Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sự liên hệ duyên khởi của mười hai chi nhân duyên

19/02/201108:10(Xem: 3129)
Sự liên hệ duyên khởi của mười hai chi nhân duyên

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

MƯỜIHAI NHÂN DUYÊN
(dvādaśāṅgapratītya-samutpāda)

B. SỰ LIÊN HỆ DUYÊN KHỞI CỦA MƯỜI HAI CHI NHÂN DUYÊN.

TheoTrường A-hàm 10, trong kinh Đại duyên phương tiện thì:

Duyênsi nên có hành, duyên hành nên có thức, duyên thức nên códanh sắc, duyên danh sắc nên có lục nhập, duyên lục nhậpnên có xúc, duyên xúc nên có thọ, duyên thọ nên có ái, duyênái nên có thủ, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên cósanh, duyên sanh nên có lão tử, ưu, bi, khổ não họan lớntích hợp, đó chính là duyên khổ ấm lớn. Trong mười haichi này chi trước làm nhân sinh khởi cho chi sau và, ngượclại nếu chi trước diệt thì chi sau cũng diệt, cho nên trong Trường A-hàm 10 kinh Đại duyên phương tiện, Phật dạy: “Nàycó nên kia có, này sanh nên kia sanh; … này không nên kia không,này diệt nên kia diệt.” nói rõ về tướng của nó dựavào sự đối đãi mà có sự quan hệ. Tức là tất cả tướngmọi sự vật đều câu hữu dựa vào tánh mà hiện hữu, đềudo nhân và duyên thành lập cho nên nói là vô thường, khổ,vô ngã.

Theokinh Tạp A-hàm 12 của Tiểu thừa[1] thì cho rằng phápduyên khởi là chân lý vĩnh hằng thực hữu bất biến, chínhđức Phật đã nhờ quán sát chân lý này mà giác ngộ, vàcũng vì chúng sanh mà khai thị pháp này, theo hai cách quán lưuchuyển và hoàn diệt.

a .Liênhệ duyên khởi theo lưu chuyển và hòan diệt Quán:

Vềsự thành tựu liên hệ khổ đau của con người trong cuộcsống bằng cách nào, và bằng cách nào để hủy diệt chúng?Đức Phật dạy:

“Thếnào là pháp nhân duyên[2]? Là cái này có nên cái kia có, nhưduyên vô minh nên có hành, duyên hành nên có thức, cho đến,tụ tập thuần một khối khổ lớn như vậy.

“Thếnào là pháp duyên sanh[3]? Là vô minh, hành ... Dù Phật có xuấthiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp này vẫn thườngtrụ, pháp trụ, pháp giới[4]. Pháp này Như lai đã tự giáctri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễn nói, chỉ dạy,hiển bày rằng: Duyên vô minh có hành, cho đến, duyên sanhnên có già, bệnh, chết, ưu, bi, não, khổ.

“DùPhật có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì phápnày vẫn thường trụ, pháp trụ, pháp giới. Pháp này Nhưlai đã tự giác tri, thành Đẳng chánh giác, vì người diễnnói, chỉ dạy, hiển bày rằng: duyên sanh nên có già, bệnh,chết, ưu, bi, não, khổ.

“Cácpháp này pháp trụ, pháp không[5], pháp như, pháp nhĩ, phápchẳng lìa như, pháp chẳng khác như, chân đế, chân thật,không điên đảo. tùy thuận duyên khởi như vậy, đó gọilà pháp duyên sanh[6]. Tức là: vô minh, hành, thức, danh sắc,lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, bệnh, tử,ưu, bi, não, khổ. Đó gọi là pháp duyên sanh.

“Đavăn Thánh đệ tử đối với pháp nhân duyên và pháp duyênsanh này bằng chánh tri mà thấy rõ như thật, không truy tìmvề đời trước[7] mà nói rằng: ‘Tôi trong đời quá khứhoặc có, hay không có? tôi trong quá khứ là loài gì, tôi trongquá khứ như thế nào?[8] Không truy tìm tương lai mà nóirằng: ‘Tôi ở đời vị lai hoặc có, hay [84b] không có? tôilà loài gì, tôi sẽ như thế nào?’ Bên trong chẳng do dự:[9]‘Đây là những thứ gì? tại sao có cái này? Trước đâychúng là cái gì? Sau này chúng sẽ là cái gì? Chúng sanh nàytừ đâu đến? ở đây mất rồi sẽ đi về đâu?[10]

“Nếucác Sa-môn, Bà-la-môn nào khởi các kết sử kiến[11] phàmtục, tức là, kết sử của ngã kiến, kết sử của chúngsanh, kết sử của thọ mệnh, hoặc kết sử của kiến chấpcữ kiêng tốt xấu.[12] Khi tất cả những điều đó đượcđoạn tận, được biến tri, cắt đứt gốc rễ, như chặtngọn cây đa-la, ở đời vị lai thành pháp bất sanh. Đó gọilà đa văn Thánh đệ tử đối với pháp nhân duyên và phápduyên sanh bằng chánh trí mà như thật khéo thấy, khéo tỉnhgiác, khéo tu tập, khéo thể nhập.”

Theocác nhà Tiểu thừa thì pháp duyên sinh này dù có Phật ra đờihay không ra đời pháp này vẫn thường trụ, pháp trụ, phápgiới. Pháp này Như Lai đã tự giác tri thành Đẳng chánh giác,vì chúng sanh mà diễn nói chỉ dạy, hiển bày, rằng:

- Chúngsanh từ vô thỉ cho đến nay, vì vô minh hoặc nghiệp các phiềnnão theo đó mà khởi, nên đối với thật sự, thật lý khôngnhận thức một cách rõ ràng minh bạch. Đó gọi là vô minh.

- Vìđối với thật sự, thật lý không biết rõ nên tạo ra cáctác nghiệp. Đó gọi là hành.

- Khinghiệp nhân quá khứ mang thần thức đi thác thai trong sát-naban đầu. Đó gọi là thức.

- Saukhi nhập thai, thì cá thể kia có đầy đủ hai yếu tố làsắc (chỉ cho thân xác), và phi sắc (chỉ cho thọ, tưởng,hành, thức); nhưng lúc này sáu giác quan chưa hoàn thành. Đógọi là danh sắc. Danh (thọ, tưởng, hành, thức) sắc (chỉcho xác thịt).

- Saukhi nhập thai xong, sáu giác quan của thai nhi bắt đầu dầndần tăng trưởng hình thành. Đó gọi là lục nhập.

- Saukhi thai nhi ra đời, thời gian từ 1 tuổi cho đến 3 tuổilà thời gian đứa trẻ bắt đầu dùng sáu giác quan (lụccăn) của mình tiếp xúc với hoàn cảnh chung quanh (lục trần)của mình để phát sinh biết (lục thức). Trong thời gian này,tuy có sự tiếp xúc, có phát sinh ra biết, nhưng những cảmgiác đối với việc khổ việc vui chưa nhận ra rõ ràng minhbạch được. Đó gọi là xúc.

- Khiđứa bé lên 4 tuổi và cho đến 15 tuổi, đây là thời gianđối với những việc khổ, vui đứa bé bắt đầu cócảm giác phân biệt rõ ràng, từ đó sinh ra tri giác; nhưngthời gian này chưa khởi lên tham dục. Đó gọi là thọ.

- Conngười theo thời gian càng lớn, ham muốn dục vọng càng tăngtrưởng. Lòng dục thúc đẩy (Ý) được thể hiện ra ngoàihành động (thân, khẩu), nhưng vẫn chưa tìm cầu sâu rộnglắm. Đó gọi là ái.

- Khituổi hoàn toàn trưởng thành, con người muốn đạt đượctất cả mọi thứ mong cầu, nên đi khắp nơi tìm kiếm đemvề cho mình. Đó gọi là thủ.

- Vìcó sự tìm cầu, chứa nhóm cho mình, nên các hoặc nghiệpcũng từ đó phát sinh. Đó gọi là hữu.

- Donghiệp lực hiện tại, nên sau khi từ bỏ xác thân này, lạiphải tiếp tục dẫn khởi thần thức ở trong sát-na đầuthai vào trong tương lai. Đó gọi là sanh.

- Mỗisát-na, từ khi sinh cho đến khi từ bỏ thân mạng, giai đoạnthời gian này gọi là lão tử.

Đólà cách quán lưu chuyển hay còn gọi là quán thuận qua mườihai nhân duyên, ngược cách quán này gọi là quán hoàn diệthay còn gọi là quán nghịch bắt đầu từ vô minh khát áidiệt bằng không tạo ra tác nhân thì thọ quả hành cũng không,… cho đến sanh, lão tử cũng không hiện hữu, và như vậyvòng xích mười hai nhân duyên không còn nữa. Đó là cáchgiải thích thông thường quán thuận nghịch theo kinh nguyênthỉ của các nhà Tiểu thừa.

Còntheo các nhà Đại thừa thì cách quán của mười hai duyênkhởi cũng giống như cách quán của bốn sự thật (Tứ đế)về thuận và nghịch hay còn gọi là lưu chuyển quán hay hòandiệt quán. Theo truyện Thích tôn nhờ cách quán thuận nghịchmười hai nhân duyên này mà khai ngộ chứng quả Vô thượngChánh đẳng Chánh giác. Theo A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận 4,cũng y cứ vào chi vô minh lấy làm nguyên nhân đầu phát sinhcho sự duyên khởi quán trong quán mê lưu chuyển theo chiềunghiệp lực sinh khởi trong tạp nhiễm quán, đối với chúngsanh hữu tình trong ba cõi sáu đường. Đây là con đườngmê sinh khởi bắt đầu từ vô minh vọng động mê mờ tốităm bất giác khởi lên, để đưa đến hành động tạo nghiệpliên tục trong chiều thuận dòng sinh tử bất tận, mà chiêucảm cho quả khổ trong tương lai, qua sự thác thai để tiếptục hành trình theo sự dẫn dắt của vô minh vọng độngtrong suốt chiều dài quá trình sinh hóa lưu chuyển luân hồi,không đầu không cuối trong u u minh minh của kiếp sống.

Ởđây vô minh không phải là nguyên nhân đầu tiên của vòngluân hồi sinh hóa biến diệt này đâu, mà vô minh chỉ làmột trong mười hai chi được đức Đạo sư nhận diện vàtạm thời lấy nó làm nguyên nhân đầu trong một vòng trònmắc xích này mà thôi, nên vô minh được tạm thời lấy làmnguyên nhân chính trong quán pháp lưu chuyển này. Cũng theo đứcĐạo sư muốn diệt được vòng tròn mắc xích vô minh sinhkhởi này thì tạm thời lấy lão tử làm kết quả cuối cùngđể tìm ra nguyên nhân duyên khởi tạo ra nó và, được coinhư là mắt xích kết quả cuối cùng trong cách quán hòan diệthay, còn gọi là quán nghịch chiều sinh tử. Ở trong cách quánnày cũng giống như pháp quán trong bốn sự thật thì, diệtđế củng là nguyên nhân đầu cũng là nguyên nhân cuối đểtiêu diệt khổ và cũng là kết quả chứng đắc Niết-bànan vui cuối cùng để chấm dứt sinh tử, còn trong mười chiduyên khởi thì lão tử cũng làm nhiệm vụ như vậy, vừalàm nhân duyên đầu vừa làm kết quả cuối cùng trong việcdiệt tận sinh tử luân hồi. Từ lão tử theo thứ tự quánnghịch lên trở lại cũng theo chiều sanh khởi như quán thuậncho đến khi nào chi vô minh không còn nữa thì, phương phápquán gọi là nghịch quán hay còn gọi tạp nhiễm nghịch quán.Đối với cách quán nghịch này, nói chung chúng ta bắt đầutừ chi nào cũng được, vì trong vòng xích mười hai duyênkhởi này, nếu bất cứ một mắc xích nào đó mà bị vôhiệu hóa chức năng sinh diệt của chúng thì tòan bộ vòngtròn mắc xích đó bị phá tung. Ở đây chữ nghịch có nghĩalà nghịch lại với sinh tử chứ không nghịch với duyên khởilưu chuyển. Vì chúng ta cũng có thể quán nghịch sinh tử tứclà hòan diệt quán bắt đầu từ chi vô minh cũng được. Nếuchúng ta bắt đầu quán hòan diệt từ chi vô minh xuôi xuốnglão tử thì lối quán này được gọi là thuận quán củahòan diệt, còn nếu chúng ta bắt đầu từ lão tử nghịchlên vô minh thì gọi là nghịch quán hòan diệt. Đây là cáchquán thuận hòan diệt: Do vô minh diệt nên hành diệt và duyênkhởi như vậy cho đến lão tử diệt, đó là cách quán thuậnđể đưa hành giả đến việc chấm dứt sinh tử chứng ngộNiết-bàn thành tựu trong hiện quán, còn gọi là thanh tịnhthuận quán. Và đây là cách quán nghịch của hòan diệt: Dolão tử diệt nên sinh diệt và duyên khởi như vậy cho đếnvô minh diệt, đó là cách quán nghịch để đưa hành giảđến việc chấm dứt sinh tử chứng ngộ Niết-bàn thành tựuhiện quán, cách quán này còn gọi là thanh tịnh nghịch quán.

TheoĐại Tỳ-bà-sa luận 24 thì, phương pháp quán mê lưu chuyểnsinh khởi trong mười hai chi phải trừ hai chi vô minh và hànhra vì chúng thuộc hai chi quá khứ, còn quán hòan diệt đểđưa đến việc chấm dứt mê thành tựu hiện quán thì phảidùng hết mười hai chi.

Trênlà cách nhận thức về mười hai duyên khởi, chúng liên hệtrong nhân duyên sanh khởi như thế nào qua mười hai chi tạothành dòng sinh mệnh khổ đau qua nhân quả ba đời, và cáchquán thuận nghịch để trước hết nhận chân ra bộ mặtthật của các pháp trong đó ngã pháp được hình thành rasao và biến dịch ra sao? Chiều nào là thuận đường sinh tửkhổ đau, chiều nào là nghịch dòng sinh tử giải thóat khổđau đưa hành giả đến chứng đắc Niết-bàn an vui giảithóat?

b.Mườihai duyên khởi và vấn đề nhân quả.

Vấnđề nhân quả luôn tùy thuộc vào thời gian, cho dù là thờigian ngắn, nhỏ nhiệm đến đâu nhân quả cũng có mặt. Trongmười hai chi duyên khởi cũng tùy thuộc vào thời và nhânquả để hình thành hiện hữu tồn tại biến dịch qua luậttắc vô thường chi phối. Do đó mười hai nhân duyên sinh khởicũng tùy thuộc vào thời gian ngắn dài mà nhân quả của mườihai duyên khởi được định hình theo đó. Theo sự liên hệgiải thích qua mười hai duyên khởi của Kinh Trường A-hàmnhư trên đã cho hành giả chúng ta một cái nhìn căn đễ cơbản về sự hình thành nhân quả qua mười chi duyên khởinhư thế nào rồi. Theo đây chúng tôi sẽ trình bày nhân quảqua mười hai chi duyên khởi theo các bộ phái như thế nào.

TheoCâu xá luân 9 thì, mười hai duyên khởi được giải thíchtheo bốn cách nhân quả khác nhau theo thời gian như sau:

1/Sát-na duyên khởi: tức một sát-na trong tâm khi chúng ta khởilên thì chúng đầy đủ cả mười hai chi cùng lúc, ví dụnhư nhân vào tâm tham của mình khởi lên tâm sát sinh, ngaytrong thời gian đó trong tâm nó đã có đầy đủ ngu si vôminh, cho nên khi vô minh có mặt tức là hành có mặt, mà hànhcó mặt thì thức có mặt, thức có mặt thì danh sắc có mặt,danh sắc đã có mặt thì lục nhập có mặt và như thế cảmười hai chi có mặt cùng trong một thời gian sát-na khởilên, vì theo nguyên tắc duyên khởi như Đức Đạo đã dạyvề duyên khởi như trên thì: “Đây có nên kia có, đây sanhnên kia sanh; … đây không nên kia không, đây diệt nên kiadiệt.”

2/Liên phược duyên khởi: Đây là nguyên tắc thời gian gầntrong việc hình thành nhân quả trong hiện tại của mườihai chi duyên khởi qua nguyên tắc nhân quả tiền nhân hậuquả đi theo sau đó tức thời. Như mvậy thì mười hai chinày liên tục duyên khởi không có bất cứ một thời giannào gián đọan xen vào, chúng hình thành mười hai duyên khởilệ thuộc vào tiền nhân hậu quả trong quan hệ theo thứ tự.

3/Phần vị duyên khởi: Phần vị mười hai chi duyên khởi làbiểu thị quá trình cùng trạng thái lưu chuyển sinh tử củachúng sinh hữu tình qua thời gian, tùy thuộc vào nghiệp lựccủa nghiệp nhân mạnh hay yếu trong việc thọ quả nhanh haychậm.

4/Viễn tục duyên khởi: Ở đây căn cứ vào thời gian lâu dàiđể giải thích sự hiện hữu của chúng theo hệ thống nhânquả chiêu cảm từ đời trước qua đời này và hình thànhquả mãn của quá khứ trong hiện tại và, tạo tác nhân mớicho sự chiêu cảm quả trong tương lai nữa mà thuật ngữ chuyênmôn gọi là tam thế lưỡng trùng nhân quả để giải thíchhay có thể nhiều đời tùy thuộc vào tác nhân nghiệp đãtạo ra trong quá khứ.

Riêngtheo các nhà Hữu bộ dùng thuyết phần vị duyên khởi trênmà chủ trương về nhân quả hai lớp ba đời, tức vô minhcùng với hành là phần vị của các loài hữu tình khi tạonghiệp phiền não thuộc đời quá khứ, chỉ cho thân tâm mànói. Y cứ vào hai nhân thời quá khứ này mà thần thức trongsát-na mới thác thai vào bụng mẹ, phần vị của hữu tìnhbấy giờ là thức; trong sát-na thứ hai của thác sinh trởvề sau, lúc này phần vị lục căn chưa đầy đủ gọi làdanh sắc; khi phần vị lục căn trong thai đầy đủ rồi thìgọi là lục xứ; sau khi ra khỏi thai cho đến ba tuổi, thờigian này chỉ có tiếp xúc giữa căn và cảnh sinh ra xúc giácnhưng chưa có sự tác ý; thời gian từ bốn tuổi cho đếnmười lăm tuổi là thời gian cảm thọ, cảm giác chín mùivì có sự tác ý phân biệt lấy bỏ nên phần vị lúc nàylà thọ: giai đọan từ phần vị thức cho đến phần vịthọ được gọi là năm quả trong hiện tại. Thời gian 16- 30 tuổi là thờ gian ái dục mạnh mẽ, nên lúc này ở vàophần vị ái; thời gian từ 30 trở về sau là giai đọan tâmtham trước mạnh mẽ, nên lúc này ở vào phần vị thủ; nhưvậy mà tạo ra nghiệp thì gọi là phần vị hữu; ba phầnvị trên là ba nhân hiện tại đời này. Do nhân này mà cảmquả phần vị đời vị lai là sanh; và từ đó cho đến khithân hoại mạng chung là phần vị lão tử. Hai chi này chínhlà hai quả của đời vị lai. Sự phân loại này phân ra làba đời quá, hiện và, vị lai, lập lại hai lớp nhân quả,đó gọi là tam thế lưỡng trùng nhân quả như trên chúngtôi đã trình bày.

TheoDuy thức luận 8 thì, từ vô minh cho đến hữu là nhân, sanh,lão tử là quả, cho nên các nhà Duy thức tông chỉ lập mộtlớp nhân quả mà thôi. Vì hai chi vô minh, hành liên hệ vớinhân của năm chi từ thức cho đến thọ trong chức năng dẫndắt: hai chi vô minh, hành là năng dẫn, trong khi năm chi từthức cho đến thọ là sở dẫn; bảy chi này gọi chung lànhân dẫn dắt. Vì nhân của ba chi ái, thủ, hữu làm năngsinh cho hai chi sanh, lão tử trong tương lai, nên ba chi này gọilà chi năng sanh hay, nhân sanh khởi; còn hai chi sanh, lão tửgọi là chi sở sanh hay, sở dẫn sanh.

Đólà những chủ trương và những quan niệm của các bộ pháisau này về cách nhìn theo nhân quả đối với mười hai duyênkhởi; tuy sự phân chia khác nhau về thời gian tính và tùythuộc vào thuộc tính của các chức năng phần vị trong từngchi một; nhưng tựu trung chúng chỉ khác nhau về quan niệmthời gian, chậm nhanh, dài, ngắn để hình thành quan niệmcủa mỗi bộ phái về nhân quả qua mười hai duyên khởi.Ở đây chỉ có sát-na duyên khởi là không tùy thuộc vàothời gian qua luật tắc nhân quả; nhưng vì thời gian quá nhanhđể mắt thường tình chúng sanh hữu tình như chúng ta khôngthấy được, tuy vậy chúng ta cũng có thể y cứ vào nhứtniệm thời gian hiện hữu thì vô lượng thời gian hiện hữutrong nhau, nên ở đây chúng ta có thể có một quan niệm vềđồng thời nhân quả từ sát-na sinh diệt hiện hữu qua mườihai duyên khởi có được.

Tómlại, mười hai duyên khởi như chúng tôi đã y cứ vào cáckinh điển nguyên thỉ, các kinh điển bộ phái phát triểnsau này của Đại thừa và Tiểu thừa cho hành giả chúng tamột nhận thức về sự hình thành một nhân sinh quan cùngvũ trụ quan qua sự sinh khởi biến dịch của nhân duyên. Quađó nhân quả duyên khởi được biểu hiện rõ nét qua từngthuộc tính cá biệt đặc thù sai biệt và tính phổ quát hỗtương nhau trong việc hình thành nghiệp nhân và nghiệp quảkhổ đau trong ba cõi sáu đường, theo phần vị thời gian kíchđộng của nghiệp lực mà tạo thành một vòng tròn mắc xíchsinh hóa trong chiều biến dịch của lưu chuyển nhiễm ô thuậnquán. Cũng từ trong hiện quán nhiễm ô lưu chuyển thuận quánnày theo đức Đạo sư nếu hữu tình chúng sanh muốn vượtra khỏi vòng tròn sinh hóa biến dịch lưu chuyển của khổđau này thì, chỉ cần hành giả quán nghịch lại con đườngsinh hóa đó bằng hai cách quán thanh tịnh dù thuận hay nghịchvới chiều sinh tử cũng khiến hành giả vượt ra khỏi mêlộ để trở về chánh lộ thanh tịnh giải thóat đạt anvui Niết-bàn trong tịch tịnh ngay trong hiện quán.

--------------------------------------------------------------------------------

[1]Đ. 2, Tạp A-hàm kinh, q. 12, kinh 334, tr. 92b-92c.

[2]Nhân duyên pháp, hay lý duyên khởi. Pāli: paṭiccasamuppāda.

[3]Duyên sanh pháp, hay duyên dĩ sanh. Pāli: paṭiccasamuppanna dhamma.

[4]Pāli: uppādā vā tathāgatānaṃ anuppādā vā tathāgatānaṃ, ṭhitāva sā dhātu dhammaṭṭhitatā dhammaniyāmatā idappaccayatā, CácNhư lai xuất hiện hay không xuất hiện, giới này (đạo lýnày) vốn thường trú; đó là tính a n trụ của pháp (pháptrụ tánh), tính quyết định của pháp (pháp vị tánh), vàtính y duyên (tương y tương duyên).

[5]Pháp trụ, pháp không 法住, 法空; trong bản Pāli: dhammāṭṭhitatā(pháp trụ tánh), dhammaniyāma (pháp vị tánh, pháp định tánh).

[6]Pāli: katame ca, bhikkhave, paṭiccasamuppannā dhammā? jarāmaraṇaṃ,bhikkhave, aniccaṃ saṃkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammṃvayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammaṃ, các pháp duyên sanh(duyên sanh pháp) là gì? Già chết là vô thường, hữu vi, doduyên mà khởi, chịu quy luật đào thải, tiêu vong, ly tham,diệt tận.

[7]Hán: tiền tế 前際, Pāli: pubbantaṃ

[8]Pāli: ahosiṃ nu kho ahaṃ atītamaddhānaṃ, nanu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ,kiṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ, kathaṃ nu kho ahosiṃ atītamaddhānaṃ,kiṃ hutvā kiṃ ahosi nu kho ahaṃ aittāmaddhānaṃ, quá khứ tôihiện hữu hay không hiện hữu? Quá khứ tôi là gì, tôi làthế nào? Quá khứ, do hiện hữu cái gì mà tôi hiện hữu?

[9]Pāli: etarahi paccuppannaṃ addhānaṃ ajjhattaṃ kathaṃkathī bhavissati,hoặc ở đây trong đời hiện tại mà nên trong có nghi hoặc.

[10]Pāli: ahaṃ nu kho’smi, no nu kho’ smi, kiṃ nu kho’smi, kathaṃnu kho’smi, ayaṃ nu hko sattā kuto āgato, so kuhiṃ gamissatī’ti,ta đang hiện hữu, hay không đang hiện hữu? ta đang là cáigì? ta đang là thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Rồinó sẽ đi đâu?

[11]Hán: kiến sở hệ 見所繫. Pāli: diṭṭhi-saṃyojana.

[12]Kỵ húy cát khánh kiến sở hệ ? 忌諱吉慶見所繫

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/12/201716:25(Xem: 51341)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
20/12/201608:43(Xem: 5566)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiên và loài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập tùy theo căn cơ của mỗi người nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau, mang lại hạnh phúc an vui, giải thoát, niết bàn. Chỉ xét riêng thánh quả Dự Lưu (Tu Đà Hườn), trong kinh điển Nikaya (Pali) Thế Tôn và ngài Xá Lợi Phất chỉ ra hơn năm cách[i] khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sở trường của hành giả xuất gia cũng như tại gia để chứng đắc thánh quả đầu tiên này trong bốn thánh quả. Trong những cách này, cách dễ nhất, căn bản nhất, phổ quát nhất và hợp với đại đa số chúng đệ tử nhất
07/06/201106:53(Xem: 1976)
Vào ngày 2 tháng Tư, Lama Zopa Rinpoche đã ban bài giảng để khai mạc khóa tu kéo dài một tháng được tổ chức tại Bendigo, Úc châu trong Đại Bảo Tháp Bi mẫn Phổ quát. Lời khuyên dạy vô cùng phổ biến này được trích dẫn vì sự lợi lạc của tất cả những người không thể tham dự khóa tu:
26/03/201311:23(Xem: 1391)
Tốt và xấu là những tiêu chí để đánh giá đạo đức. Thông thường, một người tốt được nghĩ là một người có đạo đức, và ngược lại. Cũng như vậy, những hành vi được xem là tốt khi hành vi ấy tuân theo những nguyên tắc đạo đức nào đó; và ngược lại, những hành vi được coi là xấu khi chúng chệch ra khỏi những nguyên tắc đạo đức.
11/10/201820:48(Xem: 3539)
Khi chúng ta đã muốn được trong sạch thảnh thơi, muốn trút bỏ tội lỗi cho lòng được nhẹ nhàng, thư thái, thì tất nhiên chúng ta phải tìm phương pháp để trừ cho hết buị bặm, tẩy trừ cho hết tội lỗi. Trong Đạo Phật, phương pháp tẩy trừ ấy gọi là sám hối.
13/11/201607:33(Xem: 4102)
Khi bàn về Phật giáo, học giả Lương Khải Siêu đã nói: “Phật giáo là trí tín, không phải mê tín, là kiêm thiện chứ không phải độc thiện, là nhập thế chứ không phải yếm thế”. Lương Khải Siêu tiên sinh bác cổ thông kim, học thông cả cổ Trung và Tây phương, giữ một địa vị khả kính trong giới học giả. Lời nói của ông phải có căn cứ trên phương diện học lý. Thế thì căn cứ ấy là gì? Lẽ dĩ nhiên là ở trong Tam tạng giáo điển của đạo Phật. Vì mục đích của Phật Pháp là mong con người chuyển mê thành ngộ, chuyển ngu thành trí, và chuyển phàm thành Thánh chứ không gì khác.
21/01/201204:16(Xem: 8037)
Tập sách nhỏ này, là một tập tài liệu vô cùng quí giá, do sự tham khảo các kinh sách của Đức Thế Tôn để lại với các tài liệu tác giả đã sưu tầm và tham quan tại một số địa phương...
12/06/201121:24(Xem: 959)
Tám loại khổ (i) Sinh: * Có bao giờ ta nghĩ rằng: “Ước gì tôi chưa hề được sinh ra”? Bắt đầu từ khi chào đời, ta trải qua biết bao đau khổ. * Không những chỉ có sự đau đớn lúc chào đời mà thôi, ta còn trải qua những đau khổ của lão, bệnh và tử.