Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Lão pháp sư Đạo Nguyên khai thị

14/12/201206:20(Xem: 4485)
Lão pháp sư Đạo Nguyên khai thị

CỬA VÀO TỊNH TÔNG

Pháp sư Tịnh Không giảng
Cư sĩ Ngô Chân Độ ghi lại
Việt dịch: Thích nữ Viên Thắng - Hiệu đính: Định Huệ

Lão pháp sư Đạo Nguyên khai thị

Chúng ta hãy nghiên cứu kỹ giá trị tám chữ “không giết, phóng sinh, ăn chay, niệm Phật”. Tám chữ này không những xác thật là Phật pháp mà còn là thành tích của Phật giáo, cũng là tinh hoa của Phật giáo.

Phật pháp chú trọng nhất là tu hành. Thế nào gọi là tu hành? Đó là sửa đổi hành vi tội ác. Sát sinh là hành vi tội ác nặng nhất.

Chúng sinh đều tham sống sợ chết, khi chúng nó bị giết chết đau đớn biết chừng nào? Chúng ta nhẫn tâm giết chết chúng nó thì ba nghiệp thân,khẩu, ý của chúng ta đều ác, trái với tấm lòng từ bi của Đức Phật. Chúng ta tạo nghiệp ác này nhất định đọa địa ngục, làm sao thành Phật?

Tôi khuyên các vị đệ tử Phật. Bước đầu tiên thấp nhất là không sát sinh, tiến lên bước lên thứ hai cao hơn là phóng sinh. Tự mình không sátsinh, nhưng khi thấy chúng sinh bị giết liền khởi tâm từ bi tìm mọi cách để cứu nó thoát khỏi nỗi khổ bị giết.

Tự mình không tạo nghiệp sát hại mà sai người khác giết hại để mình ăn thịt có hợp lý không? Cho nên không ăn thịt chúng sinh mới là không sát sinh triệt để.

Ba thiện nghiệp không sát sinh, phóng sinh, ăn chay là phương tiện đầu tiên, vẫn không thể thoát khỏi sinh tử, đoạn nghiệp mới có thể thoátkhỏi sinh tử. Thời kỳ mạt pháp chúng sinh nghiệp nặng khó đoạn, chỉ có một pháp niệm Phật, không cần đoạn nghiệp vẫn có thể đới nghiệp vãng sanh[7].

Ba nghiệp thiện trước đều là trợ hạnh, niệm Phật mới là chánh hạnh.

Trong mười pháp giới, niệm Phật là niệm pháp giới Phật. Một niệm Phậtlà một niệm hiện pháp giới của Phật, niệm niệm Phật là niệm niệm hiện pháp giới Phật. Lâu dần tâm mình và Phật nhất như thì chín pháp giới cònlại đều không hiện. Vậy lý nào mà không thấy Phật, không sinh về Tây phương, không thành Phật?

Niệm Phật phải niệm chí thành, bắt đầu từ chỗ cạn thấp rồi đạt đến hiệu quả cao sâu. Nhất định ý chí phải vững chắc và đừng chạy theo tham vọng cao xa.

Tự lực khó đoạn trừ được phiền não, phải nhờ Phật lực mới được đới nghiệp vãng sanh. Tự lực thì có rất nhiều ma đến quấy nhiễu, Phật lực làm cho ma lui. Pháp môn tự lực nghĩa lý rất cao sâu, căn cơ bình thườngkhông dễ gì hiểu nổi. Pháp môn niệm Phật đơn giản, dễ thực hành, lại không đưa đến lầm lạc. Nương theo Phật lực thì chắc chắn, dễ dàng hơn tựlực.

Niệm Phật không phải niệm chín pháp giới mà là niệm pháp thân của pháp giới Phật. Khi niệm một danh hiệu Phật là toàn thể pháp thân hiện tiền, lúc đó tuyệt đối không có phiền não tồn tại.

Niệm Phật là thấm nhuần hương pháp thân Phật, đem hương pháp thân khai mở ánh sáng trí tuệ; đồng thời, đem ánh sáng hương huân tập vào lý thể bản giác của mình, gọi là Hương quang trang nghiêm.

Cõi này là nhơ ác rất khó tu hành. Tây phương thanh tịnh mới là nơi tu hành tốt.

Chúng ta được vãng sanh về Tây phương; hoặc không được vãng sinh thì chỉ cần xem có tín nguyện hay không? Hay nói cách khác, chỉ cần có Tín và Nguyện thì bất luận niệm Phật nhiều hay ít cũng đều được vãng sanh vềTây phương. Chúng ta đủ thấy hai chữ Tín và Nguyện vô cùng quan trọng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
)
07/09/2016(Xem: 4360)
Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản Seuil, Paris, thì Jean Eracle nguyên là Quản Đốc Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học Á Châu, đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ. Do một nhân duyên vô cùng kỳ lạ, ông được sang Nhật-bản lưu trú suốt mấy mươi năm để học hỏi cùng thực hành Niệm Phật theo giáo pháp của “Đạo Phật Chân Chánh trong Pháp môn Tịnh-độ” tức Tịnh-độ Chân-tông do Ngài Thân Loan Thánh Nhân khai sáng cách đây gần 8 thế kỷ.
28/04/2016(Xem: 13152)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay. Thiền giáo xuất hiện từ thời Khương Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Các thế kỷ sau, kinh điển Đại thừa được truyền bá, theo đó tư tưởng Thiền, Tịnh và Mật được phổ biến tại nước ta. Từ lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam cho thấy, ba pháp môn tu đó có sự đóng góp tích cực cho con người và xã hội qua nhiều thời đại.
15/02/2016(Xem: 10188)
Trong bổn hội các liên hữu đồng tu, đều tuân theo tu học Tịnh Độ Ngũ Kinh và Tịnh Độ Thập Yếu, đặc biệt là Kinh Vô Lương Thọ, bản hội tập của Hạ Liên Cư Đại Sĩ, Di Đà Yếu Giải, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nhất định phải y cứ ba bộ kinh này tu học, dốc hết toàn lực, nghiên cứu học tập kinh luận Đại Thừa mới có thể tương ứng với Tịnh Tông. Bổn hội đặc biệt chú trọng hành giải tương ứng, tâm khẩu nhất như, cho nên hành môn là mọi người phải phát nguyện, cho đến mức cùng đời vị lai. Tuân theo Quán Kinh tu Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập Đại Nguyện Vương.
23/12/2015(Xem: 8420)
Hễ phát tiểu nguyện thì không hợp nhân quả, chẳng được vãng sanh. Tại sao ? Vì tiểu nguyện chỉ phát nguyện cho một mình được vãng sanh, nếu không trở lại đầu thai thì làm sao có quả báo ? Bây giờ chẳng nói về kiếp trước, chỉ nói kiếp này : Từ nhỏ tới lớn có sát sanh không? Có giết chết con muỗi con kiến không ? Có ăn thịt chúng sanh không ? Theo nhân quả là một mạng phải đền một mạng, ăn một cục thịt trả một cục thịt, thế thì làm sao trả nợ mạng, nợ thịt? Nên phải phát đại nguyện.
24/07/2015(Xem: 11502)
Tập sách này không phải là một tiểu luận về tâm lý học nên không thể bao quát hết mọi vấn đề nhân sinh, mục đích của nó nói lên sự tương quan của Ý, Tình, Thân và tiến trình phiền não...
10/07/2015(Xem: 4838)
Hầu hết các kinh luận Đại thừa đa số đều thuyết minh tổng quát về pháp môn niệm Phật. Trên thực tế hình thành pháp môn Tịnh Độ phổ biến từ tư tưởng các bộ kinh căn bản như Kinh Bát Chu Tam Muội (Ban Châu Tam Muội), Kinh A Di Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Thủ Lăng Nghiêm và nhiều bộ kinh khác. Pháp niệm Phật đến với quần chúng ước tính khoảng mười tám thế kỷ qua (Tính từ khi Kinh Ban Châu Tam Muội được dịch tại Trung quốc năm 179 s.dl.), và pháp môn Tịnh Độ được hình thành và phát triển thời tổ sư Huệ Viễn (334-416 TL) cho đến ngày nay. Thực tế lịch sử đã chứng minh pháp môn niệm Phật đã đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực truyền bá Phật giáo Đại thừa. Y cứ từ kinh điển liên quan Pháp môn niệm Phật, trên căn bản thì thiền sư Tông Mật (784-841), tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm đã phân thành bốn phương pháp niệm Phật. Đó là trì danh niệm Phật, quán tượng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật và thật tướng niệm Phật. Từ thời đại Tổ Liên Trì về sau
25/06/2015(Xem: 5304)
Trong Phật pháp có nhiều pháp môn tu học học và hướng đến giác ngộ giải thoát. Giác ngộ là thấy rõ đạo lý duyên khởi của nhân sanh và vũ trụ. Giải thoát có nghĩa là dứt sự khổ đau luân hồi do tâm thức chấp thật ngã và thật pháp tạo vọng nghiệp. Chung quy tu tập theo Phật giáo nhận thức rõ giải thoát là từ tâm này, luân hồi sanh tử cũng do tâm này, vì tâm này là chủ nhân của muôn pháp. Kinh Tâm Địa Quán có dạy: “Tâm sanh thì pháp sanh,
07/05/2015(Xem: 6005)
Các con ơi! Ta vô cùng hoan hỷ đón nhận tất cả các con về thế giới Cực Lạc trang nghiêm thù thắng mà ta đã thiết lập để cho các con trở về tịnh dưỡng. Ta thật yên tâm khi các con về mái nhà chung tình này để được nghe pháp, tu tập mà không bị quấy nhiễu bởi lục trần nhiễm ô của thế giới Ta Bà. Tuy nhiên, các con ạ! Các con thấy đó. Đa số các con đều được hóa sanh ở những phẩm vị thấp, Trung phẩm và Hạ phẩm.
28/04/2015(Xem: 5013)
Người phương Tây và dân trí thức trong thời mạt pháp hầu như không tin pháp môn niệm phật cầu vãng sanh Cực Lạc. Họ không tin vì hai lý do. Thứ nhất họ cho rằng Phật A DI ĐÀ và Tịnh độ Cực Lạc là huyền thuyết. Thứ hai là Kinh sách Đại Thừa Phật Giáo không đáng tin cậy vì thường hiểu lầm là Đại thừa ra đời từ cuộc Tập Kết Kinh điển thứ thứ Tư, hơn 400 năm sau khi Đức Phật nhập niết bàn, cách thời Phật Thích Ca quá xa khiến cho kinh sách đại thừa có phần sai lệch và khó có thể kiểm chứng. Sau đây là những chân lý chứng minh kinh điển đại thừa Phật giáo và Pháp môn niệm Phật nói riêng là hoàn toàn chân thực, không hư dối. Những chân lý này được kiến giải một cách khách quan dựa trên những sự kiện lịch sử Phật giáo và những lời thuyết giảng của Đức Phật ghi lại trong Kinh điển Đại thừa xảy ra đúng với những sự kiện lịch sử sau thời Đức Phật và phù hợp với những thành tựu khoa học ngày nay.
28/04/2015(Xem: 5657)
Một đời giáo hóa của Đức Phật Thích Ca được khái quát hóa trong ngũ thời bát giáo mà theo ngài Trí Giả, Tổ sư sáng lập ra Tông Thiên Thai đã sử dụng ngũ thời để phân định trình tự thuyết pháp của đức Phật; dùng “Bát giáo” để phân biệt pháp môn được thuyết và nghi thức thuyết pháp. Ngũ thời được chia trình tự như sau:
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
108,763,659