nghĩa: Phật pháp ở thế gian, không thể rời thế gian để tầm cầu giác ngộ; ra khỏi thế gian mà tìm kiếm bồ-đề thì chẳng khác gì đi tìm sừng thỏ! Người học Phật có căn bản giáo pháp ai cũng hiểu điều tôi vừa nói.

Có nắm bắt được ngữ nghĩa tinh mật ấy, chúng ta mới với tới được câu thơ thứ ba, vì nó chính là sức bật của lạc vô dư ở câu hai:

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh...

(Có khi đứng chót non vời...)

Hữu thời - có thời - nhưng thời nào? Chính là thời của lạc vô dư, nó không còn hạn cuộc vào thời gian tại thế sinh diệt nữa. Chính ở đây mới hiển lộ được nghĩa của động từ trực thướng: Lên thẳng ngay, lên thẳng ngay tức khắc. Dưới núi trên núi là một. Bờ này bờ kia là tức khắc ở đây và bây giờ. Nó không còn lệ thuộc thời gian vật lý hay thời gian tâm lý phạm trù. Đây chính là sát-na kỳ ngộ chói lòa vĩnh cửu, mà người ta hay nói văn chương bóng bẩy rằng là cố quận, rằng là thiên thu... gì gì đó cũng được ráo trọi. Chính sự bừng nở ấy, trực thướng ấy, giây khắc ấy mới hội ngộ được với đỉnh cô liêu, đỉnh cô phong, đỉnh tuệ giác bất động tịch mịch của chính mình. Đúng như câu thơ của một thiền sư thi sĩ lãng đãng nào đó: “Bây giờ ta lại gặp ta; thiên thu, cố quận thiệt là hoát nhiên”.

Cảm hứng trầm hùng của tâm linh siêu thoát, do nhân và duyên ở ba câu đầu nên có lẽ, câu thứ tư, nó đọng lại, nó nén chặt lại - dồn tụ nội lực mà bùng vỡ ra:

 Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư!

(Cất dài tiếng hú đất trời lạnh băng!) 

Trường khiếu nhất thanh - một tiếng cười dài, một tiếng hét dài, một tiếng hú dài - mọi người thường dịch như thế. Và có lẽ họ dịch đúng, vì chính ở tại đỉnh cô phong ấy, tiếng cười của sự giác ngộ, của siêu thoát ấy mới làm lạnh cả hư không mênh mông, rộng lớn, dao động cả vũ trụ càn khôn! Tuy nhiên, khi viết đến ngang đây, một trực giác tâm linh xẹt đến, tôi bèn đi lục tra tất cả các từ, tự điển hiện có trong tay – thì chữ khiếu, ngoài nghĩa kêu lên, hô lên, la hét lên, lỗ hổng (như cửu khiếu), còn có nghĩa là năng lực hiểu biết, năng lực hiểu biết từ chỗ nào đó nó thoát ra. Tự dưng, tôi nổi cả da gà, lẽ nào nó vi diệu đến thế, bất khả tư nghị đến thế! Tôi rất dè dặt, thận trọng - cả chủ quan nữa - mà nói rằng, tại sao một vài ngữ nghĩa nằm ẩn trong một bài thơ đã ngàn năm qua, lại chưa ai phát hiện?

HT Thích Thanh Từ 

“Rắn rồng chọn đất dễ ưa,

Niềm quê lạc đạo sớm trưa nhẹ lòng,

Có khi chót vót cô phong,

Cười dài một tiếng hư không lạnh mình!”

  • Phan Vô dịch 

Kiểu đất long xà chọn được nơi
Tình quê nào chán suốt ngày vui
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.

  • bản dịch năm 2005 của GS. Nguyễn Bá Chung. ĐH Massachusetts:

Long xà một khoảnh đất an cư

Lâng lâng thôn dã thú vui dư

Đôi khi bước thẳng đầu non vắng

Hú một tiếng dài lạnh thái hư

kiểu đất long xà chọn được nơi 

Tình quê lai láng chẳng hề vơi
Có khi xông thẳng lên đầu núi

Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.

  • Minh Đức Triều Tâm Ảnh 

“Thế đất rắn rồng chọn được nơi 

Tình quê chan chứa suốt ngày vui 

Có khi chót vót đầu non quạnh 

Một tiếng cười vang lạnh cả trời!” 

Hoặc: 

“Rắn rồng, chọn đất dễ ưa 

Tình quê vui thú sớm trưa chẳng rời  

Có khi đứng chót non vời 

Cất dài tiếng hú, đất trời lạnh băng!

