Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 25: Quán niết-bàn

09/04/201113:20(Xem: 3577)
Chương 25: Quán niết-bàn

LONG THỌ BỒ TÁT Nàgàrjuna
TRUNG LUẬN Màdhyamaka-Śàstra
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư CƯU-MA-LA-THẬP Kumārajīva
Việt dịch THÍCH NỮ CHÂN HIỀN
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo - Hà Nội PL. 2546 - DL. 2003

CHƯƠNG XXV: QUÁN NIẾT BÀN

Hỏi:

Nếu tất cả pháp không,

Không sanh cũng không diệt;

Đoạn cái gì, diệt gì,

Mà gọi là Niết-bàn? [1]

Nếu tất cả pháp Không thì không sanh, không diệt. Không sanh, không diệt, thì đoạn cái gì, diệt cái gì mà gọi Niết-bàn? Thế nên, tất cả pháp không thể Không. Bởi vì pháp là bất không, cho nên đoạn các phiền não, diệt ngũ ấm gọi là Niết-bàn.

Đáp:

Nếu các pháp bất không,

Thì không sanh, không diệt.

Đoạn cái gì, diệt gì,

Đó gọi là Niết-bàn ?[1] [2]

Nếu tất cả thế gian là bất không, không có sanh diệt; đoạn cái gì, diệt gì mà gọi là Niết-bàn? Thế nên, hai cánh cửa có và không chẳng mở vào Niết-bàn. Được gọi là Niết-bàn:

Không đắc cũng không đến[2],

Không đoạn cũng không thường;

Không sanh cũng không diệt,

Ấy gọi là Niết-bàn. [3]

Không đắc, không có gì là sở đắc đối với hành và đối với quả. Không đến, là không chỗ nào để đạt đến. Không đoạn, là năm ấm từ trước đến giờ rốt ráo Không; khi đắc đạo, nhập Vô dư Niết-bàn cũng không có cái bị đoạn trừ. Không thường là, nếu có pháp nào có thể phân biệt được tức gọi là thường. Niết-bàn là tịch diệt, không có pháp nào có thể phân biệt, nên không gọi thường. Sanh diệt cũng vậy. Tướng như thế gọi là Niết-bàn.

Lại nữa, Kinh nói Niết-bàn chẳng phải có; chẳng phải không; chẳng phải vừa có vừa không; chẳng phải vừa chẳng có vừa chẳng không. Đối tất cả pháp mà không thọ, nội tâm tịch diệt; đó là Niết-bàn. Vì sao?

Niết-bàn không gọi có,

có tức tướng lão tử.

Không hề có pháp có,

Lìa tướng lão tử ra.[3] [4]

Nhận thấy thực tế rằng tất cả vạn vật đều sanh diệt, là tướng già chết. Niết-bàn nếu có thì cũng phải có tướng già chết. Song điều ấy không đúng. Cho nên Niết-bàn không gọi là có. Lại không thấy lìa sanh tử riêng có pháp cố định nào gọi là Niết-bàn. Nếu Niết-bàn là Có, tức có tướng sanh diệt, già chết. Bởi vì lìa tướng già chết mà gọi là Niết-bàn.

Lại nữa:

Nếu Niết-bàn là hữu,

Niết-bàn tức hữu vi.

Không có pháp hữu nào,

Mà gọi là vô vi. [5]

Niết-bàn chẳng phải là hữu. Vì sao? Tất cả vạn vật từ các duyên sanh khởi, đều là hữu vi không có một pháp nào gọi là vô vi. Tuy pháp thường hằng được giả danh là vô vi, nhưng dùng lý suy xét, pháp vô thường còn không có huống là pháp thường hằng. Vì không thể thấy, không thể đắc.

Lại nữa:

Nếu Niết-bàn là hữu,

Làm sao gọi vô thủ[4]?

Không có một pháp nào,

Chẳng từ thủ mà hữu.[5] [6]

Nếu nói Niết-bàn là pháp có (hữu thể) thì kinh tất không nên nói Vô thủ là Niết-bàn, Vì sao? Chẳng có pháp có (hữu thể) nào không có thủ mà hiện hữu. Thế nên Niết-bàn chẳng phải có (hữu thể).

Hỏi: Nếu có chẳng phải Niết-bàn thì không là Niết-bàn chăng?

Đáp:

Có[6] còn chẳng Niết-bàn,

Huống là không[7] ấy ư!

Niết-bàn không có Hữu,

Chỗ nào sẽ có Vô? [7]

Nếu có (hữu) chẳng phải Niết-bàn thì không (vô) làm sao là Niết-bàn? Vì sao? Nhơn có hữu nên có vô; nếu không cái hữu làm gì có cái vô. Như kinh nói, “Trước có nay không thì gọi không (vô).” Niết-bàn không phải thế. Tại sao? Vì chẳng phải là pháp có (hữu) biến đổi thành không (vô), nên cái không (vô) cũng chẳng trở thành Niết-bàn.

Lại nữa:

Nếu Niết-bàn là không(vô),

Làm sao nói không thủ?

Chưa từng có vô thủ,

Mà gọi là pháp không (vô)[8]. [8]

Nếu nói không (vô) là Niết-bàn; thì kinh tất đã không nói, “không chấp thủ là Niết-bàn.” [9] Vì sao? Không có trường hợp nào không chấp thủ mà được gọi là pháp không (vô pháp). Thế nên Niết-bàn chẳng phải không (vô ).

Hỏi: Nếu Niết-bàn chẳng phải hữu chẳng phải vô, thì cái gì là Niết-bàn?

Đáp:

Chấp thủ các nhân duyên,

Luân chuyển trong sanh tử.

Không thủ các nhân duyên,

Ấy gọi là Niết-bàn[10]. [9]

Bởi không biết như thật những điên đảo, nhơn năm thủ ấm mà qua lại trong sanh tử. Vì biết như thật các thứ điên đảo thì không trở lại chấp thủ năm thủ ấm qua lại sanh tử. Do năm ấm vốn không tự tánh chẳng còn tiếp nối trở lại, gọi đó là Niết-bàn.

Lại nữa:

Như trong kinh Phật dạy:

Đoạn hữu, đoạn phi hữu.

Thế nên biết, Niết-bàn

Chẳng có cũng chẳng không. [10]

Hữu chỉ cho ba cõi. Phi hữu chỉ cho sự đoạn diệt của ba cõi. Phật dạy đoạn trừ hai sự này, nên biết Niết-bàn chẳng phải hữu cũng chẳng phải vô.

Hỏi: Nếu hữu hay vô đều không chẳng phải là Niết-bàn, nay hữu và vô chung hiệp, đó là Niết-bàn chăng?

Đáp:

Nói sự hữu và vô,

Hiệp lại thành Niết-bàn.

hữu, vô tức giải thoát,

Điều ấy thì không đúng. [11]

Nếu nói sự hợp nhất hữu và vô là Niết-bàn; tức là hợp nhất hai điều hữu và vô thành giải thoát; điều ấy không đúng. Vì sao? Hai sự thể hữu và vô trái nhau, làm thế nào cùng tồn tại ở một chỗ?

Lại nữa:

Nếu nói hữu và vô,

Hiệp lại thành Niết-bàn.

Niết-bàn phi vô thủ,

Hai sự từ thủ sanh. [12]

Nếu hữu và vô hiệp thành Niết-bàn thì kinh không nên nói Niết-bàn là vô thủ. Vì sao? Hai điều hữu và vô từ thủ mà sanh, đối đãi nhau mà có; thế nên hai điều hữu và vô chẳng thể hiệp thành Niết-bàn.

Lại nữa:

Hữu, vô chung hiệp thành,

Làm sao gọi Niết-bàn?

Niết-bàn là vô vi,

Hữu vô là hữu vi. [13]

Hai sự thể hữu và vô chung hiệp không thể gọi Niết-bàn. Niết-bàn là vô vi. Hữu và vô là hữu vi. Thế nên hữu và vô chẳng phải Niết-bàn.

Lại nữa:

Hai sự hữu, vô hiệp,

Làm sao là Niết-bàn?

Hai sự không cùng chỗ,

Như sáng, tối bất đồng. [14]

Hai điều hữu và vô, chẳng thể gọi Niết-bàn, Vì sao? Hữu và vô mâu thuẫn nhau, không thể có chung một chỗ. Như sáng và tối không cùng chung. Thế nên, lúc có thì chẳng thể không, khi không thể chẳng thể có. Làm thế nào Có và Không chung hiệp mà gọi Niết-bàn?

Hỏi: Nếu hữu và vô chung hiệp chẳng phải Niết-bàn; nay chẳng phải hữu chẳng phải vô, nên là Niết-bàn chăng?

Đáp:

Nếu phi hữu phi vô,

Gọi đó là Niết-bàn;

Phi hữu phi vô này,

Do đâu mà phân biệt? [15]

Nếu Niết-bàn là phi hữu phi vô; phi hữu phi vô này do đâu mà phân biệt? Thế nên, phi hữu phi vô là Niết-bàn, điều ấy không đúng.

Lại nữa:

Phân biệt phi hữu vô,

Như thế là Niết-bàn.

Nếu hữu, vô thành tựu,

Phi hữu phi vô thành. [16]

Ông phân biệt phi hữu phi vô là Niết-bàn; điều ấy không đúng. Vì sao? Nếu hữu vô mà thành nhiên phi hữu phi vô mới tựu thành. Trái hẳn với hữu gọi là vô; trái hẳn với vô gọi là hữu. Hữu vô ấy, trong cú nghĩa thứ ba đã phá. Vì không có hữu vô, làm thế nào có phi hữu phi vô? Thế nên, Niết-bàn chẳng phải phi hữu, chẳng phải phi vô.

Lại nữa:

Như Lai sau diệt độ,

Không nói Có cùng Không.

Cũng không nói Có Không,

Chẳng Có và chẳng Không. [17]

Như Lai đang hiện tại,

Không nói Có cùng Không.

Cũng không nói Có không.

Chẳng Có và chẳng Không. [18]

Như Lai sau khi diệt độ, hoặc đang hiện tại, mà nói rằng có Như Lai, không được thừa nhận[11]; nói rằng không có Như Lai, cũng không được thừa nhận; vừa có Như Lai vừa không có Như Lai, cũng không được thừa nhận; chẳng phải có Như Lai, chẳng phải không Như Lai cũng không được thừa nhận. Bởi vì không chấp thủ, không nên phân biệt Niết-bàn là hữu hay vô. Lìa Như Lai ra, ai sẽ chứng đắc Niết-bàn? Khi nào, ở đâu? bằng pháp gì mà nói đắc Niết-bàn? Thế nên, tất cả thời, và mọi cách, tìm tướng Niết-bàn không thể được.

Lại nữa:

Niết-bàn cùng thế gian,

Không có chút phân biệt.

Thế gian và Niết-bàn,

Cũng không chút phân biệt. [19]

Vì nhân duyên năm ấm tương tục qua lại mà gọi là thế gian. Tánh của năm ấm hoàn toàn không, không chấp thủ, tịch diệt; nghĩa này trước đã nói. Bởi vì tất cả pháp không sanh, không diệt; nên thế gian không khác biệt Niết-bàn; Niết-bàn cũng không khác biệt thế gian.

Lại nữa:

Thật tế của Niết-bàn,

Và thật tế Thế gian.[12]

Như thế hai thật tế

Không hào ly sai biệt. [20]

Cứu cánh tìm kỹ, thật tế của Niết-bàn và thế gian đều là biên tế vô sanh; bởi vì bình đẳng, bất khả đắc, không hào ly sai biệt.

Lại nữa:

Sanh diệt, có hay không,

Hữu biên, thường vân vân.

