Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Nội dung và ý nghĩa mười hai chi nhân duyên

19/02/201108:10(Xem: 3899)
Nội dung và ý nghĩa mười hai chi nhân duyên

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

MƯỜIHAI NHÂN DUYÊN
(dvādaśāṅgapratītya-samutpāda)

MườihaiNhân duyên là pháp được đức Đạo sư hiện quán xuôinghịch trong lúc Ngài tọa thiền dưới bóng cây Bodhivṛksa(Bồ-đề) mà khám phá ra bộ mặt thật của các pháp là vôthường-khổ-vô ngã; nhưng vì vô minh mê mờ nên chúng sanhkhông nhận ra được bộ mặt thật của chúng mà chấp vàochúng cho là thường còn bất diệt, để rồi từ vô minh mêmờ này mà tạo ra nghiệp nhân đau khổ rồi cảm quả trongba cõi sáu đường. Sự khám phá bộ mặt thật của các phápnày là một sự kiện phát hiện mới về những nguyên nhântrói buộc chúng sanh vào con đường sinh tử luân hồi, vàphương pháp để diệt trừ những khổ đau mà chúng sanh phảigánh chịu. Đây là những điều mà trước kia Ngài đã từngcưu mang. Đạo lý giải thoát của Ngài được đặt nền tảngchính yếu qua thập nhị nhân duyên và tứ đế.

Vớithập nhị nhân duyên Ngài đã khám phá ra nguyên nhân chínhyếu của vòng tròn sinh khởi và huỷ diệt khổ đau của sinhtử luân hồi. Theo phương pháp quán thuận nghịch, tức làcách quán lưu chuyển và hoàn diệt của thập nhị nhân duyên.Trong 49 ngày đêm Ngài ngồi tư duy dưới bóng cây Bồ-đềkhông ngoài vấn đề này. Vấn đề sinh, lão, bệnh, tử đượcNgài đặt ra như là một tiên quyết là làm sao biết đượcvấn đề con người từ đâu sinh ra? Và khi chết sẽ đi vềđâu?

Đâylà giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy căn bản của đứcPhật đối với ngoại hàm trong cách giải thích mọi hiệntượng nhân duyên sinh khởi và biến dịch của nhân sinh cùngvũ trụ được Ngài triển khai rộng theo thời gian và khônggian của ba đời theo luật tắc nhân quả, qua nhận thức quánchiếu lưu chuyển và hòan diệt theo định thức duyên khởiquán hay còn gọi là duyên sinh quán. Mười hai nhân duyên đượcdịch nghĩa từ tiếng Phạn dvādaśāṅgapratīya-samutpāda, còngọi là mười hai duyên sinh, hay mười hai duyên khởi. Mườihai chi này làm nhân và duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiềulưu chuyển sinh khởi hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhaumà biến diệt theo chiều hòan diệt trong nhận thức quán lưuchuyển và hòan diệt. Theo kinh A-hàm thì mười hai chi nhânduyên này được thành lập như sau:

Vôminh (avidyā)
Hành(saṃskāra)
Thức(vijñāna)
Danhsắc(nāma-rūpa)
Lụcxứ(ṣaḍ-āyatana)
Xúc(sparśa)
Thọ(vedanā)
Ái(tṛṣṇā)
Thủ(upādāna)
Hữu(bhava)
Sinh(jāti)
Lãotử(jarā-maraṇa).


A.NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA MƯỜI HAI CHI NHÂN DUYÊN.

1/Vô minh, Phạn ngữ gọi là avidyā Pāli gọi là avijjā, là mộttiếng gọi khác của phiền não căn bản, tức là vì phiềnnão che lấp phủ kín nên chúng ta không nhận thức một cáchnhư thật về sự vật và, không thông đạt được cái lýchân thật cùng khả năng lý giải rõ ràng về nhữngtrạng thái tinh thần qua sự tướng của sự vật cùng đạolý chân thật của cuộc sống. Vô minh là chi thứ nhất củamười hai chi duyên khởi; vì phiền não hoặc chúng biến chúngta thành những kẻ vô trí, ngu si đặc biệt chúng ta khôngnhận thức được đạo lý thế tục của những lờidạy đức Phật. Và, cuối cùng vô minh chính là mộtchi trong mười hai chi của mười hai nhân duyên mà chúng tađang bàn đến.

Căncứ vào trong mười hai duyên khởi mà giải thích thì vô minhchính là căn bổn của tất cả mọi thứ phiền não.

Theokinh A-hàm đối với chân lý (bốn sự thật) của những lờidạy của đức Đạo sư vì không có trí tuệ nên nhận biếtmột cách sai lầm về chúng đó gọi là vô minh; hơn nữa nócòn câu hữu với khát ái trong quan hệ tạo ra si mê mà trongTông Câu Xá và tông Duy Thức gọi là tác si (moha). Cũng vôminh này các nhà Thuyết nhất thiết hữu bộ dùng nhân quảlưỡng trùng qua ba đời để giải thích mười hai duyên khởi.Ở đây vô minh thuộc về cấp vị phiền não quá khứ củanăm uẩn; vì tác dụng của vô minh mạnh nhất, cho gọi chungphiền não kiếp trước là vô minh. Nhưng theo Duy thức tôngdùng nhân quả nhất trùng cho hai đời để giải thích vôminh cùng với hành có khả năng dẫn thức nên còn gọi là“năng dẫn chi” cùng với thức thứ sáu tương ưng vớisi mê, nên phát khởi nghiệp thiện ác gọi chúng là vô minh.

Cácnhà Hữu bộ cùng Duy thức đem vô minh phân ra làm hai: tươngưng vô minh và bất cộng vô minh. Tương ưng vô minh cùng vớicác loại tham căn bản phiền não tương ưng với nhau cùngsinh khởi, trong khi bất cộng vô minh không cùng tương ưngđể duyên khởi, vì nó tự sinh khởi nên gọi là độc đầuvô minh. Duy Thức học còn khu biệt vô minh thành chủng tửvà hiện hành. Ngoài ra vô minh còn phân ra căn bản vô minhvà chi mạt vô minh, Cộng cùng bất cộng, tương ưng cùng bấttương ưng, mê lý cùng mê sự, độc đầu cùng câu hành, phúnghiệp cùng phát nghiệp.

Căncứ vào kinh Thắng Man thì vô minh tương ưng cùng kiến hoặcvà tu hoặc của ba cõi, gọi là hoặc của bốn trụ địacộng với hoặc của vô thỉ vô minh trụ địa thành hoặccủa năm trụ địa. Trong đây vô thỉ vô minh trụ địa làcăn bản tất cả mọi thứ phiền não chỉ có trí giác ngộcủa Như lai mới đọan được nó.

Vôminh theo Đại thừa khởi tín luận thì vô minh là bất giác.Bất giác được phân ra làm hai: Căn bản vô minh và chi mạtvô minh. Căn bản vô minh tức chỉ cho tâm động vi tế màcác thứ hoặc, nghiệp, khổ đều lấy tâm nhất niệm khởiđộng này làm căn bản. Đây chính là vô thỉ vô minh hoặctrụ địa, còn chi mạt vô minh tạo ra chi mạt bất giác, tứclà nó y vào căn bản vô minh mà khởi lên tâm nhiễm ô củachi mạt, gồm có nghiệp hoặc của ba tế, sáu thô.

Theotam quán (không-giả-trung) của các nhà Thiên thai thì, muốnđọan trừ vô minh hoặc (Kiến tư, trần sa và, vô minh hoặc)tức là muốn trừ mê lý đối với chẳng phải có, chẳngphải không làm hoặc chướng ngại trung đạo thì phải dùngpháp quán trung để đọan trừ đối tượng vô minh hoặc.

2/Hành, Phạn ngữ gọi là saṃskāra, Pāli gọi là saṅkhāra,dịch âm là san-ca-la, hay tăng-sa-ca-la, có nghĩa là hành động,tạo tác, cũng còn có nghĩa là biến hóa dời đổi, là chithứ hai trong mười hai chi duyên khởi.

a/Tạo tác, có cùng nghĩa với nghiệp. Ở đây, trong mười haiduyên khởi thì, hành là chi thứ hai trong mười hai chi duyênkhởi. Hành có khả năng chiêu cảm nghiệp nhân ba đời trongquá khứ cho quả báo hiện tại. Hành cũng chỉ cho tấtcả mọi họat động của thân và tâm của con người.

b/Biến hóa dời đổi, ở đây hành theo nghĩa hữu vi pháp, chúnglệ thuộc vào mọi hiện tượng hình thành và biến dịchcủa các pháp hữu vi, chúng do nhân duyên tạo tác mà hiệnhữu hay biến dịch, cho nên chúng liên hệ và lệ thuộc vàoluật tắc vô thường chi phối đối với các pháp hữu vi.Hành trong các hành vô thường chúng thuộc vào loại hành này.Cũng như hành uẩn trong ngũ uẩn chúng thuộc nghĩa thứ hai.Do đó hành không phải chỉ có nghĩa là tạo tác hành độngkhông thôi mà hành cũng được định nghĩa như là biến dịchdời đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác từ hìnhtướng này sang hình tướng khác dành cho các pháp hữu vi.Nhưng hành ở đây chỉ liên hệ đến sự tác nghiệp và sựchiêu cảm nghiệp nhân đưa đến nghiệp quả trong sự liênhệ qua mười hai chi duyên khởi, còn nghĩa thứ hai chúng tachưa cần phải đề cập đến chúng trong tiêu đề này, mặcdù chúng cũng liên hệ đến năm thủ uẩn.

3/Thức, Phạn ngữ gọi là vijñāna, Pāli gọi là viññāṇa,ở đây Vi có nghĩa là phân tích, phân biệt, phân chia; jñānacó nghĩa là hiểu, biết, là chi thứ thứ ba trong mười haichi duyên khởi. Theo nguyên ngữ của vijñāna thì có nghĩa làphân tích, phân loại đối tượng để sau đó cho chúng tanhận biết tác dụng về chúng trong những thời kỳ đầukhi đức Đạo sư còn tại thế; nhưng mãi đến những thờikỳ phát triển sau này, chúng có khi được định nghĩa nhưlà một citta (tâm) hay của một mano (ý) cả Đại thừa lẫnTiểu thửa cùng chấp nhận. Trong thời kỳ đức Phật còntại thế Ngài tùy thuộc vào căn cơ, môi trường xã hội,mà nói pháp nên chưa có bất cứ hệ thống nào, nên việcsử dụng mang tính cách hỗn hợp, tùy duyên tùy căn cơ, tùythời tùy đối tượng mà nói. Đó là cách định nghĩa chungcho Thức trên mặt phổ quát; tuy nhiên thức trong những thờiký phát triển sau này qua các bộ phái thì chúng được sắpxếp trở lại có hệ thống hơn; hay cũng có những địnhnghĩa chuyên môn và lệ thuộc vào những thuộc tính mà nhữngbiểu thức, chúng muốn chúng ta đề cập đến sự lệ thuộcđó qua từng thuộc tính một. Như thức của tiền ngũ thứcchúng mang bộ mặt của thức uẩn chưa qua tác ý, nên chưacó sự phân biệt, phân tích hay phân chia, chỉ là một thứrõ biết về sự hiện diện của một đối tượng như làchính nó chưa qua bất cứ danh tự hay danh xưng nào khác dotác ý can thiệp vào, nên mỗi thức tự mang thuộc tính củachính mình, như nhãn thức chỉ thuộc của thức về mắt thôi… cho đến thân thức chỉ thuộc thức về thân thôi. Thứcở đây chỉ là những cảm giác đơn thuần tác dụng khi cáccăn của chúng ta tiếp xúc với các đối tượng bên ngoàisinh ra; nhưng chúng chưa đủ để có sự nhận thức phân biệtvề đối tượng. Ở đây chỉ có đệ lục thức của ý mới tổng hợp được những đối tượng của các pháp rơirớt lại từ tiền ngũ thức cộng với ý tưởng khởi lênhình ảnh làm đối tượng cho ý duyên mà phát sinh ý thứccó đầy đủ sự nhận thức phân biệt đối với các hiệntượng sự vật đó mà sinh ra tác dụng; nhưng vẫn còn dạngđơn thuần theo chức năng của ý thức.

Nhưvậy đối với thức của tiền ngũ thức chỉ đơn thuầncó được do sự tiếp xúc căn và cảnh mà sinh ra thức. Thứcnày được gọi là các biệt cảnh thức, thức thuộc vềmỗi quang năng độc lập giao tiếp với đối tượng sinh rathức độc lập. Trong khi thức của đệ lục thì không chỉtác dụng đối với chính nó đệ lục ý thức mà còn đồngkhởi lên cùng với tiền ngũ thức nữa, nên thường gọilà nhất thiết cảnh thức, nó có khả năng biến duyên khắptất cả cảnh nội cũng như ngoại bất luận là hữu hìnhhay vô hình trong ba thời, theo chức năng của nó.

Đốivới các nhà Đại và Tiểu thừa đều chấp nhận ý nghĩathuyết lục thức tối sơ trong lục thức, tức là ý thứccủa lục thức. Sau này lục thức được triển khai theo xuthế phát triển các bộ phái thì lục thức được mang cóđến mười tên gọi khác nhau tùy theo các bộ phái và nhậnthức của từng khía cạnh thuộc tính của nó như: phú dưlục thức, ý thức, phân biệt sự thức, tứ trụ thức, phànduyên thức, tuần cựu thức, ba lãng thức, nhơn ngã thức,phiền não chướng thức, phân đọan tử thức. Ngoàilục thức này ra, trong tông Duy thức còn đề cập đến Mạt-nathức và, A-lại-da thức thành lập thành tám thức và, tiềnthất thức lấy A-lại-da thức làm chỗ dựa cho bảy thứctrên mà duyên các cảnh chuyển khởi nên thường gọi là thấtchuyển thức hay chuyển thức. Ở trên tiền lục thức cókhả năng phân biệt rõ ràng đối tượng cho nên còn gọilà liễu biệt cảnh thức (thức phân biệt riêng từng đốitượng). Riêng thức thứ bảy gọi là tư lương thức (thứctư duy cân nhắc) và thức thứ tám A-lại-da gọi là dị thụcthức (thức thể nhân quả nghiệp báo). Hành giả nào muốntham cứu kỹ hơn thức theo các chủ trương của các kinh luậnvà các bộ phái khác xin đọc Kinh Tạp A-hàm 36, Câu xá luận2, 9, Thành duy thức luận 5, Đại thừa khởi tín luận, Lănggià kinh 1, Nhiếp luận thích, Nhiếp luận tông v.v…

Riêngở đây chúng tôi xin trình bày thức phù hợp với đề tàimười hai duyên khởi theo đức Đạo sư trong kinh Tạp A-hàm39 Đ. 2, trang, 286 b thì, “Lúc bấy giờ ma Ba tuần nói kệ:

Trêndưới cùng các phương

Tìmkhắp thần thức kia

Đềukhông thấy nơi này

Cù-đê-caở đâu?”

Ởđây, thức được quan niệm như là chủ thể của tâm thức,tức chỉ cho tâm hay còn gọi là thần thức (xem kinh đã giớithiệu trên) sau khi thân hoại mạng chung sẽ tùy theo nghiệpthức mà đi nhận lãnh một thân mới trong ba cõi sáu đườngvà, có chỗ khác như kinh Nghĩa túc Đại 4, trang 179 a thì,thần thức được coi như là sinh mệnh:

“Tấtcả bỏ đời, đến nơi nào? Thần thức bỏ đi, danh còn ởđời.”

Sựhiện hữu và biến dịch của một sinh mệnh luôn tùy thuộcvào nhân và duyên đủ để hình thành cộng vào với thờigian và không gian để hiện hữu và biến mất qua thần thức.Đó là quan điểm có được từ các bộ kinh nguyên thỉ đượcchính đức Đạo sư nói ra.

4/Danh sắc, là từ ghép của namā (danh) và rūpa (sắc) là chithứ tư của mười hai chi duyên khởi. Đây là chi gọi chungcho một sinh thể được kết hợp giữa tâm (tinh thần) vàvật (vật chất) trong một cá thể mà thuật ngữ chuyên môngọi là ngũ uẩn (sắc chỉ cho hình sắc thân thể của mộtcá nhân, còn thọ, tưởng, hành, thức chỉ cho tâm thức khôngcó hình thể để có thể nhận thấy như vật thể của sắc)có được từ sự kết hợp nhân duyên mà hình thành và hiệnhữu. Ở đây danh chỉ cho phương diện tâm, còn sắc chỉcho phương diện vật chất.

Quanhệ và ý nghĩa giữa danh và sắc thì theo các bộ phái pháttriển sau này vẫn có những bất đồng về cách giải thíchtheo quan điểm nhận thức, vì trình độ căn cơ và việc tuchứng đẻ ra. Theo Hữu bộ thì, thai sinh (danh sắc) đã hìnhthành được căn cứ vào mười hai duyên khởi mà lý giảithì, trong mỗi chi như vậy đều lấy ngũ uẩn làm thể chonó. Ở đây ngũ uẩn sẽ xuất hiện khi thần thức thác thaisinh ra kết quả trong vòng một sát-na tích tắc ban đầu, thờigian này còn gọi là thức, là chi thức trong mười hai chi.Sau khi thần thức thác thai xong, nhưng lúc đó bốn sắc cănchưa phát khởi và, trước khi lục xứ chưa đầy đủ. Trongthời gian này gọi là danh sắc hay còn gọi là chi danh sắc,trong khi đó theo các nhà Duy thức tông thì, cho rằng chủngtử của dị thục (quả báo) uẩn chính là danh sắc. Do vậytrong mười hai duyên khởi ngoại trừ chủng tử của thứcgốc, lục căn, xúc và, thọ ra còn tất cả những chi khácđều thuộc vào danh sắc.

5/Lục xứ (nhập), tiếng Phạn gọi là ṣaḍ-āyatana chỉ chomắt, tai, mũi, lưỡi, thân và, ý, chính là sáu nơi (sáu căn)có khả năng tiếp thu sáu ngoại cảnh (lục xứ) ở bên ngoàivà, làm chỗ nương cho lục thức sinh ra cho nên gọi là xứ.Còn lục căn là sáu nơi vào thuộc bên trong thân của mộtchủ thể và, lục cảnh là sáu đối tượng đi vào thuộcbên ngoài thân thường được gọi chung là mười hai nhậphay, mười hai xứ.

Tómlại nếu lục căn và lục cảnh hỗ tương phối hợp vàonhau mà sinh ra lục thức thì gọi là nhập; còn lục căn lụcthức khi làm chỗ nương tựa cho lục thức phát sinh thì gọilà xứ. Nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn đến lục nhập làchi thứ năm trong mười hai chi duyên khởi thì, lục nhập cóđược nhờ duyên vào danh sắc để hình thành. Chính sự hiệnhữu của lục nhập cũng là duyên để cho xúc hiện hữu chonên lục nhập vừa là nhân của chính nó vừa là duyên đểlàm chỗ nương tựa (sở y) cho xúc hiện hữu.

6/Xúc, tiếng Phạn gọi là sparśa, Pāli gọi là phassa, nó làhình thức tác dụng của tâm, là một trong những tâm sở,là chỉ cho sự giao tiếp tiếp xúc giữa các cơ quan truyềncảm của các cơ năng (căn) trong thân của một cá thể đốivới các trần cảnh đối tượng bên ngòai để cho ra nhậnthức (thức). Ba quan năng này khi hòa hợp với nhau sản sinhra tác dụng của tinh thần; cũng chính là những cảm giáccó được, được sản sinh ra bỡi do sự tiếp xúc giữa chủthể và đối tượng, giữa chủ quan và khách quan. Như vậytheo trên chúng ta có sáu căn, sáu trần, sáu thức khi chúngtiếp xúc tiếp cận nhau tạo ra sáu xúc (lục xúc thân), chúngtùy thuộc vào sự tương ưng của nhiễm ô hay trong sạch màcó tên gọi khổ-vui hay không khổ không vui.

Ởđây xúc thuộc chi thứ sáu, được chúng ta căn cứ vào mườihai duyên khởi mà giải thích thì, xúc theo các nhà Hữu bộcăn cứ vào phân vị của nó trong duyên khởi, nó thuộc vàothời kỳ còn là anh nhi trẻ thơ nên sự tiếp xúc của sáucăn trong thân, sáu trần cảnh bên ngoài, sáu thức sinh ra nhưngchưa có một tác ý vào nên chưa có sự phân biệt khác nhauđược trong khổ đau hay khoái lạc khi tiếp xúc chúng, vìnhững cảm giác này chưa có sự can thiệp của ý.

7/Thọ, Phạn ngữ gọi là vedanā, có nghĩa là cảm thọ, cảmgiác. Thọ được phát sinh từ sự duyên khởi liên hệ lệthuộc hợp tác giữa sáu cảm quan ( sáu căn) trong thân mỗicá thể, sáu đối tượng trần cảnh ở bên ngoài (sáu trần),cùng các chủ thể nhận thức (sáu thức) hòa hợp tiếp xúcvào nhau mà hiện khởi ra cảm thọ hay, cảm giác. Trong nhữngtrạng thái cảm thọ, cảm giác này có sự can thiệp củaý nên thọ ở đây có trạng thái buồn, vui, không khổ khôngvui phát sinh tùy theo thuộc tính cảm thụ của chúng. Ở đâytrạng thái buồn vui tùy thuộc vào sự tác ý lãnh nạp thuậnnghịch đối với mọi sự phân biệt của ý còn bảnthân của căn trần, xúc không quyết định được những trạngthái này, mà chúng có được nhờ vào sự can thiệp của ýtác động thuộc tinh thần, nên có những cảm thọ hay nhữngcảm giác khổ, vui, hoặc không khổ không vui.

Theokinh Tạp A-hàm 17 thì, thọ có từ một, hai, ba, bốn, năm,sáu … cho đến vô lượng thọ chúng tùy thuộc vào tự tướngtừ khổ khổ, hoại khổ, hành khổ, tất cả khổ của mộtthọ cho đến vô lượng thọ chúng hiện hữu trong quá khứhiện tại và tương lai ba đời khác nhau.

TheoCâu xá luận 1 thì, sự lãnh nạp của thọ tùy thuộc vàoxúc; còn theo Chánh lý luận 2 thì, cho rằng thọ được lãnhnạp từ cảnh sở duyên (trần cảnh bên ngoài) nên gọi làchấp thủ thọ; còn lãnh nạp từ sở tùy duyên thì gọi làtự tánh thọ. Theo A-tỳ-đạt-ma tạng hiển tông luận 2 thì,nếu thọ lãnh nạp từ sở duyên mà luận nghĩa thì trong nhấtthiết tâm mọi tâm sở đều gọi là thọ cả, đặc biệtchỉ cho sự lãnh nạp tùy thuộc vào xúc. Theo Ngũ sự Tỳ-bà-saluận quyển hạ thì, thọ được lãnh nạp từ cảnh sở duyên.Theo Thành Duy thức luận 3, Thành Duy thức luận thuật ký 3thì, cho rằng thọ không thể duyên cùng xúc mà câu sanh, chonên thọ lãnh nạp theo tướng của các cảnh giới thuận nghịch,đó là nghĩa của nó.

Trênlà nghĩa của thọ theo kinh luận, nhưng ở đây chúng ta luậntheo nghĩa của mười hai chi duyên khởi, đối với thọ làchi thứ 7 của mười hai chi duyên khởi. Chi này chỉ cho thờithơ ấu thiếu niên của một cá thể đối với khổ, vui cùngcác trạng thái cá thể nhận biết và phận biệt ra một cáchrõ ràng. Theo Thuyết nhất thiết Hửu bộ đối với phân vịduyên khởi mà nói thì, tuổi ấu thời tuy tri giác về khổ,vui, nhưng vẫn chưa sinh khởi dâm ái, lúc này mới gọi làthọ; ở đây liên hệ với thể của năm ấm mà không lấythọ để làm thể. Theo các nhà Duy thức thì, dùng vô minhvà hành làm chi năng dẫn (dẫn đạo), còn thức cho đến thọchỉ là chi tùy thuộc (sở dẫn); lại nữa vô minh và hànhthuộc chủng tử chủ thể huân tập (năng huân), còn năm chi,thức cho đến thọ thuộc về chủng tử đối tượng huântập (sở huân). Ở đây có nghĩa là thức, danh sắc, lụcxứ, xúc … do vô minh, hành mà ảnh hưởng đến chủng tửcủa A-lại-da thức cho nên gọi là thọ.

8 /Ái, Phạn ngữ gọi là tṛṣṇā, Pāli gọi là piya, là chithứ tám trong mười hai chi duyên khởi, có nghĩa là tham luyếnchấp trước đối với tất cả mọi sự vật nói chung vàcon người nói riêng. Thông thường chữ ái được hiểu theomột nghĩa là thương yêu, tham luyến một chiều; nhưng đốivới Phật giáo thì ái mang hai bộ mặt trái ngược nhau nhưkinh Tăng chi bộ thì ái được đức Đạo sư định nghĩanhư sau: “ái có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét;ghét có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét.” Cho nênPhật giáo bảo yêu là ghét, ghét là yêu là từ ý nghĩa này.

Nhưkinh Pháp cú trong kệ 212 đức Phật dạy:

“Từái sinh lo âu

Từái sinh sợ hãi

Lìaái không lo âu

Nơinào có sợ hãi?”

Từái nền tảng cơ bản này mà sinh ra bốn loại ái khác nhau:Thân ái (pema), dục lạc (rati), ái dục (kāma), khát ái (taṇhā).Về phương diện khác thì ái là một trong chín kết còn gọilà tùy thuận kết, tức là đối với cảnh sinh tham luyếnnhiễm trước phiền não. Đó là đối với phiền não ác,còn đối với phiền não thiện tức là chỉ cho tâm khôngnhiễm ô thì ái lạc pháp (yêu pháp vui) hay, yêu mến sư trưởngcũng thuộc về ái đối với giải thóat vẫn là pháp chướngngại đạo. Theo Câu xá luận 4 thì, “Ái có nghĩa là ái lạc,thể của nó là lòng tin, song ái có hai: ‘một là có nhiễmô, hai là không nhiễm ô. Có nhiễm ô gọi là tham, như yêuvợ con … Không nhiễm gọi là tín, như yêu sư trưởng’...”

9 /Thủ, Phạn ngữ gọi là upādāna, là một tên gọi củaphiền não, nó là chi thứ 9 trong mười hai chi duyên khởi,tức là chỉ cho lòng chấp trước vào đối cảnh từ chi thứ8 tức là ái chủ động thúc đẩy dẫn sanh đưa đến hiệnhành mọi họat động nhiệt thành tích cực hơn trong việcchấp thủ.

TheoThuyết nhất thiết Hữu bộ thì vấn đề phân vị của thủtrong mười hai duyên khởi cho rằng: Thủ là chỉ cho thờikỳ thanh niên của một sinh thể hiện hữu đối với dâm,thực vấn đề khát ái trở nên đòi hỏi và thúc đẩy nhiềuhơn, cho nên việc tìm cầu để thõa mãn nó thì chúng sinhkhông biết mệt mỏi, giai đọan này gọi là thủ (chấp thủ:nắm giữ không để mất). Nhưng đối với Kinh bộ thì, dựavào nghĩa sát-na duyên khởi mà định nghĩa thủ là chỉ chodục tham cùng các thứ phiền não; cho đến vì hành tướngcủa nó mạnh mẽ sắc bén có thể khiến cho lửa nghiệp cháybừng mà giải thích nghĩa cho nó.

Theocác nhà Đại thừa Duy thức tông thì, lấy thủ nhiếp giữđối với chi năng sinh mà liên hệ với các thể phiền nãothông suốt đối với các chủng tử hiện hành.

Ngòaira, thủ còn phân ra làm bốn loại: là Dục thủ, kiếnthủ, giới cấm thủ, ngã ngữ thủ. Vì chúng sanh là chủthể nên được gọi là năng thủ; đối lại với đối tượngngoại tại là khách thể, nên gọi là sở thủ.

10/Hữu, Phạn ngữ gọi là bhava, có nghĩa là tồn tại, sinh tồn,sự hiện hữu. Trong Phật giáo hữu được sử dụng rấtrộng rãi về ý nghĩa cũng như cách phân loại phần nhiềukhông giống nhau trong chủ trương của các bộ phái phát triểnsau này. Tuy nhiên trên đại thể vẫn có tiếng nói chung chủyếu chỉ chung thể của quả dị thục của các chúng sanhhữu tình cùng khả năng chiêu cảm các nghiệp của thể quảdị thục này cũng phát xuất từ nghiệp nhân thiện ác, đểtừ đó chiêu cảm quả báo khổ-vui, các loại nhân quả báoứng này luôn luôn tương tục không mất cho nên gọi là hữu.

TheoCâu xá luận 9, Thành Duy thức luận 8 thì, nghiệp hay dẫndắt quả báo trong tương lai chúng ta gọi nó là “hữu”Đây chính là “chi hữu” trong mười hai duyên khởi.

Hữutheo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì các pháp tồn tại thậthữu trong ba đời; nhưng theo các nhà Duy thức thì lấy cácpháp Y tha khởi tự tánh làm “giả hữu” lấy Viên thànhthật tự tánh làm “thật hữu”, chỉ có thật hữu nàycùng với thật hữu ba đời của Thuyết nhất thiết hữubộ thì ý nghĩa không đồng, vì theo các nhà Duy thức họcchỉ có thật tánh (chân như) của các pháp là thường tồntại không bị sinh diệt chi phối, còn mọi hiện tượng doduyên sinh và do duyên diệt thì sự hiện hữu của chúng làgiả hữu, cho nên các nhà Duy thức đặc xưng là diệu hữuhay chân hữu.

Tómlại hữu được các bộ phái sau này tùy theo quan điểm vàcảm thụ sở đắc của họ đối với những lời dạy củađức Phật, nên từ đó hữu được phân ra làm nhiều loại:Tam hữu (dục, sắc, vô sắc giới), Thất hữu (địa ngục,ngạ quỷ, súc sinh, nhơn, thiên, nghiệp, trung hữu), Nhị thậpngũ hữu (bao quát chi tiết từ ba đường ác, bốn châu, cáctầng trời, các cõi thiền… cho đến vô sắc giới thiên.),Nhị thập cửu hữu… nói chung là tất cả các loài hữutình chịu sinh tử luân hồi trong ba cõi sáu đường đềuthuộc vào sự lệ thuộc của Hữu.

11/ Sanh, Phạn ngữ gọi là jāta, Pāli gọi là jāti, có nghĩalà sinh khởi từ nghiệp lực quá khứ đưa đến kết quảtrong tương lai một cách chính xác theo nghĩa của chi thứ mườimột trong mười hai chi duyên khởi. Theo Câu xá luận 9 thì,sự quan hệ này chỉ cho thác thai vào đời vị lai từ mộtsát-na được kết sinh. Song theo duy thức tông thì, sự giảithích nghĩa của nó lại rộng hơn, chấp nhận từ ‘trunghữu’ đến ‘bổn hữu’ chưa có trung gian của lão suy nênchi sanh thâu nhiếp cả.

- Sanhlà một trong bốn tướng (sanh, trụ, dị, diệt) là hiện tượnghiện khởi tương tục qua bốn tướng, tức pháp hữu vi sanhtừ thời vị lai cho đến thời hiện tại.

- Sanhnày là một hiện tượng của sức mạnh sanh xuyên suốt, sứcmạnh này do thật thể mang lại cho chúng ta lý giải từ sanhtrụ dị diệt trong duyên khởi.

- Sanhlà một trong bốn hữu, tức sanh hữu, là sanh trong hiện tại,sát-na khi thác thai thọ sanh vẫn sanh tồn không biến mất,nó được gọi là kết sanh hay là thọ sanh.

- Sanhcòn chỉ cho nghĩa sanh tồn của cuộc sống. Cuộc sinh tồntrong hiện tại được gọi là kim sanh; sự sanh tồn trong quákhứ, vị lai thì được gọi là tha sanh.

- Chúngsanh y vào sự sai khác của thọ sanh tùy theo đó mà chúng tacó thể phân loại. Như thai sanh, thấp sanh, nõan sanh, hóa sanh,đó là bốn loại sanh. Ngòai ra còn có hữu sắc, vô sắc,hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng ở trongchín loài sanh hay mười hai loài sanh.

12/ Lão tử, Phạn ngữ gọi là jarā-maraṇa, là hai từ ghéplại với nhau từ jarā, tức là già và, từ maraṇa có nghĩalà chết, chúng là từ ghép thuộc chi thứ mười hai trong mườihai duyên khởi, chỉ cho lúc chúng sanh cá thể suy biến đưađến họai diệt. Căn cứ vào nhân quả hai lớp ba đời mànói thì, sinh chi và lão tử chi là hai quả của đời vị lai,đối với đời hiện tại sau khi bỏ thân mạng, đó chínhlà lúc bắt đầu hình thành thân mạng mới trong thời gianmột sát-na để năm uẩn tích hợp trở lại, lúc này gọilà chi sanh; ở đây sát-na thức sanh khởi trở về sau theođó danh sắc xuất hiện, lục xúc bắt đầu họat động,thọ, ái dần dần tăng thêm cho đến khi nào tất cả đềubiến đổi diệt đi thì gọi là lão tử. Ở trong đây, lãolà trạng thái suy biến của sắc và tâm, còn tử là thọmạng đã hết nên diệt hoại.

Ngoàira, các nhà Duy thức lấy nhân quả một lớp hai đời đốivới mười hai duyên khởi thì sanh cùng lão tử là chi sởsanh, từ ba chi ái, thủ, hữu đối tượng sanh ra sự suy biếncủa quả báo năm uẩn cùng thân hoại mạng chung mời là chilão tử.

TheoThành duy thức luận 8 thì, trong bốn hiện tượng sanh, lão,bệnh, tử, thành lập sanh là một chi, lão và tử hợp nhaulại thành một chi, còn bệnh thì không không đưa vào trongchi nào là do bệnh không mang tính phổ quát cho tất cả mọiloài chúng sanh, còn lão thì tự thân nó vẫn mang tính phổquát cho mọi chúng sanh không ai tránh khỏi lão cho nên lậpnó vào một chi với tử.

Trênlà tất cả mọi ý nghĩa và nội dung có được của mườihai chi duyên khởi với ý nghĩa riêng và chung của chúng. Dướiđây chúng tôi sẽ trình bày phần liên hệ lệ thuộc vàonhau để chúng hiện khởi trong sinh diệt theo hai chiều lưuchuyển và hòan diệt của mười hai duyên khởi.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/12/201203:38(Xem: 15426)
Là người mới bắt đầu học Phật, tôi nhận thấy quyển sách nhỏ này thể hiện tốt tinh thần vừa giáo dục vừa khai sáng. Mặc dù đạo Phật có bề dày lịch sử phong phú, đầy những giá trị, điều cần thiết đối với người học Phật ngày nay vẫn là làm thế nào để ứng dụng lời đức Phật dạy vào đời sống hàng ngày. Quyển 100 điều đạo đức tại gia này giúp tôi hiểu tầm ảnh hưởng của đạo Phật đối với cuộc sống thường nhật của con người. Nó có thể được xem như quyển sổ tay hướng dẫn chúng ta sống cuộc đời theo chánh pháp.
15/01/201109:42(Xem: 10456)
Điều làm cho một người trở thành một Phật tử chân chính là người ấy tìm nơi nương tựa ở Đức Phật, Giáo pháp, và chư Thánh Tăng - gọi là Quy Y Tam Bảo.
11/10/201001:57(Xem: 2335)
BA PHÁP ẤN - Edward CONZE - Bản dịch Hạnh viên
06/11/201014:48(Xem: 3572)
Bát Chánh Đạo rất dễ nhớ, nhưng ý nghĩa của chúng thâm sâu và đòi hỏi một sự hiểu biết về nhiều lãnh vực liên quan trong giáo lý của Đức Phật.
27/05/201201:35(Xem: 6863)
Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Đức Đạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn. Những đệ tử được Thế Tôn hóa độ, do căn cơ trình độ, tuổi tác, giới tính bất đồng, vì thế được chia thành 7 nhóm và được gọi là 7 chúng đệ tử của Phật. Trong đó, hai nhóm đầu là Ưu bà tắc và Ưu bà di thuộc hàng đệ tử tại gia; năm nhóm sau là Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na, Tỷ kheo và Tỷ kheo ni thuộc hàng đệ tử xuất gia. Trong bài này, chúng tôi sẽ tuần tự trình bày những giới pháp mà mỗi chúng đệ tử phải lãnh thọ, hành trì trên lộ trình tiến đến giải thoát.
01/02/201111:31(Xem: 8216)
Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ "buddhi", có nghĩa "giác ngộ", "thức tỉnh".
23/10/201022:03(Xem: 4851)
Trên đời này có những người có chánh kiến, tin rằng sự bố thí cúng dường sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp; các hành vi thiện ác đều dẫn đến quả báo; đồng thời cũng tin rằng có những người chân chánh hành trì Chánh pháp, tuyên bố những điều do tự mình thể nghiệm và chứng ngộ. Do nguyên nhân chánh kiến này mà một số loài hữu tình sau khi mệnh chung được sinh vào thiện thú, cõi đời này (Trung Bộ kinh I)
02/02/201108:54(Xem: 3189)
Tập sách này gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Vô Thượng Thậm Thâm Vi Diệu Pháp, những điều cụ thể, thiết thực...
05/04/201317:10(Xem: 224)
Để thảo luận vấn đề thường được nhiều người hỏi: sự khác nhau giữa đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy là gì? Để hiểu được điều này chính xác, chúng ta hãy ôn lại lịch sử của đạo Phật và tìm nguồn gốc của đạo Phật Đại thừa và đạo Phật Nguyên thủy.
09/04/201605:02(Xem: 8659)
Đôi lời về Xá Lợi Phật_Lạt Ma Zopa Rinpoche_Hồng Như dịch, Bảo Tháp thờ Xá Phật còn sót lại ở Thành Tỳ Xá Ly, Ấn Độ (hình phái đoàn hành hương Phật tích Ấn Độ của Tu Viện Quảng Đức tháng 11-2006)