Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sự thật về Khổ (duḥkha-satya)

19/02/201108:10(Xem: 3456)
Sự thật về Khổ (duḥkha-satya)

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

BỐNSỰ THẬT
(catur-vidhaṃsatyam)

Tứđế là pháp đầu tiên được đức Phật chuyển pháp luânnơi vườn Lộc dã cho năm người bạn cũ đã tu khổ hạnhtrước đó với Ngài, sau khi Ngài thành Vô thượng Chánh đẳngChánh giác. Tứ đế là giáo nghĩa cơ bản dùng để giảithích mọi hiện tượng nhân sinh vũ trụ được quy nạp từthập nhị nhân duyên, là con đường trung đạo duy nhất giảithoát sinh tử luân hồi, là những lời dạy đại cương trênđại thể của giáo nghĩa nguyên thỉ của đức Phật cho cảTiều thừa lẫn Đại thừa sau này.

Bốnsự thật đó là:

KHỔĐẾ (Dukkha-satya)
TẬPĐẾ(Samudaya-satya)
DIỆTĐẾ(Nirodha-satya)
ĐẠOĐẾ(Marga-satya)

I- SỰ THẬT VỀ KHỔ (duḥkha-satya):

ĐứcPhật đã căn cứ vào những hiện tượng duyên khởi-hiệnhữu-vô thường-biến dịch của nhân sinh và vũ trụ mà xácnhận rằng thế gian là giả tạm, bất toàn, trống rỗng,là Dukkha. Ngay đến những trạng thái mà người đời cho rằnghạnh phúc an vui cũng luôn bị luật vô thường chi phối nênchúng chỉ là những trạng thái có được giả tạm khôngthật hữu, nên chúng cũng thuộc về Dukkha. Do đó, Dukkha baogồm tất cả mọi ý nghĩa được quan niệm có được phátxuất từ ba phương diện: Khổ-khổ (Dukkha-dukkha), hoại-khổ(viparināma-dukkha), và hành-khổ (samkhāra-dukkha).

a)Khổ-khổ chỉ cho những trạng thái khổ não bức bách thântâm phát xuất từ sanh-lão-bệnh-tử và khi tiếp xúc vớinhững liên hệ duyên khởi đối với mọi hoàn cảnh sốngchung quanh chúng ta phát sanh ra những thứ tình cảm buồn-đaucủa nghịch ý (oán tắng hội); và phải lìa xa những ngườichúng ta thương yêu quí mến và những hoàn cảnh yêu thíchcủa ta (ái biệt ly); cùng những gì mà chúng ta mong muốn đạtđược nhưng chúng không thuận tình với mong ước của chúngta (cầu bất đắc); và tất cả những đau khổ về thể xáccũng như tinh thần khi năm ấm chúng không điều hòa được,sinh ra xung đột (ngũ ấm xí thạnh). Những thứ đau đớnkhổ sở này phát xuất từ tám thứ khổ mà bất cứ ai trongchúng ta cũng có thể nhận rõ bộ mặt thật của chúng làdukkha cả. Dukkha ở đây thuộc nghĩa khổ thông thường, nóchính là khổ-khổ.

b)Hoại-khổ là cái khổ phát xuất từ trạng thái tâm lý cảnhững cảm giác hoan lạc, hạnh phúc nào đó đã được chúngta kinh qua nhưng những trạng thái cảm giác hoan lạc, hạnhphúc vui sướng này chúng không trường cửu và thực hữunhư ý muốn của chúng ta. Chúng sẽ qua đi và bị thay đổibởi luật vô thường. “Trong Kinh Tăng chi bộ (Anguttara-nikàya),một trong năm tạng kinh nguyên thỉ bằng tiếng Pali, chứađựng những bài thuyết pháp của đức Phật, có những bảngkê những hạnh phúc (sukkàni), như hạnh phúc của cuộc đờiẩn sĩ và hạnh phúc của cuộc sống gia đình, hạnh phúccủa khoái lạc giác quan và hạnh phúc của sự từ bỏ thếtục, hạnh phúc của sự ràng buộc và hạnh phúc của sựgiải thoát, hạnh phúc vật lý và hạnh phúc tâm linh v.v…[1]Nhưng tất cả những điều này đều bao gồm trong dukkha. Cảđến những cảnh giới tâm linh rất thuần khiết của thiền(dhyàna - suy tư, tĩnh lự), đạt được nhờ thực hành Thiềnquán, hoàn toàn thoát khỏi cả đến bóng dáng của khổ đautheo nghĩa thông thường, những cảnh giới có thể gọi làhạnh phúc thuần túy cũng như cảnh giới thiền đã vượtkhỏi những cảm giác vừa lạc (sukkha), vừa khổ (dukkha),và chỉ còn là thức thuần tịnh - cả đến những cảnh giớitâm linh rất cao siêu đó, cũng được bao hàm trong dukkha. Trongmột quyển Kinh của bộ Majjhima-nikàya (cũng thuộc một trongnăm tạng nguyên thỉ), sau khi ca tụng hạnh phúc tâm linh củanhững cảnh thiền ấy, đức Phật dạy rằng “chúng đềulà vô thường, khổ (dukkha), và phải chịu đổi thay (aniccàdukkhà viparimàmadhammà)”. Theo đức Phật, như vậy nhữnggì đổi thay, biến đổi, nó phát sinh ra mọi đau khổ vàbất hạnh đối với chúng ta, cho dù đó là những cảnh giớihạnh phúc chúng ta đạt được của Thiền định tối caođi nữa, chúng vẫn bị lệ thuộc vào vô thường và mang mầmmống của dukkha, vì chúng còn nằm trong vòng cảnh giới đượcthủ đắc bởi chúng ta, huống chi là những cảm giác khoáilạc, hạnh phúc tình thường của thế gian, hay những cảmgiác đau khổ khác mà chúng ta gánh chịu trong cuộc sống.Dukkha ở đây thuộc về nghĩa hoại-khổ.

Đólà hai hình thức dukkha (khổ) mà mỗi người trong chúng taai cũng có thể hiểu được và không một ai có thể chốicãi rằng chúng không phải dukkha thông thường hằng ngày chúngta kinh nghiệm đối với sự thật khổ thứ nhất.

c)Hành-khổ, đây là hình thức quan trọng nhất đối với khíacạnh triết lý trong sự thật thứ nhất. Theo đức Phật chữ“hành” ở đây chỉ cho năm tích hợp (ngũ uẩn) cho ra một“thực thể”, một “cá thể”, hay “ngã”. Như vậy cáimà chúng ta gọi là thực thể, cá thể, hay bản ngã chínhlà sự phối hợp các năng lực của tâm vật lý được gọilà ngũ uẩn (pañcakkhandha) này, đức Phật cho là dukkha. NhưSamkhittena pancupàdànakkhandhà dukkhà đức Phật dạy: “Tómlại, năm uẩn trói buộc là dukkha.” Và có nơi đức Phậtlại định nghĩa một cách rõ ràng: “Dukkha là gì? Phải nóirằng đấy là ngũ uẩn.” Qua những lời dạy của đức Phậtcho chúng ta hiểu một cách rõ ràng rằng năm hành uẩn chínhlà dukkha, và ngược lại dukkha chính là năm hành uẩn, chúngkhông phải là hai cũng không phải là khác. Như vậy, dukkhaở đây chính là hành-khổ. Muốn hiểu rõ ràng và tườngtận về hành-khổ thì bắt buộc chúng ta phải thấu hiểuvề năm hành uẩn phối hợp cấu tạo ra cái mà chúng ta gọilà bản ngã, cái tôi hay thực thể như thế nào? Và năm uẩnlà gì?

Dướiđây là năm uẩn:

1/Sắc uẩn

2/Thọ uẩn

3/Tưởng uẩn

4/Hành uẩn

5/Thức uẩn.

1.Sắc uẩn:

(Skrt:rūpa-skandha, Pāli: rūpakkhandha). Uẩn thứ nhất là chỉ chothế giới vật thể có thể thấy được, rờ mó động chạmđược thuộc về ngoại giới hay có thể hình dung đượcqua ký ức những hình ảnh còn tồn đọng rơi rớt lại trongnội tâm, và còn có một vài quan điểm ý nghĩ hay tư tưởngở trong phạm vi là những đối tượng của ý. Chúng bao gồmbốn đại là: đất, nước, lửa, gió, (địa, thủy, hỏa,phong) và những chất do từ bốn đại tạo ra. Trong nhữngsắc chất do từ bốn đại tạo ra nầy gồm có năm căn (mắt,tai, mũi, lưỡi, thân) khi tiếp xúc với những đối tượngngoại giới tương đương với năm căn chính là năm cảnh(hình sắc, âm thinh, mùi, vị), những vật có thể động chạmkhi tiếp xúc (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Tất cả thế giớivật thể, thuộc nội tâm cũng như ngoại giới như vậy, chúngđều được xếp vào trong sắc uẩn.

Sắcuẩn được quan niệm như vậy, không những chỉ cho thế giớivật chất, chúng ta có thể nhận thấy qua những hình ảnhbằng mắt, bằng xúc chạm đối với thế giới bên ngoài,mà còn mang những hình ảnh biểu tượng cho đối tượng củatâm thức qua ký ức nữa. Những hình sắc biểu tượng nàytheo đức Phật dạy trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1,Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạycác Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh về sắcuẩn một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối vớisắc không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dụcthì không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát,thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh,chết. Tỳ-kheo nào đối với sắc mà yêu thích, thì đốivới khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với sắc, khôngbiết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thìsẽ không vượt qua khỏi - sự sợ hãi về sanh, già, bệnh,chết. Tỳ-kheo nào yêu thích sắc, thì cũng yêu thích khổ.Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát.Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I,phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo,sắc quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là sắc hiệntại. Sắc là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tứclà chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phảisở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chânthật chánh quán. Hay sắc là vô thường. Vô thường tức làkhổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thìcũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát nhưvậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc sắc là vô thường.Nhân và duyên sanh ra các sắc, chúng cũng vô thường. Vậy,các sắc được sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm saocó thể là thường được? Hay sắc là vô thường. Nhân vàduyên sanh ra các sắc chúng cũng vô thường. Vậy, các sắcđược sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể làthường được? Đó chính là những lời dạy của đức Phậtcho các Tỳ-kheo về sắc uẩn, qua đây sắc uẩn chính là đốitượng của quan sát và xúc chạm khi năm giác quan tiếp xúcvới năm trần cảnh bên ngoài như là chính nó, chưa mang lạicho chúng ta tác ý hay phân biệt nào thì những hình ảnh biểutượng này, chúng chỉ là những huyễn tướng, chúng mang tínhchất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng taquan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy,và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thìbuộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính làvô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính làkhổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộcthì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chếttrong quá khứ, hiện tại và tương lai.

2.Thọ uẩn:

(Skt:vedanā-skandha, Pāli: vedanàkkhandha). Uẩn thứ hai là chỉ chocảm giác. Trong uẩn này bao gồm tất cả những cảm giácvui, khổ, hoặc không vui không khổ, cảm giác được sinh ratừ cảm nhận do sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý(6 căn) với thế giới bên ngoài (6 cảnh). Những cảm giácnày có 6 loại: những cảm giác phát sinh khi mắt xúc tiếpvới những hình sắc, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡivới vị, thân thể với những vật cứng mềm, và ý (mà trongtriết học Phật giáo được xem là quan năng thứ sáu) vớinhững đối tượng của ý thức như tư tưởng, ý nghĩ. Tấtcả mọi cảm giác vật lý và tâm lý của ta đều bao hàmtrong uẩn này.

Thọuẩn được quan niệm như vậy, không những chỉ cho cảm giáccó được về thế giới vật chất, chúng ta có thể nhậnbiết qua những trung gian bằng mắt... bằng xúc chạm đốivới thế giới bên ngoài nhờ có tác ý, mà còn mang lại nhữngcảm giác đó trở thành đối tượng của tâm thức qua kýức nữa. Và những cảm giác này theo đức Phật dạy trongkinh Tạp A-hàm q.1, Đ. 1, phẩm I, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từkinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quánsát và tư duy chân chánh về cảm giác (thọ uẩn) một cáchrõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác khôngbiết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục thì không thểđoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát, thì không vượtqua khởi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nàođối với cảm giác mà yêu thích, thì đối với khổ cũngyêu thích. Tỳ-kheo nào đối với cảm giác, không biết, khôngrõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ khôngvượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheonào yêu thích cảm giác, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thíchkhổ thì đối với khổ không được giải thoát. Và cũngtrong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I, phần Ngũuẩn, từ kinh 8 - 12 đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo, cảmgiác quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là cảm giáchiện tại. Cảm giác là vô thường. Vô thường tức là khổ.Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũngchẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậygọi là chân thật chánh quán. Hay cảm giác là vô thường.Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cáigì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheonào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặccảm giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các cảm giác,chúng cũng vô thường. Vậy, các cảm giác được sanh ra từnhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được?Hay cảm giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các cảmgiác chúng cũng vô thường. Vậy, các cảm giác được sanhtừ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được?Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheovề thọ uẩn, qua đây, thọ uẩn chính là những cảm giácvui, khổ, hoặc không vui không khổ, cảm giác được sinh ratừ cảm nhận do sự tiếp xúc giữa những cảm quan vật lý(6 căn) với thế giới bên ngoài (6 cảnh), sinh ra bởi sựtác ý của ý thức mà có được. Những cảm giác này chúngcũng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải đượcchúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng nhưvậy, và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậyrồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúngchính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúngchính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổtrói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìasinh-già-bệnh-chết trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

3.Tưởng uẩn:

(Skt:saṃjñā-skandha, Pāli: sannàkkhandha). Chỉ cho tri giác, cũngnhư “thọ uẩn”, “tưởng uẩn” (tri giác) cũng bao gồmsáu căn bên trong và sáu cảnh bên ngoài. Cũng như những cảmgiác (thọ), “tri giác” được phát sinh do sự tiếp xúcgiữa sáu căn nội giới với sáu trần (cảnh) ngoại giới.Chính những tri giác nầy, nhận biết sự vật là vật lýhay tâm linh. Tưởng uẩn được quan niệm như vậy, cũng nhưcảm giác, tri giác có được về thế giới vật chất, chúngta có thể nhận biết qua những trung gian bằng mắt... bằngxúc chạm đối với thế giới bên ngoài, không những chỉcó tác ý thôi mà cộng thêm vào phân biệt nữa và còn mangnhững tri giác đó trở thành đối tượng của tâm thức quaký ức nữa như thọ uẩn. Và những tri giác này theo đứcPhật dạy trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương ưngI, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheolà hãy quán sát và tư duy chân chánh về tri giác (tưởng uẩn)một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheo nào đối với trigiác không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dụcthì không thể đoạn trừ khổ não; tâm không giải thoát,thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh,chết. Tỳ-kheo nào đối với tri giác mà yêu thích, thì đốivới khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với tri giác, khôngbiết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát thìsẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh,chết. Tỳ-kheo nào yêu thích tri giác, thì cũng yêu thích khổ.Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát.Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 2, Tương ưng I,phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo,tri giác quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là tri giáchiện tại. Tri giác là vô thường. Vô thường tức là khổ.Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũngchẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậygọi là chân thật chánh quán. Hay tri giác là vô thường. Vôthường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gìchẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheonào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặctri giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các tri giác, chúngcũng vô thường. Vậy, các tri giác được sanh ra từ nhânvà duyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Haytri giác là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các tri giác chúngcũng vô thường. Vậy, các tri giác được sanh từ nhân vàduyên vô thường, làm sao có thể là thường được? Đó chínhlà những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheo về tưởnguẩn, qua đây tưởng uẩn chính là những tri giác biết phânbiệt đối với nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linhvui hay, khổ, hoặc không vui không khổ đối với mọi sựvật chung quanh chúng ta: nào tốt xấu, đúng sai, thành bạiv.v... tri giác được sinh ra từ cảm nhận do sự tiếp xúcgiữa những cảm quan vật lý (6 căn) với thế giới bên ngoài(6 cảnh) sinh ra bởi sự tác ý và phân biệt của ý thứcmà có được. Những tri giác này chúng cũng mang tính chấtvô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sátvà tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khichúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúngta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường,khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc,nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìachúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết trongquá khứ, hiện tại và tương lai.

4.Hành uẩn:

(Skt:vijñāna-skandha, Pāli: samkhàrakkhandha). Uẩn thứ tư là chỉcho những sự tạo tác của tâm thức hay các hoạt động củaý chí, gồm xấu hay tốt. Những tác nhân do tâm ý tạo rathuộc nội tâm thì thường được gọi là nghiệp, chúng thuộcvào uẩn nầy. Như chính đức Phật đã định nghĩa về nghiệpnhư sau: “Hỡi các Tỳ Kheo, chính ý muốn ta gọi là nghiệp.Khi đã muốn, thì người ta liền thực hành bằng thân, miệng,ý. Ý muốn là sự tạo tác bằng tâm ý, hoạt động tâm linh.Công việc của nó là dắt dẫn tâm ý trong phạm vi nhữnghoạt động xấu, tốt hoặc không xấu không tốt” (trang19, sđd). Cũng như cảm giác (thọ) hay tri giác (tưởng), hànhcũng gồm sáu loại, tương quan với lục căn (sáu quan năngnội giới) và sáu cảnh (6 đối tượng ngoại giới tươngứng) cho cả vật lý và tâm lý. Ở đây, cảm giác và trigiác không phải là những hoạt động ý chí, vì chúng khôngphát sinh những nghiệp quả, chỉ có những hoạt động doý chí mới phát sinh nghiệp quả. Có tất cả 52 tâm sở (nhữnghoạt động tâm ý) như thế, tạo nên hành uẩn.

Hànhuẩn ở đây được quan niệm như là những hoạt động củaý chí vậy. Cũng như cảm giác, tri giác, ý chí có đượcvề thế giới vật chất, chúng ta có thể nhận biết qua nhữngtrung gian bằng mắt... bằng xúc chạm đối với thế giớibên ngoài, không những chỉ có tác ý thôi mà còn cộng thêmvào phân biệt nữa và còn mang những tri giác đó trở thànhđối tượng của tâm thức qua ký ức nữa như thọ uẩn,tưởng uẩn. Nhưng ở đây, ý chí khác với cảm giác và trigiác ở chỗ: cảm giác và tri giác không phát sinh ra nhữngnghiệp quả, còn hoạt động của ý chí phát sinh ra nghiệpquả. Và những ý chí này theo đức Phật dạy trong kinh TạpA-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm 1, Tương ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đếnkinh 7, đức Phật dạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tưduy chân chánh về ý chí (hành uẩn) một cách rõ ràng là vôthường. Tỳ-kheo nào đối với ý chí không biết, không rõ,không đoạn tận, không ly dục thì không thể đoạn trừ khổnão; tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợhãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối với ý chímà yêu thích, thì đối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nàođối với ý chí, không biết, không rõ, không lìa tham dục,tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi sự sợhãi về sanh, già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào yêu thích ý chí,thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổkhông được giải thoát. Và cũng trong kinh Tạp A-hàm q.1, Đ.1,phẩm 2, Tương Ưng I, phần Ngũ uẩn, từ kinh 8 – 12, đứcPhật cũng dạy các Tỳ-kheo, ý chí quá khứ, vị lai là vôthường huống chi là ý chí hiện tại. Ý chí là vô thường.Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cáigì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheonào quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán. Hay ýchí là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức làchẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phảisở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chânthật chánh quán. Hoặc ý chí là vô thường. Nhân và duyênsanh ra các ý chí, chúng cũng vô thường. Vậy, các ý chí đượcsanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thườngđược? Hay ý chí là vô thường. Nhân và duyên sanh ra cácý chí chúng cũng vô thường. Vậy, các ý chí được sanh từnhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường được?Đó chính là những lời dạy của đức Phật cho các Tỳ-kheovề hành uẩn, qua đây hành uẩn chính là những ý chí. Ýchí này chính là ý muốn, là sự tạo tác bằng tâm ý, nóichung đó là hoạt động tâm linh. Công việc của nó là dắtdẫn tâm ý trong phạm vi những hoạt động xấu, tốt hoặckhông xấu không tốt. Những ý chí tạo ra nghiệp này chúngcũng mang tính chất vô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải đượcchúng ta quan sát và tư duy một cách chân chánh về chúng nhưvậy, và sau khi chúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậyrồi thì buộc chúng ta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúngchính là vô thường, khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúngchính là khổ trói buộc, nên chúng ta muốn giải thoát khổtrói buộc thì phải xa lìa chúng. Xa lìa chúng chính là xa lìasinh-già-bệnh-chết trong quá khứ hiện tại và tương lai.

5.Thức uẩn:

(Skt:vijñāna-skandha, Pāli: vinnànakhandha). Uẩn thứ năm là thức,là một phản ứng có căn bản, phát xuất từ sự phối hợpgiữa sáu căn và sáu cảnh để có được sáu thức, là mộttrong sáu giác quan, và đối tượng tương ứng của một trongsáu giác quan là một trong sáu hiện tượng ngoại giới. Chẳnghạn, nhãn thức có được nhờ con mắt tiếp xúc với mộthình sắc thấy được làm đối tượng... và cho đến ý thứccó được là nhờ có tâm ý làm căn bản, một sự vật thuộctâm giới, như một ý niệm hay tư tưởng (pháp), làm đốitượng, để phát sinh ra sáu thức. Như vậy, thức liên quanvới những quan năng khác và cũng như thọ, tưởng, hành, thứcgồm sáu loại tương quan với sáu căn và sáu cảnh.

Nhưvậy rõ ràng thức không nhận ra một đối tượng là gì chỉvì thức ở đây chưa qua tác ý, chỉ là một thứ rõ biếtvề sự hiện diện của một đối tượng mà thôi. Như khimắt xúc tiếp với một màu xanh chẳng hạn, nhãn thức liềnphát sinh, nhưng chỉ là một sự ý thức về sự hiện diệncủa màu sắc, chứ không nhận ra đấy là màu xanh. Ở đoạnnày chỉ xuất hiện có thấy đối tượng như là chính nó,chứ chưa qua tác ý nhận thức là gì, tức là không có sựnhận thức. Chỉ khi nào có sự can thiệp của tri giác mớinhận ra rằng đấy là màu xanh. Vậy “nhãn thức” là mộttừngữ triết học ám chỉ cùng một ý như chữ thấy, nghe, ngửimùi, nếm vị, xúc chạm, ý, thông thường. Thấy không cónghĩa nhận biết. Các loại khác của thức (nhĩ thức, tỷthức, thiệt thức, thân thức) cũng vậy. Như đức Phật đãdạy cho một vị đệ tử tên là Sāti (What the Buddha Taught,by Ven. Walpola Rahula (1959, 1974) Thích nữ Trí Hải dịch Saigon1966 - trang 20): “Thức được gọi tên tùy theo bất cứ điềukiện đối tượng nào nhờ đấy nó phát khởi: nhờ con mắtvà những hình dáng mà một thức phát sinh, và nó được gọilà nhãn thức; nhờ tai và âm thanh mà một thức phát sinh vànó được gọi là nhĩ thức; nhờ mũi và mùi mà một thứcphát sinh và nó được gọi là tỷ thức; nhờ lưỡi và vịmà một thức phát sinh và nó được gọi là thiệt thức;nhờ thân thể và những sự vật sờ mó được mà một thứcphát sinh và nó được gọi là thân thức; nhờ tâm ý và nhữngđối tượng tâm giới (tư tưởng hoặc ý nghĩ) mà một thứcphát sinh, và nó được gọi là ý thức.” Và những thứcnày theo đức Phật dạy trong Kinh Tạp A-hàm q. 1, Đ. 1, phẩm1, Tương Ưng I, Ngũ uẩn. Từ kinh 1 đến kinh 7, đức Phậtdạy các Tỳ-kheo là hãy quán sát và tư duy chân chánh vềthức (thức uẩn) một cách rõ ràng là vô thường. Tỳ-kheonào đối với ý chí không biết, không rõ, không đoạn tận,không ly dục thì không thể đoạn trừ khổ não; tâm khônggiải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh,già, bệnh, chết. Tỳ-kheo nào đối ý chí mà yêu thích, thìđối với khổ cũng yêu thích. Tỳ-kheo nào đối với thức,không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoátthì sẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh,chết. Tỳ-kheo nào yêu thích thức, thì cũng yêu thích khổ.Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được giải thoát.Và cũng trong Kinh Tạp A-hàm q.1, Đ.1, phẩm 2, TươngƯng I, phầnNgũ uẩn, từ kinh 8 8 -12, đức Phật cũng dạy các Tỳ-kheo,thức quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là thức hiệntại. Thức là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tứclà chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phảisở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sát như vậy gọi là chânthật chánh quán. Hay thức là vô thường. Vô thường tứclà khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải tathì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Tỳ-kheo nào quán sátnhư vậy gọi là chân thật chánh quán. Hoặc thức là vô thường.Nhân và duyên sanh ra các thức, chúng cũng vô thường. Vậy,các thức được sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làmsao có thể là thường được? Hay thức là vô thường. Nhânvà duyên sanh ra các thức chúng cũng vô thường. Vậy, cácthức được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm sao cóthể là thường được? Đó chính là những lời dạy củađức Phật cho các Tỳ-kheo về thức uẩn, qua đây thức uẩnchính là những ý thức. Ý thức này chúng cũng mang tính chấtvô thường, khổ, vô ngã. Chúng phải được chúng ta quan sátvà tư duy một cách chân chánh về chúng như vậy, và sau khichúng ta quan sát tư duy chân chánh như vậy rồi thì buộc chúngta phải xa lìa chúng, vì bản thân chúng chính là vô thường,khổ, vô ngã, không có sở hữu. Chúng chính là khổ trói buộc,nên chúng ta muốn giải thoát khổ trói buộc thì phải xa lìachúng. Xa lìa chúng chính là xa lìa sinh-già-bệnh-chết trongquá khứ, hiện tại và tương lai.

Quangũ uẩn như chúng tôi trình bày ở trên, cho thấy cái màta gọi là một "linh hồn" hay "cá thể" hay "tôi", chúng cũngchỉ là một cái tên gọi, một nhãn hiệu chúng ta đặt chomột sự tích hợp của năm uẩn đó, để phân biệt vớicái khác cùng lúc hiện hữu với nó. Nhưng nếu năm tích hợpnày đứng độc lập thì cái mà chúng ta gọi là linh hồn,bản thể, cá thể, hay cái tôi chúng sẽ không hiện hữu.Như vậy sự hiện hữu có được của nó là một hiện hữugiả tạm trên mặt tích hợp, do nhân duyên hòa hợp nươngvào nhau mà sinh khởi và biến dịch theo luật vô thường.Tất cả chúng đều vô thường, tất cả đều hằng biến.“Bất cứ cái gì vô thường đều là khổ”. Đó là ý nghĩachân chính của lời Phật dạy: “Tóm lại, Ngũ uẩn tróibuộc là khổ” (trang 421, sđd).

Tómlại, về ý nghĩa của đế thứ nhất khổ, là chúng ta phảihiểu sự thật thứ nhất này một cách rõ ràng và chính xác,bởi vì như đức Phật dạy: “Người nào thấy rõ đượckhổ cũng thấy luôn nguyên nhân của khổ, cũng thấy luônsự diệt khổ và cũng thấy luôn con đường đưa đến sựdiệt khổ” (Trang 21 sđd). Vậy thì khổ theo như đức Phậtđã dạy ở trên thì điều này không làm cho Phật tử chúngta buồn rầu phiền muộn, để rồi đưa đến bi quan yếmthế như một vài người lầm tưởng. Mà ngược lại, Phậttử chân chính chúng ta sẽ là những người hạnh phúc nhấttrần gian. Bởi vì chúng ta sẽ không phải chịu khổ đờiđời, kiếp kiếp nữa, nếu chúng ta thấy được khổ củachính chúng ta, để từ đó chúng ta thấy luôn nguyên nhâncủa khổ; thấy được sự diệt khổ, sẽ được thực hiệnqua việc chúng ta thấy rõ con đường đưa đến sự diệtkhổ và theo đó chúng ta thực hành thì khổ đối với chúngta không còn là gì nữa. Đối với nó, chúng ta không sợ hãilo lắng và dao động nữa. Chúng ta sẽ có một cuộc sốngan bình thanh thoát và sẽ không bị bất cứ tai nạn hay biếnchuyển nào làm cho chúng ta điêu đứng đảo điên, vì chúngta đã thấy mọi sự vật đúng như thật. Mặc dù cuộcsống chúng ta có bất hạnh khổ đau, nhưng một Phật tửchúng ta không nên thất vọng và buồn đau vì nó, và cũngkhông nên oán hận hay thiếu kiên nhẫn vì nó. Theo đức Phật,oán hận hay thù ghét là một trong những điều xấu xa nhấtở đời. Vì nó là tiền đề đưa chúng ta đến những hànhđộng gây bất hạnh và đau khổ cho chính chúng ta và chúngsanh khác. Nếu chúng ta có thái độ thiếu kiên nhẫn trướckhổ đau là một thái độ sai lầm. Sự thiếu kiên nhẫn hayoán hận trước khổ đau không làm cho đau khổ biến mất.Mà ngược lại sẽ tăng thêm rối ren và làm mọi việc trởnên trầm trọng trước một hoàn cảnh vốn đã khó chịuđối với chúng ta. Điều quan trọng ở đây không phải làoán hận hay thiếu kiên nhẫn, mà chúng ta phải thấu đạtrõ ràng vấn đề khổ đau, nó đã được phát sinh thế nào,làm sao chúng ta xua đuổi nó ra khỏi cuộc sống, và tùy đómà hành động theo tám phương cách chân chánh (bát chánh đạo)như chính đức Phật đã dạy, với ý chí kiên nhẫn, có nghịlực, sáng suốt và quả quyết. Cứu cánh cuối cùng của Phậtgiáo là an vui, tự tại. Theo đức Phật muốn đạt đượcan vui tự tại thì phải giải thoát tất cả mọi thái độtư tưởng buồn đau, phiền muộn, u ám và chúng ta xem đólà một trở ngại cho việc thực hiện chân lý đạt Niết-bàn,chúng ta cần phải loại trừ chúng.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/12/201716:25(Xem: 50958)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
20/12/201608:43(Xem: 5523)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiên và loài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập tùy theo căn cơ của mỗi người nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau, mang lại hạnh phúc an vui, giải thoát, niết bàn. Chỉ xét riêng thánh quả Dự Lưu (Tu Đà Hườn), trong kinh điển Nikaya (Pali) Thế Tôn và ngài Xá Lợi Phất chỉ ra hơn năm cách[i] khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sở trường của hành giả xuất gia cũng như tại gia để chứng đắc thánh quả đầu tiên này trong bốn thánh quả. Trong những cách này, cách dễ nhất, căn bản nhất, phổ quát nhất và hợp với đại đa số chúng đệ tử nhất
07/06/201106:53(Xem: 1968)
Vào ngày 2 tháng Tư, Lama Zopa Rinpoche đã ban bài giảng để khai mạc khóa tu kéo dài một tháng được tổ chức tại Bendigo, Úc châu trong Đại Bảo Tháp Bi mẫn Phổ quát. Lời khuyên dạy vô cùng phổ biến này được trích dẫn vì sự lợi lạc của tất cả những người không thể tham dự khóa tu:
26/03/201311:23(Xem: 1380)
Tốt và xấu là những tiêu chí để đánh giá đạo đức. Thông thường, một người tốt được nghĩ là một người có đạo đức, và ngược lại. Cũng như vậy, những hành vi được xem là tốt khi hành vi ấy tuân theo những nguyên tắc đạo đức nào đó; và ngược lại, những hành vi được coi là xấu khi chúng chệch ra khỏi những nguyên tắc đạo đức.
11/10/201820:48(Xem: 3495)
Khi chúng ta đã muốn được trong sạch thảnh thơi, muốn trút bỏ tội lỗi cho lòng được nhẹ nhàng, thư thái, thì tất nhiên chúng ta phải tìm phương pháp để trừ cho hết buị bặm, tẩy trừ cho hết tội lỗi. Trong Đạo Phật, phương pháp tẩy trừ ấy gọi là sám hối.
13/11/201607:33(Xem: 4075)
Khi bàn về Phật giáo, học giả Lương Khải Siêu đã nói: “Phật giáo là trí tín, không phải mê tín, là kiêm thiện chứ không phải độc thiện, là nhập thế chứ không phải yếm thế”. Lương Khải Siêu tiên sinh bác cổ thông kim, học thông cả cổ Trung và Tây phương, giữ một địa vị khả kính trong giới học giả. Lời nói của ông phải có căn cứ trên phương diện học lý. Thế thì căn cứ ấy là gì? Lẽ dĩ nhiên là ở trong Tam tạng giáo điển của đạo Phật. Vì mục đích của Phật Pháp là mong con người chuyển mê thành ngộ, chuyển ngu thành trí, và chuyển phàm thành Thánh chứ không gì khác.
21/01/201204:16(Xem: 8010)
Tập sách nhỏ này, là một tập tài liệu vô cùng quí giá, do sự tham khảo các kinh sách của Đức Thế Tôn để lại với các tài liệu tác giả đã sưu tầm và tham quan tại một số địa phương...
12/06/201121:24(Xem: 945)
Tám loại khổ (i) Sinh: * Có bao giờ ta nghĩ rằng: “Ước gì tôi chưa hề được sinh ra”? Bắt đầu từ khi chào đời, ta trải qua biết bao đau khổ. * Không những chỉ có sự đau đớn lúc chào đời mà thôi, ta còn trải qua những đau khổ của lão, bệnh và tử.