Kiến chấp y Niết-bàn,

Đời quá khứ, vị lai. [21]

Như Lai sau khi diệt độ, Như Lai tồn tại, hay Như Lai không tồn tại, hay Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay Như lai chẳng phải vừa tồn tại vừa không tồn tại. Thế gian là hữu biên; thế gian là vô biên; thế gian vừa hữu biên vừa vô biên; thế gian chẳng hữu biên chẳng vô biên. Thế gian là thường; thế gian là vô thường; thế gian vừa thường vừa vô thường; thế gian chẳng phải vừa thường vừa vô thường. Ba thứ này cộng thành mười hai kiến chấp. Như Lai sau khi diệt độ, có hay không các thứ, bốn kiến chấp này y trên Niết-bàn mà sanh khởi. Thế gian hữu biên, vô biên các thứ, bốn kiến chấp, y đời vị lai phát khởi; thế gian Thường, Vô Thường v.v.. 4 kiến chấp này y theo đời quá khứ sanh khởi. Như Lai sau khi diệt độ còn tồn tại hay không tồn tại, không thể nhận thức được. Niết-bàn cũng như thế. Như thế gian tiền tế, hậu tế, hữu biên, vô biên, hữu thường, vô thường các thứ; đều không thể nhận thức. Niết-bàn cũng vậy. Thế nên nói, Thế gian và Niết-bàn v.v.. không có sai biệt.

Vì hết thảy pháp Không,

Nào có biên, vô biên.

Vừa biên vừa vô biên,

Chẳng hữu chẳng vô biên. [22]

Cái gì là nhất, dị?

Nào có thường, vô thường,

Vừa thường vừa vô thường,

Phi thường, phi vô thường. [23]

Các pháp bất khả đắc,

Diệt tất cả hí luận.

Không người cũng không xứ,

Phật cũng không tuyên thuyết. [24]

Tất cả pháp, tất cả thời, tất cả mọi thứ, đều từ các duyên sanh, cứu cánh là Không, nên không có tự tánh. Trong các pháp như thế, cái gì là hữu biên? cái gì là vô biên? ai là vô biên? cái gì vừa hữu biên vừa vô biên? cái gì là phi hữu biên phi vô biên? ai là phi hữu biên phi vô biên? cái gì là thường? ai thường? cái gì là vô thường; vừa thường vừa vô thường; phi thường phi vô thường? ai là phi thường phi vô thường? Sao là thân tức ngã; sao là thân khác ngã? Như thế trong tất cả sáu mươi hai thứ tà kiến cứu kính Không, thảy đều bất khả đắc, những gì là sở đắc đều dứt bặt, mọi hí luận đều diệt. Vì hủy diệt hí luận nên không đạt thật tướng các pháp, đạt được con đường an ổn.

Từ chương “Nhân duyên” cho đến đây, phân biệt quán sát các pháp, hữu cũng không; vô cũng không; hữu vô cũng không; phi hữu phi vô cũng không; đó gọi thật tướng các pháp, cũng gọi là Chân như, là Pháp tánh, là Thật tế, là Niết-bàn. Thế nên Như Lai không thời gian, không xứ sở, vì người nói Niết-bàn là tướng cố định, thế nên nói: ‘Những gì là sở đắc đều dứt bặt, mọi hí luận hủy diệt.”



--------------------------------------------------------------------------------

[1] Niết-bàn tiếng Phạn gọi là Nirvana. VANA nghĩa là dục vọng đau khổ, như thế Niết-bàn là nơi an tịnh tuyệt đối. Nói thế chúng ta đừng nghĩ Niết-bàn có một cảnh giới riêng có vị trí thanh tịnh an lạc. Niết-bàn được nhận thức bằng chân không (Sùnya), nó không nằm trong cái hữu hay vô, siêu việt đối đãi. Vì phương tiện đối với chúng sanh mà đức Phật dùng ngôn ngữ để diễn tả thế nào là cảnh giới Niết-bàn. Chúng ta nhờ giải thích để hiểu biết cụ thể Niết-bàn. Do đó không nên nghĩ ngôn ngữ là có hay không. Như người dùng ngón tay chỉ mặt trời để người khác trông mặt trời. Ngón tay người chỉ, không phải mặt trời, song nhờ ngón tay chỉ mặt trời, người khác có thể nương nơi đó nhìn hướng mặt trời. Khi đã trông thấy rõ mặt trời rồi, thì ngón tay kia không cần dùng nữa.

[2] Hán: vô đắc diệc vô chí. Bát nhã đăng: vô thối diệc vô đắc. Phạn: aprahìịam asampràptam, không có cái gì bị đoạn trừ, không có cái gì được chứng đắc.

[3] sau khi Đức Như Lai nhập Niết-bàn, nghĩa là trở về bản tính tịch tịnh, chúng sanh sinh nhiều vọng chấp, nói Niết-bàn, cảnh giới Niết-bàn thường trú vô biên. Niết-bàn khác với thế gian v.v. tất cả bàn bạc như thế nào cũng đều sai lầm. Vì Như Lai Niết-bàn là ly ngôn ngữ văn tự, ly tâm duyên tướng, bất khả đắc, bất khả tư nghì. Như Kinh Kim Cang Bát Nhã nói: “Niết-bàn vô Niết-bàn thị danh Niết-bàn”, “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

[4] Hán: vô thọ. Phạn: anupàdàya, không chấp thủ; không y chỉ (các uẩn).

[5] Hán dịch của Bát-nhã đăng: Niết-bàn nhược hữu thể, vân hà thị vô nhân? Diệc vô hữu nhất pháp, ly nhân nhi đắc hữu, “Niết-bàn nếu là hữu thể, làm sao lại không nhân? Cũng không một pháp nào, không cần nhân mà hiện hữu.” Phạn: bhàvaz ca yadi nirvàịam anupàdàya tat kathaư, nirvàịaư nànupàdàya kazcid bhàvo hi vidyate, “ Nếu Niết-bàn là hữu thể, làm sao cái đó lại không chấp thủ (không y chỉ)? Không có bất cứ hữu thể không chấp thủ nào được nhận thức như là Niết-bàn.”

[6] Hán: hữu. Phạn: bhàva (hữu thể).

[7] Hán: vô. Phạn: abhàva: vô thể.