( 8)[Thiền sư Không Lộ trụ trì chùa Nghiêm Quangcofn được gọi là Chùa Kéo 

Chùa Nghiêm Quang đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị hủy hoại vì bão lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thường gọi là chùa Keo dưới.]là nơi Sư  trụ trì.

Cứ mỗi năm khi Xuân về, nhân dân trong tỉnh và du khách thập phương lại náo nức đi trẩy hội xuân chùa Keo vào ngày mồng 4 tháng Giêng để cầu mong cho một năm mới mưa thuận gió hòa, bình an tài lộc.nhưng độc đáo nhất là cuộc thì kéo lửa để  nấu cơm dâng đức thánh Dương Không Lộ.

i nhanh nhẹn , khỏe mạnh và khéo tay. “Người dân ở đây tin rằng, tham gia trò chơi cũng có nghĩa là được Đức Thánh Tổ ban lộc, sẽ có một năm thuận lợi trong công việc. 

" Dù cho cha đánh mẹ treo 

Em không bỏ hội chùa Keo năm nào " 

Như vậy ngoài   việc lễ Phật, lễ Thánh, du xuân tận hưởng không khí của đất trời và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của ngôi chùa cổ kính, việc tham gia vào những trò chơi dân gian tại nơi đây cũng tạo nên niềm cảm xúc vui tươi, tràn đầy hứng khởi để bắt đầu cho một năm mới với nhiều dự định.



facebook-1

***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/05/202110:18(Xem: 1677)
Thiền Sư Vô Văn Minh Thông (1480-1543) Tổ thứ 64 (tính từ Sơ Tổ Ca Diếp), Đời thứ 31 sau Lục Tổ Huệ Năng và cũng là Tổ thứ 27 của Thiền Phái Lâm Tế. Thời Pháp Thoại thứ 232 của TT Nguyên Tạng từ 6.45am, Thứ Ba, 11/05/2021 (27/03/Tân Sửu) 🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Cảm thọ khổ vui vốn bởi tâm Cớ sao vọng chấp hướng xa tầm Vô minh chướng ngại gương tròn sáng Hữu lậu đọa sa bọt sóng ngàn Mê ngộ thị phi đều chấp ngã Niết bàn sanh tử bởi sai lầm Thạch hương miếu dụ chân diện mục Tánh giác muôn đời vẫn thậm thâm. (Bài thơ tán thán công hạnh của Thiền Sư Vô Văn Minh Thông (1850-1543) của Hòa Thượng Hư Vân, do HT Minh Cảnh dịch Việt) 💐🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌼🌺🍀💐🌼 Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Sa
02/08/202115:52(Xem: 1647)
Tiếng chuông chùa vang lên để xoa dịu, vỗ về những tâm hồn lạc lõng, bơ vơ. Hồi chuông Thiên Mụ, mái chùa Vĩnh Nghiêm một thời chứa chan kỷ niệm. Đó là lời mở đầu trong băng nhạc Tiếng Chuông Chùa do Ca sĩ Thanh Thúy trình bày và ấn hành tại hải ngoại vào đầu thập niên 80. Thanh Thúy là ca sĩ hát nhạc vàng, đứng hàng đầu tại VN trước năm 1975. Cô là đệ tử của HT Nguyên Trí ở chùa Bát Nhã, California. Khi Thầy còn ở VN cuối thập niên 80 có đệ tử ở bên Mỹ đã gởi tặng Thầy băng nhạc Tiếng Chuông Chùa này. Hôm nay Thầy nói về chủ đề Tiếng Chuông Chùa, hay tiếng Chuông Đại Hồng Chung. Đại Hồng Chung là một cái chuông lớn được treo lên một cái giá gỗ đặt trong khuôn viên chùa hay trong Chánh điện. Hồng Chung là một pháp khí linh thiêng, là một biểu tượng đầy ý nghĩa của Phật giáo, nên chùa nào cũng phải có, lớn hay nhỏ tùy theo tầm cỡ của mỗi chùa. Hàng ngày Đại Hồng Chung được thỉnh lên vào buổi chiều tối, báo hiệu ngày
07/11/201100:30(Xem: 2324)
Mettâ-suttalà một bản kinh ngắn rất phổ biến trong các quốc gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy cũng như các quốc gia theo Phật Giáo Đại Thừa. Tên quen thuộc bằng tiếng Việt của bản kinh này là "Kinh Từ Bi" , thế nhưng chữ mettâtrong tiếng Pa-li không có nghĩa là từ bimà chỉ có nghĩa là lòng tốt, lòng từ tâm, lòng thương yêu. Các bản dịch sang các ngôn ngữ Tây phương thì mang tựa là: Discourse on Loving Kindness, Discourse on Good Will, Discourse on Friendliness, Discours sur la Bonté, Discours sur la Bonté Bienveillante, Discours sur l' Amour Bienveillant v.v...,tóm lại tất cả đều có nghĩa là Bài thuyết giảng vềLòng Tốt, Lòng Thiện Cảm, Tình Thương Yêu...
20/05/201912:09(Xem: 2148)
"Đại Kinh Xóm Ngựa" là bài kinh đức Thế Tôn giảng cho các vị Tỷ-kheo tại xã Assapura tức là xóm Ngựa nên gọi là "Kinh Xóm Ngựa". Bài kinh khá dài nên các Tổ xếp là "Đại Kinh"; chứ nội dung không hề đề cập gì đến loài ngựa. "Đại Kinh Xóm Ngựa" được ghi lại và sắp xếp trong Trung Bộ Kinh (Majjhiam Nikàya), số 39, phẩm "Đại Kinh Xóm Ngựa", do Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pàli sang Việt ngữ. Trong ba tháng An Cư Kiết Xuân - 2019, tại Thiền Viện Chân Như, Navasota tiểu bang Texas, chúng tôi được dịp học qua bài kinh này. Nay xin ghi lại để chia sẻ cùng quý Phật tử "Ý Nghĩa bài Kinh Xóm Ngựa" trong góc nhìn hạn hẹp của người học Thiền.
05/10/201910:01(Xem: 2465)
Bài kinh "Thanh Tịnh" là bài kinh ngắn, Đức Phật giảng cho các vị Tỷ-kheo khi Ngài còn tại thế. Bài kinh được ghi lại trong Kinh Tăng Chi Bộ, Chương 3, phẩm Đọa Xứ. Trước khi vào đề mục chính, chúng tôi giới thiệu khái quát về "Kinh Tăng Chi Bộ" này. Kinh Tăng Chi Bộ, tiếng Phạn là Anguttara Nikàya là bộ thứ Tư trong 5 bộ kinh tạng Pali: 1) Kinh Trường Bộ (Dìgha Nikàya): 3 tập gồm 34 bài kinh 2) Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikàya): 3 tập gồm 152 bài kinh. 3) Kinh Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikàya): 5 tập gồm 2,958 bài kinh. 4) Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya): 3 tập gồm 9,557 bài kinh 5) Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikàya): 15 tập.
26/09/202109:47(Xem: 1140)
Tin vào Ta tránh được Nghiệp ám ảnh ! Kính bạch Thầy sau khi nghe pháp thoại nhiều lần con đã hết bị ám ảnh về nghiệp số an bày, vì Ngài Giáo thọ Sư Sán Nhiên đã đưa ra những kinh nghiệm trong đời hoằng pháp và của người thân trong gia đình Sư giúp học nhân tự mình chuyển hoá nghiệp dần dần trong đời sống hàng ngày và tích lũy được cho ngày vị lai . Kính dâng Thầy bài thơ như những bài trình pháp . Kính chúc sức khỏe Thầy, HH
03/04/201319:36(Xem: 4895)
Kinh Tạp A Hàm là một trong tứ A Hàm. Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, năm trăm đại đệ tử kết tập kinh điển ở thành Diệp Quật, những kinh điển sau khi được thẩm định, mới chính thức trở thành chuẩn mực tu tập cho hàng Thánh chúng.
11/01/201222:52(Xem: 2577)
Như thật tôi nghe. Một thời đức Phật ngự tại Ngưu Đầu Chiên Đàn tinh xá thuộc thành Cứu Cáp cùng các vị đại Tỳ-khưu nhóm hội đầy đủ và Thiên long bát bộ cung kính vi nhiễu chiêm ngưỡng mà an trụ.
11/01/202108:39(Xem: 2175)
TÔN GIẢ A NA LUẬT, ĐỆ NHẤT THIÊN NHÃN (Mắt trời thấy suốt, không gì chướng ngại) 💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻 Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng: từ 6.45am, Thứ Hai, 31/08/2020 (13/07/Canh Tý) “Tôi sanh ra trong hoàng cung ánh sáng, Vương tộc Thích Ca, giòng họ của tôi. Anuruddha là tên, cuộc sống vui cười, Giữa nhung lụa và nhạc đời hầu hạ...”. Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Thiên Nhãn Đệ Nhất A Nậu Lâu Đà (A Na Luật) Tôn Giả 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼 Thời pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về 10 vị đại đệ tử Phật và chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam… 💐🌹🥀🌷🌷🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 https://www.facebook.com/quangducwebsite Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia)