Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tịnh độ là lòng trong sạch, Di Đà là tính sáng soi

20/02/201204:18(Xem: 2837)
Tịnh độ là lòng trong sạch, Di Đà là tính sáng soi

Không phải ngẫu nhiên, Phật hoàng Trần NhânTông, trong Cư trần lạc đạo phú, hộithứ hai, Ngài viết: “Tịnh độ làlòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; Di Đà là tính sáng soi, mựaphải nhọc tìm về Cực lạc”[1].
a%20di%20da%20%2814%29

Ý Ngài muốn khẳng định rằng thế giới Tịnh độ chính là tự tâm thanh tịnh của mỗi người, không cần phải hỏi rằng có haykhông có cõi Tịnh độ ở Tây phương. Phật A Di Đà chính là tự tánh sáng soi của chính lòng mình, không cần phải nhọc công tìm về cõi Cực lạc ở đâu đó nữa. Đây cũng chính là quan điểm của Thiền phái Trúc Lâm về tư tưởng Tịnh độ nhân gian được phổ biến rộng rãi trong tâm thức người dân Đại Việt vào thời Trần.

Thực tế cho thấy, vào đầu thời Trần, kểtừ khi Quốc sư Viên Chứng đưa ra lời khuyên cho vua Trần Thái Tông trong cuộchành trình lên núi Yên Tử mong cầu làm Phật được ghi trong Thiền tông chỉ nam tự: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ởtrong tâm, chỉ cần lòng lặng mà biết, đó chính là chân Phật”;hệ quả, mộtquan điểm mới về Phật thể được hình thành. Trong một bối cảnh đất nước Đại Việtđang xây dựng và phát triển trên mọi lĩnh vực, nhất là khẳng định bản sắc vănhóa dân tộc Đại Việt, ắt hẳn nó sẽ tạosự tác động lớn vào tâm thức con người và đời sống xã hội.

Mỗi khi tư duy Phật thểthay đổi thì nội dung sinh hoạt Phật giáo thay đổi hẳn. Ta chẳng ngạc nhiên gì,các nhà lãnh đạo Phật giáo và lãnh đạo quốc gia đời Trần lấy Thiền tông làm hệtư tưởng chính, thế nên mọi tông môn, pháp môn tu tập truyền thống như niệmPhật, bái sám, trì kinh… đều được quy hướng theo sắc thái thiền trong các danhlam, thiền đường, chùa chiền bấy giờ. Mục đích cuối cùng là vận dụng mọi phápmôn tu tập vào trong cuộc sống đời thường, khiến cho mọi người đều kiến tánhthành Phật, tức là thành Phật ngay giữa cuộc đời này.

Rõ ràng, Phật giáo Thiền tông bấy giờ đãnhìn nhận Đức Phật luôn hiện hữu ở ngay trong tâm thức, chỉ cần lòng lặng màbiết thì ai cũng trở thành Phật. Một quan điểm như thế đã tác động chi phốitoàn bộ lịch sử tư tưởng Phật giáo Đại Việt, điều đó cũng có nghĩa nó cũng cóảnh hưởng tương tác với lịch sử tư tưởng dân tộc từ đó trở về sau. Trong bài NiệmPhật luận,Trần Thái Tông đã phát biểu một cách dứt khoát: “Thân ta tứclà thân Phật, không có hai tướng”.Tuệ Trung Thượng sĩ trong Thượng sĩngữ lụccho rằng: “Khi mê không biết ta là Phật”.Trần Nhân Tôngtrong Cư trần lạc đạo phú thì tuyên bố:“Bụt ở cong nhà, Chẳngphải tìm xa,Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt, Chỉn mới hay chínhBụt là ta”.

Rõ ràng, các thiền gia chứng ngộ đời Trần đã nói rõ Phật vàchúng sanh không khác. Đó chính là giá trị nhân sinh của một tinh thần Thiềnhọc như là lời giải đáp tại sao chúng ta hiện hữu trên cõi đời này.

Thế nên, trong cương vị là Tổ khai sángdòng thiền Trúc Lâm, cũng là người đứng đầu quốc gia Đại Việt, Phật hoàng TrầnNhân Tông khao khát xây dựng dựng thế giới Tịnh độ nhân gian ngay tại cuộc đờinày, cũng nghĩa là xây dựng cõi Tây phương ở chốn trần thế đầy bụi bặm trongtinh thần Cư trần lạc đạo. Sự thật nàykhông phải ngẫu nhiên mà thiết lập được, nó là một quá trình thể nhập chuyểnhóa nội tâm qua những phương thức tu trì lâu dài của cả cộng đồng người dân ĐạiViệt được diễn ra kể từ đạo Phật du nhập vào nước ta cho đến nay.

Rõ ràng, trên tinh thần của bản kinh Vô lượng thọ, còn gọi là Đại vô lượng thọ, thế giới Tây phươngđược kiến lập bởimột hình thức trangnghiêm của cung điện vàng ngọc, cây báu,… ở đó còn có đức Phật A Di Đà đangthuyết pháp cùng với 48 lời nguyện được mọi người dân Phật tử hướng nguyện.Trong 48 lời nguyện này, có lời nguyện rằng tất cả chúng sinh, nếu ai niệm PhậtA Di Đà thì khi lâm chung sẽ được Ngài tiếp dẫn đưa về thế giới Tịnh độ thanhtịnh, đẹp đẽ. Tại đây, tự thân người đó không còn bị đau khổ sinh tử trầm luân nữa.Đích thực là tự mình được diện kiến Phật A Di Đà và được Ngài dạy bảo, sau đólà đợi ngày thành Phật.

Rõ ràng, tư tưởng và tín ngưỡng mong cầu đạt đến mộtthế giới Tây phương Tịnh độ để thành Phật là thế. Việc con người sống trong thếgiới hiện thực khổ đau này luôn mong ước tìm cầu, hướng niệm được diện kiếnhình ảnh đức Phật A Di Đà ở cõi Tây phương, hẳn nhiên là một nhu cầu có thật vàcấp thiết. Ngay trong bản kinh A Di Đà(Đại 12 - 354), một bản kinh nhật tụng hàng ngày của người Phật tử, cũng đã môtả lộ trình về cõi Tây phương rất là sống động, thu hút biết bao người dân, mọithành phần trong xã hội nỗ lực hành trình về miền Tịnh độ: “…Hành giả đi về phía Tây quá mười vạn ức Phật độ, có một thế giới Cựclạc của đức Phật A Di Đà”.

Phật A Di Đà chính là vị Phật biểu trưngcho một Phật thể có thọ mạng vô lượng, trí tuệ vô cùng, công đức vô biên (Vôlượng thọ, Vô lượng quang, Vô lượng công đức). Cho nên vấn đề đặt ra cho ngườihọc đạo phải thiết lập Tín - Hạnh - Nguyện trong cuộc hành trình về miền đất anlạc. Nghĩa là một người tu tập pháp môn hướng niệm về Cực lạc, trên cơ sở khởilòng tin bất động có một thế giới Tịnh độ ở Tây phương do đức Di Đà làm giáochủ mà thực thi hành trì niệm Phật, thể nhập hạnh nguyện của mình vào để cầuvãng sinh “Lâm chung Tây phương cảnh,phân minh tại mục tiền”.Nó lý giải tại sao vào thời kỳ Phật giáo du nhập,tín ngưỡng Tịnh độ đã được người dân nước ta thực thi hành trì, mong cầu trongsuốt cả cuộc đời, ít nhất là khi nhắm mắt xuôi tay, giã từ cuộc đời có thể diệnkiến Phật, cụ thể là thấy được đức Di Đà tiếp dẫn về cõi Cực lạc ở Tây phương.

Và thực tế đã minh chứng cho thấy, ngay từthế kỷ V, tư tưởng Tịnh độ và phương thức niệm Phật đã đã được hành trì tạinước ta. Rõ nét nhất là sự kiện sư Đàm Hoằng đến Giao Châu tu hành theo giáo lýTịnh độ, chỉ tập trung hành trì theo bản kinh Vô lượng thọ Thập lục quánvới một ước mong duy nhất là được vãng sinh về thế giới Cực lạc phương Tây[2]. TheoVãng sinh Tịnh độ truyện (q.Thượng tờ112a22-b7) do Giới Châu biên soạn vào năm 1068-1077, thì Đàm Hoằng đã sống vàtu hành như sau: “Thích Đàm Hoằng, ngườiHoàng Long, hoặc có sách nói là người Cao Bưu của Quảng Lăng, trong khoảng TốngVĩnh sơ, nam du Phiên Ngung, dừng ở chùa Đài, sau đến chùa Tiên Sơn, Giao Chỉvào khoảng năm 425. Ngoài việc nhang đèn, hoàn toàn không làm gì khác, chỉ tụngVô lượng thọ và Thập lục quán (Quán kinh) không biết bao nhiêu lần. Hoằng mỗilần niệm nói: Một thân muôn nối, niệm chính khó giữ, có thể nương niệm chính,mới sớm thấy A Di Đà”.

Điểm đáng nói của sự kiện sư Đàm Hoàngtrong tiến trình tu tập pháp môn Tịnh độ là sư đã minh chứng cho giới Phật tửbấy giờ có niềm tin để thực hiện hoài bão thấy Phật là một sự thật. Đó cũng làhình ảnh sư đã tự thiêu cúng dường Tam bảo và hóa thân sắc vàng, cỡi con naivàng đi về Tây phương như trong Cao Tăngtruyện (q.12 tờ 405c 19-28) lược ghi: “Vàonăm Hiếu Kiến thứ 2 (455), sư nhóm củi trên núi, lén vào trong củi lấy lửa tựthiêu. Đệ tử đuổi kịp, ôm giữ đem về, thì nửa mình đã cháy, trải tháng mới biếtchút ít. Sau đó, xóm gần có hội cả chùa đối phó. Hoằng vào ngày ấy, lại vàohang núi tự thiêu. Dân xóm đuổi tìm thì mạng Hoằng đã dứt. Do đó họ chất củithêm, đốt lửa ngày hôm sau mới tắt. Ngày hôm đó, dân xóm đều thấy Hoằng thânvàng, sắc vàng, cỡi một con nai vàng đi về phía Tây rất nhanh, không nghỉ hỏihan. Tăng tục mới hiểu sự thần dị, cùng lượm xương tro, để dựng tháp thờ”.

Cũngtừ đó, phải chăng giới Phật tử Việt Nam thời bấy giờ lại có thêm niềm tin vềhình ảnh Phật thể A Di Đà để niệm Phật mọi lúc mọi nơi cho đến nhất tâm bấtloạn, mà ta có thể thấy bản kinh A Di Đà ghi: “Hành giả nhất tâm niệm Phậttromg một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày chođến khi nhất tâm bất loạn…”. Đó là lúc mà tự thân người tu trì diện kiến đứcPhật A Di Đà ở cõi Tây phương Tịnh độ, giải thoát mọi khổ đau.

Sách Thiềnuyển tập anh[3],cũng ghi nhận ngoài việc thiền sưKhông Lộ tôn trí tượng Phật A Di Đà để phụng thờ, còn đề cập đến việc thiền sưTịnh Lực, học trò của Đạo Huệ, thuộc thế hệ thứ 11, dòng Vô Ngôn Thông. Ông đãvâng lời Đạo Huệ dạy: “Tâm ấn chư Phật,người đã có sẵn, không cần theo ai mà được”.Sư thưa: “Đã được thầy chỉ dạy, nhưng nay nên trụ nơi nào?”.Đạo Huệ bảo: “Chẳng cần đi đâu xa, ở tại Vũ Ninh là tốt”.Sư lên thẳng núi, cất am cỏ, ở tu. Kết quả, qua 12 năm tu hành, chứng đắc pháp “niệm Phật Tam muội”nhờ công phu niệmPhật mà được đại định.

Điều quan trọng là sư đã dạy các môn đồ của mình khôngnên tìm cầu Phật bên ngoài mà đạt được và nếu muốn diệt trừ các ác nghiệp thìnên áp dụng phương pháp niệm Phật bằng cả tâm lẫn miệng cho đến khi nào để thấytự tính Di Đà (thấy tánh mà thành Phật). Vậy là pháp môn Niệm Phật tam muội màThiền sư Tịnh Lực chứng đắc và phổ biến trong các thiền đường ở nước ta vàothời Lý cho mọi người tu tập, thực chất là phương pháp thiền định bằng cáchniệm tưởng (nghĩ nhớ) đến Phật, căn cứ trên bản kinh Vô lượng thọQuán kinh.

Đến thời Trần thì quá trình hình thành hộinhập và phát triển đã hội tụ đầy đủ các tông Thiền, Tịnh, Mật trong diễn trìnhsinh hoạt tâm linh của cộng đồng người dân nước Đại Việt. Với quan điểm Phật tại tâm, phương thức niệm Phật theoThiền phái Trúc Lâm là loại bỏ niệm xấu thay vào đó là niệm tốt để tâm trở nêntrong sạch hoàn toàn. Mục đích cuối cùng mà Phật hoàng mong muốn là làm hóahiện thế giới Tịnh độ ngay giữa cuộc đời bằng cách mỗi người dân Đại Việt tutập thành tựu được cái tâm thanh tịnh, trong sạch, không có sự cấu bẩn của bụitrần (Tịnh độ là lòng trong sạch).

Do đó, mỗi người dân Đại Việt bấy giờ, sốngtrong một xã hội đầy biến động, việc cần xác định trước tiên, là biện tâm, tẩyrửa tâm để tâm thanh tịnh. Mỗi khi tâm thanh tịnh thì Tịnh độ mới xuất hiện ởcõi lòng. Nói như trong Khóa hư lục, bảnkinh nhật tụng đời Trần, qua bài NiệmPhật luậnlà tâm người học đạo luôn phải khởi niệm thiện, khi niệm thiệnkhởi thì niệm ác không có cơ duyên hiện khởi. “Tâm khởi điều thiện tức tức là điều thiện. Niệm thiện khởi thì thiệnnghiệp báo ứng lại”. Để có những niệm thiện, những niệm tốt, ý nghĩ lànhthì không cách gì hơn là mỗi người nên niệm Phật.

Niệm Phật nhằm có khả năng xửlý những sai lầm, ngõ hầu dập tắt ba nghiệp thân khẩu ý: “Trong lúc niệmPhật thân thẳng ngồi ngay, không làm việc tà, như vậy là tắt được nghiệp thân.Miệng tụng lời chân chính, không nói điều xằng bậy, thế là tắt được nghiệpmiệng. Ý chăm chú ở sự tinh tiến, không nảy sinh ý nghĩ tà, thế là tắt đượcnghiệp ý”[4].

Trong tinh thần niệm Phật theo sắc tháithiền đó, niệm Phật trở thành phương thức tu tập loại bỏ tập khí dần dần, hướngđến thuần thục để tâm trở nên tịch tịnh. Đối tượng để tu tập là nhớ nghĩ vềPhật. Tập trung nghĩ vào một đối tượng là một hình thức “chỉ”.Sâu hơnnữa thấy rõ tâm thức ấy biểu hiện những hành động gì, có sai trái thì phải nỗlực hối cải, tẩy rửa tâm thức, đây là một hình thức “quán”.Mỗi khi hànhgiả đã quán thấy rõ sự vật, tỉnh thức với những việc sai trái thì sẽ điềuchỉnh. Đây là một phương thức “chỉ quán song tu”,thực chất là nhữngbước đi đầu tiên của thiền.

Việc vận dụngpháp môn niệm Phật vào việc hành thiền, chứng tỏ Thiền phái Trúc Lâm kế thừa vàtùy duyên hướng dẫn quần chúng bước vào nếp sống đạo thiền đi từ thấp đến cao,chú tâm hướng nội, tìm lại Phật thân. Phật thân đó, ta có thể tóm tắt ngắn gọntôn ý của Phật hoàng: “Tịnh độ là lòngtrong sạch, Di Đà là tự tính sáng soi”.Đây là kết quả biến đổi từ một nộidung mang màu sắc tư tưởng Tịnh độ sang sắc thái “thiền”mà thiền TrúcLâm nỗ lực thiết lập và vận dụng vào đời sống tu tập thực tiễn.

Chủ trương nàyđã hóa thành hiện thực, nó lý giải tại sao vào đời Trần - Phật giáo Đại Việt cóhình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông ra đời, và quan trọng hơn mọi người dân nướcViệt có thể kiến tạo Phật quốc trong lòng mình bằng nếp sống đạo Thiền “Cư trần lạc đạo”,đúng như trong Thượngsĩ ngữ lụccủa Trần Tung mô tả qua bài kệ Thị tu Tây phương bối [5]:

Thân báu Di Đàtại đáy lòng,

Bốn phương thân pháp tỏa mênh mông.

Cả trời chỉ thấy vừng trăng quạnh,

Đêm lắng vàothu vũ trụ trong.

Thích Phước Đạt

1-Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb. KHXH, HN, 1989, tr. 505.

2- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999.

3- Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu Thiền uyển tập anh, Nxb TP. HCM, 1999, tr. 223.

4- Viện văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb. KHXH, HN, 1989, tr.84.

5- Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, Sđd, tr. 242.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/12/201211:01(Xem: 2604)
Tôi thường cầu nguyện rằng tất cả chúng ta sẽ luôn luôn tiếp cận Pháp như những đứa trẻ con. Bởi khi chúng ta bám chấp vào tâm thức của riêng ta, hình ảnh của bản thân ta, năng lực trí thức của ta, ta đánh mất một điều gì đó. Tâm ta trở nên chai cứng. Đối với hành giả Giáo Pháp lâu năm, điều tối cần thiết là họ cần tiếp cận với Pháp như những đứa trẻ, bởi chúng ta có cảm tưởng rằng ta không phải kiểm soát bản thân nữa. Ta không phải khảo sát tâm ta thêm nữa. Ta không phải thực sự nhìn vào trong và xem điều gì xảy ra. Vì thế ta trở nên khô cạn. Ta làm hư hại Pháp.
21/11/201211:11(Xem: 2806)
Vì khiếm khuyết và lỗi lầm không là những phẩm chất cố hữu của tâm thức, nên lỗi lầm có thể được tiêu trừ.
11/01/201322:45(Xem: 2781)
Khi chúng ta nói về tính bản nhiên của tâm thức trong phạm trù Phật Giáo, chúng ta phải hiểu rằng nó có thể được hiểu trên hai trình độ khác nhau: 1- Trình độ căn bản của thực tại, nơi tính bản nhiên của tâm được hiểu trong dạng thức của tính không của nó của tính tồn tại vốn có, và 2- Sự liên hệ hay trình độ quy ước, điều liên hệ đến chỉ là phẩm chất của độ sáng, tri thức và kinh nghiệm.
13/12/201222:33(Xem: 3451)
Chúng tôi nghĩ chúng tôi vừa trả lời điều ấy! Về mặt khác, chúng tôi không có câu trả lời đặc biệt đến câu hỏi của bạn. Tuy thế, chuyển hóa thái độ tinh thần là nhiệm vụ chính của chúng ta. Làm thế nào chúng ta có thể hoàn thành điều này: Làm thế nào chúng ta có thể mang việc làm này về trong gia đình và trường học?
07/07/201106:53(Xem: 2130)
Đưa ra sự kiện rằng trong truyền thống của ngài hiện hữu những thể trạng trong sáng và có những báo cáo về những hành giả kinh nghiệm thể trạng vi tế của tâm thức, câu hỏi của tôi có hai phần: Thứ nhất, những thể trạng vô phân biệt của tâm thức trong lý thuyết có thể được quán sát với những khí cụ ngoại tại không? Thí dụ, nếu chúng tôi để một thiền giả người ở trong thể trạng linh quang vào trong một trong những máy móc hiện đại của chúng tôi với những cộng hưởng từ trường, sử dụng những kỷ thuật hình dung não bộ mới, chúng tôi có thể thấy điều gì đấy, dấu hiệu gì đấy về thể trạng vi tế này không? Có lẻ chúng tôi chưa biết làm điều này như thế nào, nhưng trong lý thuyết, ngài có nghĩ là có thể làm được không? Chúng tôi không muốn đầu hàng với một nhị nguyên mới, tính thô thiển và vi tế, bản chất tự nhiên nhân quả giữa hai trình độ này là gì?
22/04/201311:58(Xem: 5198)
Nói chung, ta được biết là có nhiều cõi Tịnh Độ, nhiều cõi linh thánh của những Đấng Giác ngộ mà chúng ta gọi là chư Phật. Cõi Tịnh Độ của Đức Phật Vô Lượng Quang A Di Đà thì đúng là một nơi độc nhất vô nhị. Có những cõi Tịnh Độ ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, và ở trung tâm. Trong số đó, cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà là nơi dễ đến nhất và vì thế rất đặc biệt.
10/08/201718:07(Xem: 2082)
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày 01 tháng bảy năm 2017, tại tu viện Thiện Hòa, thành phố Moenchenladbach , Đức quốc. Tôi có duyên với quý vị trong giờ phút này, và tôi xin chia sẻ pháp thoại “Đức Phật A Di Đà trong đời sống của tất cả chúng ta”.
07/01/201522:46(Xem: 3187)
Trong mối liên hệ với thế giới của ta thì Cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà ở phương tây và ở phía trên thế giới của ta. Ta phải chấp nhận một vũ trụ quan và nhận ra rằng có nhiều hệ thống thế giới khắp không gian. Tôi đang nói tới một hệ thống hết sức bao la. Chúng ta hãy xác định vị trí của ta.
16/10/201001:46(Xem: 3297)
Đây là bài thuyết giảng về "Đức Phật của chúng ta" một đề tài dễ làm cho Phật tử ngạc nhiên, vì Đức Phật của chúng ta là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật rồi còn gì mà phải đặt vấn đề. Nhưng vấn đề sở dĩ được đặt ra là nhiều khi chúng ta chưa có được một cái nhìn thấu triệt tất cả tinh tường, đức tướng, hạnh đức, tin đức của đức Phật chúng ta. Do vậy, bài này, một phần giúp chúng ta trả lời những thiếu sót như vậy... Chính thái độ hóa thần thông để giáo hóa chúng sanh đã làm nổi bật giá trị tâm lý hoằng pháp mà Đức Phật của chúng ta đã dùng để hoằng hóa độ sanh.
08/04/201311:56(Xem: 7651)
Đại đức Rahula, người Tích lan được đào tạo trong truyền thống Thượng tọa bộ tại Phật học viện Pirivena, sau vào Đại học Tích Lan đậu bằng B.A (London) rồi viết luận án Tiến sĩ về lịch sử đạo Phật ở Tích Lan và được cấp bằng Tiến sĩ Triết học (Ph. D). Sau Đại đức qua Calcutta, cộng tác với các giáo sư Đại thừa và bắt đầu học chữ Hán và chữ Tây Tạng. Cuối cùng Đại đức qua Đại học đường Sorbonne để nghiên cứu về Ngài Asanga (Vô Trước) và lâu nay vẫn ở tại Paris vừa giảng dạy đạo Phật, vừa trước tác sách vở. Như vậy Đại đức có thể được xem là tinh thông cả hai giáo lý, Đại thừa và Tiểu thừa. Kỳ qua Paris năm 1965, tôi có viếng thăm Đại đức và trong câu chuyện ngót hai tiếng đồng hồ, chúng tôi bàn luận rất nhiều về liên lạc giữa Nam tông và Bắc tông, và chúng tôi đồng ý rằng cả hai tông đều chấp nhận và thọ trì một số giáo lý căn bản.