[8] Hán dịch của Bát nhã đăng: Nhược Niết-bàn vô thể, vân hà thị vô nhân, “Niết-bàn nếu là vô thể, làm sao đó lại là vô nhân?” Phạn: nirvàịaư na hy abhàvo ‘sti yo ‘nupàdàya vidyate, “Niết-bàn là vô thủ nên hoàn toàn không phải là vô thể.” Về cách dùng từ upàdàya (và anupàdàya) trong bản Phạn, và cách dịch của bản Hán, xem cht. 1 tr. 150 chương XXII.

[9] Hán: Bất thọ danh Niết-bàn. Xem Pali, Sn. 638: anupàdàya nibbuto, “Sau khi không còn chấp thủ (không thủ trước hay không sở y), vị ấy chứng tịch diệt (tức Niết-bàn).

[10] Bát nhã đăng: Nhược vô nhân vô duyên, thị danh vi Niết-bàn. Phạn: so’ pratìtyànu- pàdàya nirvàịam upadiwyate, “Không lệ thuộc các duyên, không còn chấp thủ, cái đó được nói là Niết-bàn.”

[11] Hán: bất thọ; cũng hiểu là không chấp thủ.

[12] Phạn: nirvàịasya ca yà koỉihï koỉihï saưsarasya ca: biên tế của Niết-bàn và biên tế của sanh tử.
CHƯƠNG I: QUÁN NHÂN DUYÊN[1]

Không sanh cũng không diệt,

Không thường cũng không đoạn,

Không nhất cũng không dị,

Không lai cũng không khứ;

Khéo nói nhân duyên này [2],

Thiện[3] diệt những hí luận.

Con cúi đầu lễ Phật,

Bậc thuyết giáo đệ nhất.

Hỏi: Vì cớ gì làm luận này?

Đáp: có người nói: “Vạn vật do trời Đại Tự Tại [4] sanh ra”. Có người nói: “Do trời Vi-nựu[5] sinh ra”. Có người nói: “Do sự hòa hiệp mà sanh ra[6]”. Có người nói “Từ thời gian sanh ra.” Có người nói: “Từ thể tánh phát sanh[7]”. Có người nói: “Do sự biến hóa sanh ra”. Có người nói: “Do tự nhiên mà sanh ra”. Có người nói: “Do vi trần mà sanh ra”.

Những thuyết như thế đều sai lầm, rơi vào trong các tà kiến như: Vô nhân, Thường nhân, Đoạn, Thường và chấp đủ các thứ Ngã và Ngã sở, không biết rõ chánh pháp. Đức Thế Tôn muốn đoạn trừ những tà kiến sai lầm như vậy để dẫn đến Chánh Pháp, nên trước hết, đối trong hàng Thanh văn nói pháp Thập nhị Nhân duyên. Lại vì những vị đã tu tập hành trì, tâm trí quảng đại, có khả năng nhận lãnh thâm pháp; Ngài đem lý Đại Thừa, nói tướng Nhân duyên. Pháp Nhân duyên đó tức là tất cả các pháp đều không Sanh, không Diệt, không Nhất, không Dị, v.v… rốt ráo là không, hoàn toàn không hiện hữu. Như trong kinh Bát-nhã ba-la-mật, Phật bảo Ngài Tu-bồ-đề: “Bồ tát khi ngồi ở đạo tràng, quán Thập nhị Nhân duyên cũng như hư không, không cùng tận”. Sau Đức Phật diệt độ 500 năm, trong thời kỳ tượng pháp, căn tánh con người trở thành ám độn, đắm sâu các pháp; đi tìm tướng quyết định nơi mười hai Nhân duyên, 5 ấm, 12 nhập, 18 giới. Không hiểu thâm ý của Phật mà chỉ chấp vào văn tự. Nghe kinh Đại thừa nói: “Rốt ráo Không”; chẳng biết vì nhân duyên gì mà nói là Không, từ đó phát khởi kiến chấp nghi ngờ rằng: “Nếu tất cả đều rốt ráo là Không, làm thế nào phân biệt báo ứng của tội phước v.v…” Và như vậy, không có Thế đế và Đệ nhất nghĩa đế. Chấp thủ tướng Không ấy, khởi lên sự tham trước, ở trong lẽ rốt ráo Không ấy mà sinh khởi vô số sai lầm. Vì những lý do đó, nên Ngài Long Thọ làm bộ luận này.

Không sanh cũng không diệt,

Không thường cũng không,

Không nhất cũng không dị,

Không Lai cũng không khứ;

Khéo nói nhân duyên ấy,

Thiện, diệt những hí luận.

Con cúi đầu lễ Phật,

Bậc thuyết giáo đệ nhất.

Với hai bài tụng tán thán Phật. Như vậy là đã nói một cách cô đọng về Đệ nhất nghĩa.

Hỏi: Các Pháp vô lượng, sao chỉ dùng tám điều ấy để phá?

Đáp: Pháp tuy vô lượng, nhưng lược nói tám sự thể cũng gồm phá tất cả Pháp.

Nói là không sanh, bởi vì các luận sư có nhiều chủ trương khác nhau về tướng sanh. Có người nói rằng nhân quả nhất thể; nhân quả dị thể; trong nhân trước có quả; trong nhân trước không quả. Hoặc nói rằng, sanh ra từ chính nó, hoặc sanh từ cái khác, hoặc nói sanh ra từ cả hai; hoặc là có sanh; hoặc nói không có sanh. Những chủ trương về tướng sanh ấy đều không đúng, điều này sau sẽ nói rộng. Vì không thể tìm thấy tính chất cố định của tướng sanh nên nói là Không Sanh. Đã không sanh làm thế nào có hoại diệt. Vì không sanh, không diệt cho nên sáu điều còn lại cũng không.

Hỏi: Không sanh, không diệt đã tổng phá tất cả pháp, sao còn nói chuyện sáu điều?

Đáp: Vì để thành nghĩa bất sanh, bất diệt. Có người không chấp nhận bất sanh bất diệt, nhưng lại tin nhận bất thường, bất đoạn. Nếu thâm tâm đã tin bất thường bất đoạn, thì cũng tức đồng nghĩa bất sanh,bất diệt. Tại sao? Nếu pháp thật sự hiện hữu thì chẳng phải là Không. Trước có nay không tức là đoạn. Như nếu trước có tính cố định, tức là thường. Thế nên nói không thường, không đoạn là dẫn vào ý nghĩa không sanh, không diệt.

Có người tuy nghe các pháp bị bác bỏ bởi bốn trường hợp trên, nhưng lại chứng minh sự tồn tại của các pháp bằng bốn trường hợp khác, và điều này vẫn không đúng. Nếu là nhất thể thì không duyên; dị thể thì chẳng tương tục. Sau sẽ nói rộng, thế nên nói không nhất, cũng không dị.

Có người nghe dùng sáu sự thể này bác bỏ các pháp, nhưng vẫn chứng minh sự tồn tại của các pháp bằng sự đến (lai) và đi (xuất). Nói là đến (lai) nghĩa là các pháp từ Tự Tại Thiên, từ Thể tánh, từ vi trần v.v.. đến. Nói là đi (Xuất) là đi về bổn xứ.

Lại nữa, vạn vật không có sanh. Vì sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian, theo cái thấy bằng con mắt của thế gian, thì vào buổi kiếp sơ lúa không sanh. Tại sao? Vì lìa hạt lúa của kiếp sơ thì lúa hiện tại không thể có. Nếu lìa lúa của kiếp sơ mà có lúa hiện tại thì có sanh; nhưng thật chẳng phải, nên không sanh.

Hỏi: Nếu không sanh thì có diệt?

Đáp: Không diệt. Vì sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian thì lúa của kiếp sơ không hoại diệt; nếu nó diệt, lẽ ra nay chẳng có luá; nhưng thật có lúa, nên không diệt.

Hỏi: Không diệt thì thường?

Đáp: Không thường. Vì sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian thì vạn vật không thường, như lúa khi nảy mầm thì hạt giống kia mục rã; thế nên không hường.

Hỏi: Nếu không thường thì đoạn?

Đáp: Không đoạn. Tại sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian thì vạn vật chẳng đoạn. Như từ hạt lúa mà có mầm, nên không đoạn; nếu đoạn thì chẳng tương tục.

Hỏi: Như thế vạn vật là Một?

Đáp: Không một. Tại sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian vạn vật chẳng phải một. Như lúa không phải mầm; mầm là lúa thì là một. Nhưng thật chẳng phải; thế nên không phải một.

Hỏi: Nếu chẳng phải một thì khác?

Đáp: Không phải khác. Vì sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian thì vạn vật chẳng khác. Nếu khác, làm thế nào phân biệt mầm lúa, nhánh lúa, lá lúa, mà không nói: mầm cây, nhánh cây, lá cây v.v..; thế nên không khác.

Hỏi: Nếu không khác thì có đến?

Đáp: Không đến. Tại sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian thì vạn vật không đến; như mầm trong hạt lúa không từ đâu đến. Nếu đến, thì mầm phải từ chỗ khác đến; như chim kia đến đậu trên cành cây, nhưng thật không phải nên không đến.

Hỏi: Nếu không đến thì có đi?

Đáp: Không đi. Tại sao? Vì theo cái thấy hiện thực của thế gian vậy. Theo cái thấy bằng con mắt của thế gian thì vạn vật chẳng đi. Nếu có đi thì lẽ ra thấy mầm từ nơi hạt lúa mà đi ra; như con rắn từ hang bò ra, nhưng thật chẳng phải thế, nên không đi.

Hỏi: Ông tuy giải thích nghĩa bất sanh, bất diệt. Nhưng tôi muốn nghe quan điểm của Luận chủ.

Đáp:

Các pháp không tự sanh,

Không từ cái khác sanh,

Từ cả hai, không nhân.

Thế nên biết không sanh[8] [1]

Không tự sanh là vạn vật không từ tự thể phát sanh, phải nhờ các duyên. Lại nữa, nếu từ tự thể sanh ra thì một pháp có hai thể: 1) Sự sanh. 2) Cái sanh. Nếu lìa các nhân khác mà từ tự thể sanh thì không nhân, không duyên. Lại nữa, đã sanh rồi lại sanh nữa, sự sanh sẽ vô cùng. Vì tự thể không có nên tha thể cũng không. Tại sao? Có tự nên có tha, nếu không từ tự thể phát sanh cũng chẳng từ tha thể phát sanh. Cộng sanh thì có hai lỗi: tự sanh, tha sanh. Nếu không nhân mà có vạn vật tức là thường; điều ấy không đúng. Không nhân thì không quả. Nếu không có nhân mà có quả thì những người bố thí, trì giới v.v… nên đọa địa ngục, kẻ tạo tội thập ác, ngũ nghịch được sanh thiên đường, vì không nhân vậy.

Lại nữa,

Như tự tánh các pháp,

Không tồn tại trong duyên.

Vì vốn không tự tánh,

Nên tha tánh cũng không[9] [2]

Tự tánh của các pháp không có trong các duyên; chỉ do các duyên hòa hiệp mà có được tên gọi. Tự tánh tức là tự thể. Trong các duyên, chẳng có tự tánh. Tự tánh không, nên chẳng tự phát sanh. Tự tánh không thì tha tánh cũng không. Vì sao? Do tự tánh mà có tha tánh. Tha tánh đối với tha thể cũng là tự tánh. Nếu phá hủy tự tánh tức hủy phá tha tánh. Thế nên, không phải từ tha tánh sanh ra. Nếu phá tự tánh, tha tánh tức phá hủy nghĩa cộng tánh.

Nếu nói không nhân, thì có lỗi lớn. Có nhân mà còn bị phá huống hồ không nhân.

Trong bốn trường hợp ấy không tìm thấy có sự sanh, thế nên không sanh.

Hỏi: Các nhà A-tì-đàm nói: “Các Pháp do bốn duyên mà phát sanh.” Tại sao nói không sanh? Bốn duyên như thế nào?

Nhân duyên, thứ đệ duyên,

Duyên duyên, tăng thượng duyên;

Bốn duyên sanh các pháp,

Không có duyên thứ năm[10] [3]

Tất cả các duyên được biết đến đều thâu tóm trong bốn duyên; do bốn duyên này mà muôn vật được phát sanh.

Nhân duyên[11], chỉ tất cả các pháp hữu vi.

Thứ đệ duyên[12]; trừ tâm và tâm sở ở sát na tối hậu của A-la-hán thuộc quá khứ và hiện tại, còn lại các tâm và tâm sở thuộc quá khứ khác.

Duyên duyên[13] và tăng thượng duyên[14], chỉ tất cả các pháp.

Quả là từ duyên sanh,

Hay là phi duyên sanh?

Chính duyên ấy có quả,

Hay là Duyên không quả?[15]. [4]

Nếu nói có quả, thì quả ấy từ duyên phát sanh hay từ phi duyên phát sanh? Nếu nói có duyên thì chính duyên ấy có quả hay là không quả? Cả hai trường hợp đều chẳng đúng. Tại sao?

Quả sanh do pháp ấy,

Pháp ấy gọi là duyên.

Nếu quả ấy chưa sanh,

Sao không nói phi duyên? [5]

Các duyên không có tính chất quyết định. Vì sao? Nếu quả chưa phát sanh, lúc ấy không gọi là duyên; chỉ khi con mắt thấy từ duyên phát sanh quả mới gọi nó là duyên. Duyên thể tựu thành là do quả thể; vì quả có sau. duyên có trước. Nếu chưa có quả, đâu được gọi duyên. Như chiếc bình là do đất, nước phối hợp mà phát sanh; thấy bình thì biết đất, nước v.v… là duyên của bình. Nếu bình khi chưa có, sao không nói đất, nước v.v… là phi duyên? Thế nên quả không từ duyên phát sanh. Từ duyên mà nó còn chẳng sanh huống là từ phi duyên.

Lại nữa:

Quả trước ở trong duyên,

Có, không đều bất thành.

Trước không, duyên cái gì?

Trước có, cần gì duyên?[16]. [6]

Trong duyên, trước không có quả, cũng chẳng phải không quả. Nếu trước có quả, không gọi là duyên. Vì quả trước đã có. Nếu trước không quả cũng chẳng là duyên; vì không phát sanh vật khác.

Hỏi: Đã tổng phá nhân duyên. Nay muốn nghe mỗi phá các duyên.

Đáp:

Như quả không có sanh[17],

Cũng chẳng phải không sanh,

Chẳng phải có không sanh,

Sao được nói có duyên?[18] [7]

Nếu duyên có thể phát sanh quả thì có ba trường hợp: Có, không, hoặc vừa có vừa không. Như bài tụng trước đã nói; trong duyên, nếu trước có quả thì không nên nói sanh; vì trước đã có. Nếu trước không quả cũng chẳng được nói sanh, vì trước không có; và trong trường hợp đó duyên hay phi duyên đều như nhau. Vừa có vừa không cũng không sanh; vừa có vừa không là nữa có nữa không, cả hai đều lỗi. Lại có và không trái ngược. Không và có trái ngược nhau, thì làm thế nào một pháp có thể có cùng hai tướng ấy? Như thế, trong ba trường hợp không thể tìm thấy có tướng sanh của quả, làm sao nói có nhân duyên?

Về Thứ đệ duyên:

Quả nếu khi chưa sanh,

Thì không thể có diệt.

Pháp diệt, làm sao duyên,

Nên không thứ đệ duyên. [8]

Các tâm vương, tâm sở pháp, trong ba thời tiếp nối sanh khởi. Tâm sở pháp hiện tại hủy diệt làm thứ đệ duyên cho tâm và tâm sở pháp vị lai. Nhưng pháp vị lai chưa sanh thì chúng làm thứ đệ duyên cho cái gì? Nếu pháp vị lai đã có, tức đã phát sanh thì cần gì thứ đệ duyên? Tâm và tâm sở hiện tại thì niệm niệm liên tục chẳng đình trú[19]. Nếu không đình trú, thì thế nào có thể làm thứ đệ duyên? Nếu có đình trú thì chẳng phải pháp hữu vi. Vì sao? Tất cả pháp hữu vi thường là diệt tướng. Nếu đã hủy diệt thì không thể làm thứ đệ duyên cho cái gì cả. Nếu nói pháp đã hủy diệt nhưng vẫn tồn tại thì tức là thường; đã thường thì chẳng có tội phúc v.v… Hoặc nói rằng ngay khi đang diệt, nó có thể làm thứ đệ duyên; nhưng đang diệt có nghĩa là nữa đã diệt, nữa chưa diệt chứ không có pháp thứ ba nào khác được gọi là cái đang diệt. Lại nữa, Đức Thế Tôn dạy: “Tất cả Pháp hữu vi niệm niệm hủy diệt, không có chừng khoảng một niệm đình trú”, làm sao nói pháp hiện tại có sự kiện sắp diệt và sắp chưa diệt? Nếu ông nói rằng trong một niệm không có cái sắp diệt và chưa sắp diệt[20], như vậy là tự bác bỏ chủ trương của mình. Vì trong A-tì-đàm của ông có nói rằng: “Có pháp đã diệt và pháp không diệt; có pháp sắp diệt, và pháp không sắp diệt.” Pháp sắp diệt là pháp hiện tại sắp muốn hủy diệt. Pháp không sắp diệt là trừ pháp hiện tại sắp muốn hủy diệt; còn lại các pháp khác thuộc hiện tại và các pháp thuộc quá khứ, vị lai và vô vi, đó là những pháp không sắp diệt. Cho nên, không có thứ đệ duyên.

Về duyên duyên[21]:

Pháp chân thật vi diệu[22],

Như Chư Phật đã nói:

Đó là pháp không duyên,

Vậy đâu có duyên duyên.[23] [9]

Đức Phật dạy, trong các pháp Đại thừa, những gì hoặc có sắc, hoặc không sắc, hữu hình, vô hình, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi. Những pháp tướng ấy nhập pháp tánh. Tất cả đều Không, không tướng, không duyên. Ví như dòng sông chảy vào biển, đồng làm một vị. Thật Pháp có thể tin nhưng được nói ra theo cơ nghi nên không thể cho là thật. Do đó, không có sở duyên duyên.

Về Tăng thượng duyên:

Các pháp không tự tánh,

Nên không có tướng có.[24]

Nói rằng: “Cái này có,

Nên kia có.”[25] Không đúng. [10]

Kinh nói về Mười hai nhân duyên rằng “Cái này có, cho nên cái kia có.” Điều ấy không đúng. Tại sao? Vì vạn pháp từ các duyên phát sanh, cho nên tự nó không có định tánh. Không có định tánh, do đó không có tướng có. Tướng có không có làm sao có thể nói: “Cái này có, cho nên cái kia có.” Do đó, không có tăng thượng duyên. Đức Thế Tôn tùy theo sự phân biệt có và không của phàm phu mà thuyết pháp.

Lại nữa:

Trong nhân duyên riêng, chung[26],

Không thể tìm thấy quả.

Trong nhân duyên nếu không,

Làm sao từ duyên khởi? [11]

Chúng là chỉ cho sự tập hợp của các duyên, trong đó không có quả. Riêng là chỉ cho từng nhân duyên riêng biệt, trong đó cũng chẳng có quả. Nếu trong nhân duyên chung và riêng mà không quả, làm thế nào nói quả từ nhân duyên phát sanh?

Lại nữa:

Nếu nói duyên không quả,

Mà từ duyên phát sanh;

Quả ấy sao chẳng từ

Trong phi duyên phát xuất? [12]

Nếu không thể tìm thấy quả trong nhân duyên, thì tại sao nó không xuất hiện từ cái phi duyên? Như trong đất bùn, không có bình, thì tại sao bình không xuất hiện từ sữa?

Lại nữa:

Nếu quả từ duyên sanh;

Duyên ấy không tự tánh.[27]

Từ vô tự tánh sanh,

Sao được từ duyên sanh. [13]

Quả chẳng từ duyên sanh,

Không từ phi duyên sanh.

Vì quả vốn không có,

Duyên, phi duyên cũng không [14]

Quả từ các duyên phát sanh. Duyên ấy không có tính cố định. Nếu không có tự tính thì không có pháp; không có pháp làm thế nào có thể phát sanh? Thế nên quả không từ duyên sanh.

Không từ duyên sanh tức là phủ định duyên, nên nói là phi duyên. Thật ra, chẳng có pháp phi duyên. Thế nên, không từ phi duyên mà sanh. Nếu nó không sanh khởi từ hai trường hợp đó, thế thì quả không có. Không có quả, do đó duyên và phi duyên cũng không.



--------------------------------------------------------------------------------

[1] Nhân duyên, hay duyên, Skt. pratyaya: điều kiện quan hệ. Cần phân biệt với nhân duyên chỉ hai yếu tố nhân (hetu:nguyên nhân) va duyên (pratyaya).TS

[2] Trong bản Skt., cac từ bát bất, duyên khởi (pratìtyasamutpàdam), diệt hý luận (prapaĩcopazamam) và thiện (zivam) là những từ đồng cách, do dó được hiểu là đồng nghĩa, va cùng chỉ chung một thực tại. TS

[3] Thiện, trong các giải thích Hán đều hiểu là trạng từ, do đó thiện diệt... được giải thích là “diệt trừ một cách khéo léo, toàn thiện.” Thiện trong bản Sanskrit là ziva: an ổn, cát tường, tịch tĩnh... Giải thích của Prasannapàda: sarvaprapaĩcopamazivalakwaịaư nirvàịaư... “các phẩm tính diệt hý luận, an ổn (ziva), chỉ cho Niết-bàn.” TS

[4] Đại Tự Tại thiên, hay Ma-hê-thủ-la thiên (Skt. Mahezvara), biệt danh của Ziva (Thần Thấp-bà), Thượng đế, hay Thần sáng tạo thế gới, vạn vật; một chi phái tín ngưỡng thuộc Ấn độ giáo.

[5] Vi-nựu thiên (Viwịu), Thượng đế, hay Thần sáng tạo. Nguyên là thần Mặt trời. Cùng với Brahman, và Ziva, họp thành Tam vị nhất thể (trimùrti) hay Chúa Ba ngôi của Ấn độ giáo. TS

[6] Cát Tạng, Trung quán luận sớ (Đại 42, tr. 15a): dẫn Đề-bà, “Có một phái ngoại đạo chủ trương trước khi có loài người, tồn tại một người nam và một người nữ.Từ hai người này sinh ra vạn vật; do đó nói là sinh từ sự hòa hiệp.” Bản Skt., Akutobhaya (Vô úy luận): ìzvarapuruwobhaya-..., “từ Chúa trời, từ Linh hồn nguyên thủy, từ cả hai...” TS

[7] Cát Tạng, sđd. : chủ trương của phái Minh sơ. Thế giới khởi nguyên từ sự tối tăm mông muội. Chủ trương này liên hệ với thuyết Prakfti của Số luận (Sankhyà). TS

[8] Ngài Long Thọ Bồ tát muốn chúng ta nhận định lại hoặc hiểu thêm về lý nhân duyên sanh một cách hữu lý, không rơi vào thiên kiến, mê chấp, cố định. Phật Pháp là bất định pháp. Nó phải được thể hiện qua thời gian, không gian, tùy căn cơ của mỗi từng lớp nhân sanh, trình độ trí thức hay kém trí thức. Bịnh trầm trọng của nhân loại chúng sanh là bịnh thiên kiến, cố chấp; các pháp thường tồn, đoạn diệt, hay là do Thượng đế, Phạm Thiên sáng tạo v.v…. chính nguyên nhân cố chấp làm trở ngại con đường khai phóng tự tại giải thoát. Cố chấp là không có tinh thần uyển chuyển, mở tầm mắt, tâm hồn khoáng đại, để nhận lãnh và quan sát cùng tận chân lý phổ quát, tòan diện. Nói rằng các pháp có nhân duyên sanh; sự thật ngày nay không ai còn nghĩ rằng sự vật trong vũ trụ này là từ vô nhân hay ngẫu nhiên có, mà không phải từ nhiều nhân tố, phương tiện điều kiện hợp thành, như cái bàn, cái ghế. Ngay bản thân chúng ta, cũng do nhiều nhân tố hợp thành… Nhưng chúng ta đừng khẳng định rằng tất cả đều do nhân duyên sanh mà cố chấp nhân duyên.

[9] Các pháp do nhân duyên sanh là chính nó không có tự tánh. Tự tánh là chỉ bản thể thường trú mà Long Thọ Bồ Tát gọi là Zùnya, tánh chân không. Bản thể này không phải từ nhân duyên hay phi nhân duyên. Do đó tự tánh bản thể chân không là tánh bất sanh bất diệt…

[10] Nhưng nếu chúng ta quan niệm rằng, ngoài pháp nhân duyên sanh có một tự tánh thường trú khác, thuộc phi nhân duyên, quan niệm như thế cũng là sai lầm thiên kiến. Còn có quan niệm về hữu nhân duyên, phi nhân duyên v.v… là còn các biến chấp trước có không.

[11] Nhân duyên (hetu-pratyaya), điều kiện để sanh là nguyên nhân trực tiếp. Không nên nhầm với từ nhân duyên trong đề của chương. TS

[12] Thứ đệ duyên, cũng gọi là đẳng vô gián duyên (samanantara-pratyaya), điều kiện để phát sanh là sự tiếp nối liên tục. TS

[13] Duyên duyên, hay sở duyên duyên (àlambana-pratyaya), điều kiện để thức sanh khởi là đối tượng để thức bám vào. TS

[14] Tăng thượng duyên (adhipati-pratyaya), điều kiện là những tác động gian tiếp (của môi trường). TS

[15] Chúng ta thường hiểu quả là từ nhân duyên sanh ra. Như thế với nhân giống nhau hay khác? Theo quan niệm rằng quả không khác nhân, bởi nhân sanh ra quả. “Nhân nào quả ấy” quan niệm như thế không phải sai, song không phải hoàn toàn đúng. Bởi vì, nếu quả giống nhân, nhân quả không khác, như vậy người ta đặt danh từ nhân quả làm gì? Nhân quả không khác, có nghĩa nhân tức là quả, quả tức là nhân. Và như thế nhân quả là một. Khi nói nhân trong ấy đã có quả thì không cần nói quả của nhân, thêm thừa.

[16] Như nếu nói quả khác với nhân. Điều này cũng không đúng. Nhân khác, quả khác thì cũng như nói hột mang cầu (nhân) sanh ra trái mít (quả). Quan niệm trong nhân đã có quả, trong nhân không có quả, quả chẳng phải là nhân duyên, hữu quả, vô quả, phi nhân, phi quả… là quan niệm còn trong tư tưởng lẫn quẩn. Thấu triệt chân lý Phật giáo là người phải nhận định phân minh các nghĩa hẹp, nghĩa rộng, sự lý và tương đối tuyệt đối dung hòa không gian thời gian, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên.

[17] Hán: phi hữu sanh, nên hiểu là không hiện hữu hay không tồn tại; Skt. na san... TS

[18] Bài tụng này phê phán khái niệm “nhân” hay nguyên nhân (hetu), tức duyên thứ nhất trong bốn duyên. Nhưng theo Cát Tạng, cả 4 bài tụng trên đều nhắm phê phán về nhân duyên; 3 bài kế tiếp, phê phán 3 duyên còn lại. TS

[19] Cát Tạng, Trung quán luận sớ 3 (Đại 30, tr. 49b): Trong Thượng tọa bộ, có một Luận sư chủ truơng (đây chỉ Ttheravàda-Pali) rằng sắc pháp diệt ngay khi vừa sanh, nhưng tâm pháp tồn tại trong 15 sát-na mới diệt. TS

[20] Hán: dục diệt, vị dục diệt. Luận sớ của Cát Tạng đọc là dục diệt bất dục diệt, và giải thích: “ dục diệt, chỉ phần sắp diệt trong hiện tại.; bất dục diệt, chỉ phần bắt đầu sanh trong hiện tại.” (Trung quán luận sớ 3, Đại 30, tr. 50a). TS

[21] Phân biệt hai từ duyên đồng âm nhưng khác nghĩa. Từ duyên trước, Skt. àlambana, sự (hay cái, để) vin vào, bám vào. Từ duyên sau, Skt. pratyaya, điều kiện cần có để phát sanh. TS

[22] Từ Skt. trong bản La-thập đọc là sad- dharma (chân thật vi diệu pháp. Các bản Sanskrit hiện có đều đọc là san dharma (pháp đang tồn tại). TS

[23] Chính thế, Bồ tát Long Thọ áp dụng luận cứ uyển chuyển bằng học thuyết “Tánh Không” trong Trung Quán luận, bắt đầu bằng nguyên lý nhân duyên sanh. Vì đây là đầu mối đưa đến diệt vọng chấp và giải thoát toàn diện, giác ngộ viên mãn qua lý Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế.

[24] Tham chiếu bản Skt.: bhàvànàư nihïsvabhàvànàư na sattà vidyate yatahï, “vì không thể nhận thức được sự hiện hữu của những hữu thể vốn không tự hữu.”

[25] Tóm tắt phát biểu về duyên khởi của Phật: thử hữu cố bỉ hữu, thử sanh cố bỉ sanh... (asmin satìdaư bhavati). TS

[66] Hán: lược quảng nhân duyên trung; tham chiếu bản Skt.: (...) vyasta-samastewu pratyayewv-..., “trong các điều kiện bị tách rời hay được kết hợp.” TS

[27] Tham chiếu Skt.: phalaṃ ca pratyayamayaư pratyatàz càsvayammayàh, “kết quả là cái được tác thành bởi duyên (điều kiện); nhưng các duyên lại là những cái không tự tác thành.”
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn