Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

04. Lời Vàng - Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục (phần 4)

06/11/202111:22(Xem: 35)
04. Lời Vàng - Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục (phần 4)

an quang dai su 3

LỜI VÀNG - ẤN QUANG ĐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC
Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm
Phiên dịch & thi kệ toát yếu 2015
 
Phần IV
CHƯƠNG VI
Khuyên nhủ các thiện tín tại gia
 
Luận về Tâm Tánh
 
2974. Tâm là gốc, rộng lớn, bao gồm muôn pháp
Pháp thế gian và pháp xuất thế gian
Tâm bất sinh diệt, Tịch Chiếu càn khôn
Chỉ một tâm này, chỗ dụng của thánh phàm có khác
 Kẻ phàm phu đưa tâm vào trần cảnh
Lấy tham sân si làm đất dụng tâm
Rong chơi trong ái, dục, sát, đạo, dâm[1]
Tự tạo nghiệp, theo quả nhân lưu lạc
Kẻ chạy theo trần quay lưng với giác
Như Lai xót thương dạy lìa vọng hợp chân
Với người sơ cơ, Phật dạy “dứt vọng là chân”
Khi thuần thục, dạy “vọng và chân đồng thể”
Như gió lặng sóng yên, nước hồ tĩnh lặng
Tuyết sương tan dưới ánh thái dương hồng
Nước là băng, sóng là nước, thể tánh đồng
Nhưng tướng và dụng thì nghìn trùng khác biệt
Cho nên nói,
“Tu đức hữu công, tánh đức hiển hiện
Vọng Hoặc trăm đường, qua lại, đẩy đưa
Nếu chưa hiện tướng tu, miệng nói tánh, cũng bằng thừa
Nên mãi mãi là chúng sinh, dù bàn cao, luận hạ
Vì vậy, Bồ Tát Quán Tự Tại hành thâm bát nhã
Mới chiếu soi năm uẩn thảy là Không
Cho dù phàm phu học: “ngũ uẩn là chân như diệu tâm”
Nhưng tâm mình không tu sửa thì diệu tâm thành trần trược.
Khi nước cuộn phong ba, hạt sương thành băng tuyết
Tướng theo tướng, luân hồi, còn biết tánh nơi nao
Khởi tâm tu, gió lặng, nước thôi chao
Vọng tình khởi như nước kia cuồn cuộn sóng
Lìa vọng dục, sáu căn đều hỗ dụng
Nước, lửa, dung thông theo tâm chuyển tùy nghi
Trên cõi hư không, ngồi, đứng, đến, đi
Nên Lăng Nghiêm nói,
“Kẻ quy nguyên, mười phương hư không tan biến.”
Quy nguyên có nghĩa là hồi quang phản chiếu
Khôi phục tánh chân sẳn có tựa ngọc châu [2]
Y giáo phụng hành, xứng tánh khởi tu
Kẻ cùng tử chính là con trưởng giả [3]
 Chư Phật từng là chúng sinh gia công tu đức
Triệt chứng tánh đức bởi xứng tánh khởi tu
Lấy Phật tánh làm nhân địa, từ đó dụng công phu
Biết gương có tánh sáng nên năng lau chùi bụi bám
Đến một ngày gương sạch trong, chiếu rạng
Hình tướng đến đi, gương vẫn an nhiên
Trí tuệ hiển thông, đoạn sạch não phiền
An trụ tánh tịch quang nhưng thường chiếu.
Hóa độ chín pháp giới xuất ly sinh tử
Với chúng sinh, tánh đức, tu đức đều mê
Quang minh không hiện vì chẳng biết gương kia
Tánh vốn sáng nên không năng lau cho gương tỏ
Vẫn biết tánh sáng không do lau chùi mà có
Nhưng nếu không lau, gương sáng được hay sao
Quen sống trong não phiền, ôm ấp trần lao
Thân khẩu ý cùng tham sân si kết bạn
Biết ngày nào xoay chân về cố quán
Thọ dụng gia tài vốn sớm có phần
Nếu biết rằng Phật tánh có ba nhân [4]
Hẳn thông suốt, lòng không còn nghi hoặc
Chánh nhân Phật tánh là Pháp thân thường trụ
Nơi phàm không giảm, nơi thánh không tăng
Không nhiễm, không tịnh dù sinh tử hoặc Niết Bàn
Chúng sinh mê chánh nhân, chư Phật thì chánh giác
Liễu nhân Phật tánh tức là chánh trí
Chánh trí nương kinh mà biết chánh nhân
Tìm lại cội nguồn, bỏ vọng về chân
Liễu ngộ chân nguyên, phục hồi bổn tánh
Nhân thứ ba là duyên nhân Phật tánh
Là trợ duyên giúp tăng trưởng tuệ tâm
Liễu Ngộ tức là đã rõ chánh nhân
Chứng là tu thiện pháp để tiêu trừ Hoặc Nghiệp
Do vô minh tạo nhân duyên hư huyễn
 Tội phước xoay vần, chốn chốn sinh thân
Tùy nhiễm hay tịnh duyên mà có tứ thánh, lục phàm
Nhiễm khởi Hoặc, tịnh chứng Chân, đoạn Hoặc
Lúc tạo nhân thiện, khi gây nhân ác
Quả theo thân chẳng khác bánh xe quay
Chợt thăng thiên, chợt độn thổ chẳng định kỳ
Tâm tán loạn, bềnh bồng trong thiện, ác.
Nếu đoạn Kiến, Tư, chứng Thanh văn, Duyên giác
Phá vô minh, chứng Bồ tát từng phần
Phước tuệ viên mãn, tu đức đến tận cùng
Tánh đức phô bày, chứng thành Phật quả.
Tận công, tận dụng, Phật vị là kết quả
Tánh viên chân sẳn có, gọi bản tâm
Không thêm vào, không lấy bớt cội mầm
Vốn rạng rỡ, vén mây, vầng nguyệt bạch
Nếu không tận dụng công đức sẵn nơi tự tánh
Từ 52 quả vị, tứ thánh, cho đến phàm phu
Theo chỗ nông, sâu, mà tâm trụ khác nhau
3063. Chân tánh một bầu trạm nhiên, thường tịch.
 
Luận về ngộ chứng
 
Xưa nay ứng hóa thân có cao tăng và Phật Tổ
Dấu kín tông tích, hiện tướng trạng phàm phu
Trí Giả Đại Sư được nhìn như một Tiểu Thích Ca
Nhưng lúc lâm chung, khi môn sinh hỏi vế quả chứng
Đáp lời rằng,
“Nếu ta không bận lòng vì đồ chúng,
Hẳn là chứng được thanh tịnh sáu căn
Nay chỉ đắc Ngũ Phẩm bởi lo việc hóa hoằng”.
Trong Viên giáo, Ngũ Phẩm là Quán Hạnh
Chưa đoạn trừ Kiến Hoặc và Tư Hoặc
Tuy sở ngộ cùng chư Phật tương đồng
Người chân tu không phô đức bày công
Dạy kẻ hậu sinh luôn nhún nhường, khiêm nhẫn
Nay bè lũ chúng ma thường khoe chứng đắc
Đại vọng ngữ, tự chuốc tội vào thân
Sánh với Ngũ Nghịch, Thập Ác nặng đến vạn ức lần
Địa ngục A tỳ giam thân vô số kiếp
Có đáng chi chút hư danh phù phiếm
Vì dúm lợi cỏn con, chịu đọa lạc thiên thu
Chứng Thực Tướng trong một đời, phải là bậc đại trượng phu
Há kẻ mê danh hám lợi mà hòng đối ứng.
Chí khí cao, hiềm vì hạnh chưa cân xứng
Làm ô uế tánh linh, thêm cô phụ Phật ân
Phàm phu có thể đại ngộ nếu là hạng lợi căn
Hiển giáo gọi là “đại khai viên giải”
Hàng “danh tự tức Phật” [5] trong Viên giáo [6]
Ngũ trụ [7] chưa trừ nhưng sở ngộ cùng Phật tương ưng
Dù chế phục nhưng chưa trừ diệt não phiền
Nếu đoạn Kiến Hoặc thì chứng liền Sơ tín
Đoạn Tư Hoặc thì chứng liền Thất tín
Chứng lục căn thanh tịnh hỗ dụng hỗ tương
Có đại trí tuệ và đại thần thông
Thần thông Tiểu thừa không thể nào sánh kịp.
Nam Nhạc Tuệ Tư [8] trước và sau khi thị tịch
Hành trạng bất tư nghì khiến người khởi tín tâm
Nam Nhạc và Trí Giả đều là Đại sĩ Pháp thân
Chỗ thực chứng khó ai so lường được.
Chứng thực tướng,
Phá một phẩm vô minh, bắt đầu vào sơ trụ
Ngộ là thấy đường về nhà như núi hiện lúc tan mây
Chứng là về đến nhà, ngồi, đứng tùy nghi
Bồ tát Sơ địa không biết chỗ cất chân, giở tay của hàng Nhị địa
Biết ý nghĩa thì càng nên cầu sinh Tịnh độ
Dù chưa đạt đến chỗ Năng Sở tiêu vong
Dù chưa đến chỗ kiến tánh minh tâm
Nương Phật lực thọ thân nơi cõi Tịnh.
 
Người đời nay dùng thế trí biện thông để vào thực tướng
Chẳng mấy người biết phản bổn hoàn nguyên
Nếu biết niệm niệm hồi quang thì không bỏ lỡ bao phen
3113. Thấy được đệ nhất nghĩa ngay nơi nhánh cây, viên sỏi.
 
Luận về Tông, Giáo
 
Giảng sư thích giảng thiền trong thời mạt pháp
Công án trở thành hiểm họa cho người
Chấp vào những câu chuyển ngữ mà phỏng đoán nghĩa đầy, vơi
Thay vì giữ tâm tịnh gia công tham cứu
Công án giúp người bước vào cùng cảnh giới
Không phải là thí dụ của bậc thánh nhân
Hiểu lầm nên mang Tông phá Giáo, mang Giáo phá Tông[9]
Trở thành tệ nạn lưu truyền trong tứ chúng
Càng thuyết giải càng xa lìa ngộ, chứng
Nên chư Tổ dùng chuyễn ngữ tìm kẻ hợp cơ phong
Kẻ quen luận suy theo chữ nghĩa sẽ mông lung
Chẳng thể dùng văn ngôn toan hợp lý
Đời nay lắm kẻ học đôi ba câu đắc ý
Chẳng hiểu chi pháp Phật, pháp thế gian
Sơ phát tâm liền gia nhập thiền tông
Hàng tri thức cũng xiển dương dù chưa triệt ngộ
Không cẩn thận nhìn mỗi lời Phật Tổ
Lợi hại khó lường như thuốc độc và đề hồ
Người đời nay lo lắng việc thu thập môn đồ
Như kẻ đui dẫn kẻ mù kéo nhau vào lửa đỏ
Giáo[10] độ khắp ba căn[11] gồm thu lợi, độn
Tông[12] chỉ độ thượng căn, không nhiếp được hạ, trung
Kẻ hậu sinh khó lãnh hội được cơ phong
Thích lập lại công án để phô bày cái biết
Vỡ tung một thoại đầu có thể nhân tâm trực chỉ
Như Tăng Diêu vẽ rồng, khi điểm nhãn liền bay
Nhưng buổi mạt thời, tánh khí đã suy vi
Nên học giáo để tỏ tường gốc ngọn
Thiền, xiển dương tông phong, dùng giáo làm ấn chứng
Giáo, lúc tu trì không lấy thiền ngữ lạm bàn
Pháp Phật không cao thấp hoặc hèn, sang
3145. Do căn cơ nhiều ngã, lợi ích liền khác biệt.
 
Luận về trì chú
 
Trì chú chỉ nên như một trợ hạnh
Niệm Phật luôn là chánh hạnh khắp mọi thời
Cầu vãng sinh Tín-Nguyện-Hạnh khó đổi dời
Phàm phu cảm, vì đạo giao nên Phật ứng
Nghiệp lực chúng sinh hằng muôn triệu ức
Nếu quên Phật A Di Đà khó nỗi xổ lồng
Lực dụng vô biên vô lượng pháp môn
Không thể sánh với pháp môn Tịnh độ
Do tụng kinh, trì chú gieo trồng phước tuệ
Nếu trì chú cầu thần thông tức bỏ gốc, ươm cành
Đạt đạo rồi thần thông tự nhiên sanh
Nếu không đạt đạo, dù có thần thông cũng làm chướng đạo.
 
Người trì Chú không nên khởi tâm phân biệt
Tôn sùng chú Phạn văn, khinh rẻ Chú phiên âm
Phải biết rằng người dịch kinh chẳng phải hạng tầm thường
Chớ thấy bản văn có khác mà sinh lòng khinh thị
Thần lực của Chú muôn ngàn năm một vị
Trì Chú và khán Thoại Đầu, phương pháp như nhau
Tuy không hiểu nghĩa nhưng trì đến chuyên tâm
3165. Chí thành kính thì nghiệp tiêu, khai mở trí.
 
Luận về xuất gia
 
Pháp Phật làm nền cho chúng sinh trong chín cõi
Người trì trai, niệm Phật, số hằng muôn
Nhưng có được mấy người khiến mối đạo thịnh hưng
Nên người xuất gia chớ quên lưu truyền Phật pháp
Người triệt ngộ tự tánh, tâm Bồ đề khai phát
Lại chọn niệm Phật làm chánh hạnh tu trì
Cầu nguyện lực Phật A Di Đà mau chóng thoát ly
Người như vậy chẳng phải là dễ gặp
Biết bao kẻ thân khoác ca sa, đầu cạo tóc
Mượn danh tăng nhân, ni chúng để hưởng nhàn
Kẻ thì xưng danh con Phật làm kể ngụy trang
Dù chưa phá giới cũng đã là bại chủng.
Kẻ phá giới hẳn nhiên sa địa ngục
Chẳng biết xuất gia là bậc đại trượng phu
Há dành cho kẻ hạ liệt tham cầu
Bởi trọng trách người xuất gia ai dám gánh
Phải là người phá vô minh, hiển Phật Tánh
Mới đưa vai gánh gia nghiệp Như Lai
Xiển dương đạo hạnh, lợi ích muôn loài
Thắp đuốc tuệ nối giống dòng chư Phật.
Nay trong tăng chúng dẫy đầy hàng bội bạc
Người chân tu không đếm được mấy ai
Niệm Phật còn chẳng xong, nói chi đến gánh mối đạo Như Lai
Kể chi đến bảo tồn nguồn tuệ mạch
Xưa nhà Minh đưa ra kỳ khảo hạch
Vấn điển kinh với người muốn xuất gia[13]
Đời nhà Thanh phá bỏ luật ông cha
Sinh tệ nạn trong hàng hàng tăng sĩ
Cho tùy ý xuất gia chỉ nên với người thượng trí
Với kẻ hạ căn khó tránh nỗi nguy nàn
Người thượng căn chẳng dễ gặp cõi thế gian
Kẻ hạ trí dẫy đầy trong hiện đại.
Lông bò thì nhiều, vảy rồng đâu có mấy
Thanh tịnh tăng chẳng đếm được bao người
Nhận cho xuất gia nên chọn kẻ thiên tư [14]
Phát Bồ đề tâm giúp người, lợi vật
Riêng người nữ, nên sống tại gia, tu Phật
Bởi dù chân tu cũng không dễ tùy nghi
Không dễ ngồi nằm, ăn ở, đến đi
3205. Huống chi việc vào chốn hiểm nguy truyền mối đạo.
 Lại nói về quỳ hương[15], tý hương[16] là môn lược khảo
Xưa Tổ Linh Phong[17] ngày ngày trì Phạm Võng, Lăng Nghiêm
Nên thường châm hương vào tay để tự nhắc đạo hạnh thiêng liêng
Để đối trị tham thân, mến sắc, là tập khí
Trong hạnh lục độ, đây là bố thí
Thấy người cho, kẻ nhận, vật là Không
Bố thí ba la mật, đến được Tam Luân[18]
Lại thể hiện được Tứ Hoằng Thệ Nguyện[19]
Nếu kẻ quỳ hương, tý hương có tâm bất tịnh
Chuộng hư danh, chấp công đức, ngã, nhân
Thì dù cho có đốt cả toàn thân
Cũng chẳng khác việc làm vô ý nghĩa
Nên kinh Hoa Nghiêm nói,
Rắn uống nước thành nọc độc, bò uống nước thành sữa
Người trí càng học càng mau chứng Niết Bàn
Kẻ ngu si càng học thì kiến chấp càng tăng
Sở-tri-chướng [20] mở rộng đường sinh tử
Tâm Bồ tát tựa hư không, lời lời như thiên sứ
Dùng muôn phương kế, hòng lợi lạc quần manh
Phàm phu chưa đắc pháp-nhẫn-vô-sinh [21]
Chớ bắt chước khiến thân tâm tổn hại.
Tuy rằng pháp tu có lục độ vạn hạnh
Việc lợi người chính là việc lợi mình
Nhưng kẻ hạ, trung căn hãy nên tùy phương tiện tu hành
Dù bước chậm nhưng vững vàng chẳng ngã.
Chớ buộc người bệnh phải làm theo công khóa
Tụng mấy thời, niệm mấy chuỗi mới là xong
Phải biết rằng công đức có từ tâm
Tùy hoàn cảnh, căn cơ mà tu tập.
 
Muốn cầu vãng sinh, trước phải buông bỏ tâm hỗn tạp
Tu sửa chính tâm mình là việc đầu tiên
Tận lực, tận tâm, riêng việc họa phước, cát hung
Niệm Phật sám hối, sẽ hóa lành, chuyển dữ.
Kẻ chẳng biết lập mạng thì chẳng phải là quân tử
Lập mạng do tận tâm, tận lực tu trì
Kẻ buông xuôi, giải đãi, mặc nhân quả an bài
Rồi lớn tiếng đổ thừa cho số mạng.
Người ý chí kém hèn nghĩ rằng khi quá vãng
Chỉ mong không sa vào ba cõi tam đồ [22]
Đâu biết rằng nếu chẳng thể vãng sanh
Ai dám bảo sẽ chẳng sa ác đạo?
Không nguyện về Tây phương, tức theo nhân thọ báo
Sáu nẻo luân hồi theo thiện ác xuống lên
Biết đời sau còn gặp được thiện duyên
3250. Nghe hiệu Phật, tu theo kinh Phật dạy.
 
Luận về báng Phật
Phật nhìn tất cả chúng sinh đều là Phật
Tùy thuận căn cơ thuyết pháp độ quần manh
Giúp tiêu trừ vọng nghiệp, hiển bổn tâm
Chúng sinh thấy Phật là chúng sinh trần tục
Nên chín mươi lăm ngoại đạo nơi Thiên Trúc
Tại Trung Hoa thì có bọn hủ nho
Dốc một lòng hủy diệt, báng Phật môn
Phá hình tượng, đổi tên danh vị Phật
Ví như trẻ dùng tay che mặt nhật
Càng cố công càng lộ rõ chỗ ngu si
Có biết đâu tâm Phật bất tư nghì
Kẻ nghe được câu kinh như gieo trồng hạt giống
Như giọt mưa xuân thấm nhuần khắp chốn
Tươi mát cội mầm, nẩy lộc non xanh
Xưa nay,
Văn chương chỉ vài ba nơi nổi tiếng, thịnh hành
Riêng giáo pháp lan tràn muôn cảnh giới
Bốn biển, năm châu, hằng vô số cõi
Khác Nho gia, Phật lấy giác làm tông
Khiến Thủy giác [23] và Bổn giác [24] hòa chung
Viên tánh đức[25] tức tựu thành quả Phật
Nho gia nói về việc minh minh đức[26]
Phật lấy việc thấy tánh rạng rỡ bản tâm
Thanh văn, Duyên giác đoạn Kiến, Tư Hoặc đắc lục thông
Trải 41 địa [27], phá vô minh thành Phật vị.
Thủy giác hợp bổn giác, chánh chân bất nhị
Phật tùy duyên thuận nghịch lợi quần manh
Đức Thích Ca vô lượng kiếp độ sinh
Ứng thân trải khắp ba nghìn thế giới
Tùy cơ lập giáo, ra vào các cõi
Khi thị hiện sinh thân, khi thị hiện Niết Bàn
Như vầng dương rực rỡ chẳng khi tàn
Như ông lái đưa thuyền hai bến nước
Kẻ ngoại đạo trộm lời kinh nối sau, nối trước
Lại dùng danh hiệu Phật để tu tà
Phật thương đời nên không ngớt lại qua
Hiện muôn thân tướng, gọi người trong cõi mộng.
 
Luận về kinh điển
 
Người minh mẫn học giáo tông, tánh tướng
Vẫn phải lấy Tịnh tông làm chánh hạnh tu hành
Kẻ căn cơ thấp kém, thiếu thông minh
Càng nên chọn Tịnh tông làm tuệ mạng
Pháp Phật vô biên, khó liễu thông tường tận
Không dễ gì theo sách vỡ thấy được chân như
Việc hiệu đính bản kinh không khéo thì hư
Chớ vội vã phê bình không chính đáng
Kinh Hoa Nghiêm là vua trong tam tạng
Các kinh Đại thừa lấy thật tướng làm tông
Diệu Pháp Liên Hoa quy nhất hội tam [28]
Khai Tích hiển Bổn, khai Quyền hiển Thật [29]
Tông Thiên Thai nói rằng,
Diệu Pháp Liên Hoa thuần viên, độc diệu
Vượt qua Quyền, chỉ giảng đốn giáo môn
Nhưng phải biết rằng,
Mỗi tàng kinh ứng hợp pháp viên thông
3305. Năm thời giáo vì đối cơ mà lập.
 
Luận về bốn cõi Tịnh độ [30]
 
Cũng như vậy, nay nói về bốn cõi
Phàm Thánh Đồng Cư là cõi đới nghiệp vãng sinh
Cõi Phương Tiện Hữu Dư là cõi của Nhị thừa
Đã đoạn diệt Kiến Hoặc và Tư Hoặc.
Cõi Thật Báo của hằng sa Bồ tát
Đoạn vô minh và chứng đạo từng phần
Thường Tịch Quang là cõi Phật Pháp Thân
Thường tịch thường chiếu, bát nhã và giải thoát.
Luận về sự lý, đọc Di Đà Yếu Giải [31]
Trí đức[32] và Đoạn đức[33] thảy viên dung
Nên biết rằng,
Cõi Thật Báo và Tịch Quang, vốn dĩ hòa chung
Bởi xứng tánh nên gọi là Thật Báo
Tịch Quang tức nhập vào ngôi Phật bảo
Gọi là hai nhưng tánh tướng nhất như
Tánh là Tịch Quang, tướng như vi trần hiện khắp thái hư
Tánh như gương báu, tướng đến đi đều rõ mặt
Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán
Vì muốn người dễ rõ thông nên mới nói cách ly
Hữu tướng, vô tướng, hữu vi, vô vi
Cùng nghĩa ấy, tuy có cao, có thấp.
Nhưng chẳng phải vô tự hơn hữu tự
Chẳng phải vô vi luôn siêu việt hữu vi
Bởi có người chẳng tin cảm ứng bất tư nghì
Cho rằng cảnh Phật chỉ do tâm biến hiện.
Thiền lấy tự tánh nguyên lai làm tông chỉ
Tịnh lấy Tín-Hạnh-Nguyện mở đường đi
Bởi đời này người thượng trí khó gặp thay
Nếu lại dạy người tham cứu câu niệm Phật
Phàm phu dù tham cứu được, vẫn chỉ là tỏ ngộ
Tham không xong, thì diệu ngộ chẳng phải gần
 Biết “kẻ niệm Phật là ai”, tức thấy được tánh chân
Đà đến chỗ đại ngộ và đại triệt.
Cũng chớ cho rằng Tịnh tông dành cho người hạ liệt
Người cầu sinh đất Phật há ngu si?
Người tham thiền đời nay thiếu thiện tri thức chỉ bày
Khó có thể đến chỗ minh tâm kiến tánh.
 Có thể nói: “Cảnh kia tùy tâm hiện”
Nhưng chẳng thể cho rằng không có cảnh Phật lúc lâm chung
Vốn biết rằng không một cảnh ngoài tâm
Nhưng cảnh giới Phật là pháp môn tu chứng
Như kẻ về đến nhà, sau tháng năm phiêu lãng
Chớ nói duy tâm mà phá hoại pháp Như Lai
Mở miệng nói “duy” thì đã lầm sai
 “Tâm”? Có thật biết khi nào chân khi nào vọng?
Xưa kia Lã Thuần Dương gặp Chung Ly Quyền nơi quán trọ
Họ Lã gối đầu trên chiếc gối của họ Chung
Trải giấc mộng dài, năm mươi năm phú quý tột cùng
Lúc tỉnh dậy, nồi kê vàng chưa chín!
Đó chỉ là cảnh do thần tiên hóa hiện
Huống chi là cảnh Phật hiện, sao dám lạm bàn?
Chớ nói về cảnh Phật qua kiến thức thế gian
Tuy là “một niệm hiện ba nghìn thế giới” [34]
Như trong một tấm gương, hiện hình muôn cảnh vật
Sông núi chập chùng, liễu múa hoa cười
Nhưng gương bất động, chẳng đổi chẳng dời
Sắc pháp thế gian mà còn như thật
Huống chi là người đã chứng tâm đồng tâm Phật
Trên đầu sợi lông hiện cõi bảo vương
Ngồi trong vi trần, chuyển đại pháp luân [35]
Cho nên cảnh Phật hiện cũng tùy theo sở chứng
Người thấy được diệu cảnh chẳng phải là vô cớ
Bồ tát dùng Quyền hiển Thật, dùng Ứng hiển Chơn
Như Bồ tát Văn Thù ứng hiện Ngũ Đài Sơn
Như Quán Thế Âm nơi Phổ Đà hiện tướng.
Nhưng cũng lắm kẻ chưa từng thấy được
Nghe truyền tai thì tiếp tục truyền tai
Năm Quang Tự, Ấn Quang tôi đến viếng Ngũ Đài
Bởi muốn tìm đọc “Thanh Lương Sơn Chí”
Hơn bốn mươi ngày, gặp nhiều người triều bái
Kể nhau rằng thấy được Đức Văn Thù
Nói thấy thì nhiều, chẳng mấy kẻ trì tu
Nên có thấy cũng chẳng thể là thật thấy.
 
Luận về thần thông nên biết sư Đạo Tế [36]
Ăn thịt uống rượu để tự che đức thánh nhân
Giả làm người ngu hòng ở lại cõi thế gian
Ăn chim chết, khi ói ra thành chim sống.
Uống chung rượu, khạc ra thành vàng tô tượng
Nếu cho rằng Bồ tát cũng như ai
Nếu người đời uống rượu, mà chẳng cùng với đời say
Nếu ăn thịt mà nhả ra sinh mạng
Thì hãy uống rượu, ăn thịt như Bồ tát
Còn bằng không, xin chớ có đa ngôn.
 
Cái khổ thế gian là thuốc trị bệnh chẳng gì hơn
Thân trôi giạt biến ra thành pháp bảo
Người ở Bắc Câu Lô Châu không vào được đạo
Người cõi Diêm Phù oan khổ với dãi dầu
Một đời không kết thảm thì cũng đeo sầu
Chợt nhìn lại, tiếc tháng ngày trôi nổi.
Dâng phiến băng tâm, cầu sinh về đất mới
Rũ sạch bụi hồng, tìm lại nét phong tư
Dúm phù hoa vùi dập đã bao thu
Miền phước địa, nay gieo trồng giống Phật
Ai biết được kẻ ngang tàng, bội bạc
Lại chẳng là một Bồ tát ứng thân
Đọa đày người, gây não hại khốn cùng
Như tiếng trống thúc giục người mê muội.
 
Nay lại nói đôi câu về xá lợi
Còn gọi là kim cốt hoặc xương thiêng
Kết tụ do Tâm và Đạo hợp thành
Chớ chẳng phải tinh-khí-thần tu luyện
Cũng không phải khi hỏa thiêu mới hiện
Nơi người chân tu, xá lợi sống tượng hình
Xương, thịt, tóc[37], da, mỗi mỗi kết tinh
Bởi thân ấy không phải là thân ô trược
Thiền sư Tuyết Nham[38] cạo tóc hóa thành xá lợi
Có người trì danh, miệng nhả ngọc, phun châu
Người in kinh thấy ngọc giữa Long Thư [39]
Người thêu tượng, đầu kim tuôn chỉ ngọc
Ngày hỏa thiêu sư Trường [40], trời nổi cơn gió lốc
Khói mù bay muôn dặm biết đâu là
Khói đến nơi nào thì xá lợi tựa châu sa
Đồ chúng thâu nhặt mang về hơn bốn thạch.[41]
Tuy mầu nhiệm nhưng rõ ràng, minh bạch
Chẳng có điều chi gọi là dấu kín, bí truyền
Tà đạo dùng cách bí hiểm, buộc phải thệ nguyền
Lời độc hại tương tự như áp đặt.
Đức Thế Tôn không có pháp gì bí mật
Dạy một người không khác dạy trăm nghìn
Giữa đạo tràng nói lời chánh đại, quang minh
Không bưng bít, không đặt người canh gát
Người học Phật phải đề cao cảnh giác
Chớ lầm bọn yêu tà mượn pháp Như Lai
Khi dạy người thì cửa đóng, then cài
Luôn chiêu dụ rằng có khẩu truyền huyền bí.
 
Việc cầu cơ cũng là một trong những trò nhãm nhí
Chiêu cảm hồn ma giả dạng thánh thần
Hỏi chuyện thế gian thì chuyện biết, chuyện không
Hỏi Phật pháp thì nói quanh nói quẩn
Hồn nương dựa vào lòng người dẫn dắt
Thánh muốn dạy người chẳng nhọc giáng vào cơ
Lòng tham cầu sinh tai họa khó ngờ
3438. Hãy chuyên chú vào pháp môn niệm Phật.
 
Chương 6
Khuyên nhủ các thiện tín tại gia
 
Không nên phân đôi Khổng học và Phật học
Phải tận luân thường mới tận được bổn tâm
Nho học dạy người tận hiếu, tận trung
Phật học dạy người khai tâm, mở tánh
Việc lành thì theo, việc ác thì xa lánh
Kẻ bất nhân há dễ vào Phật đạo được sao.
Nền móng nhà suy sụp lại muốn xây cao
Tà tâm không sửa, mong chi thành Phật.
Trên đường đời, hiếu đạo là bậc nhất
Há xếp trang kinh liền hỗn láo với mẹ cha
Chánh báo [42] và y báo [43] cũng do ta
Chớ phiền trách, chớ đổ thừa mệnh số.
Khách gặp hôm nay do ta mời từ mấy thuở
Quả ác theo nhân ác, chẳng lầm sai
Đã vào chung một nhà, cẩn thận giữ hòa hài
Lòng từ ái sẽ chuyển xoay nhân quả
Pháp Phật dạy gồm thu chín pháp giới
Phật không thuyết lời kinh mà người chẳng thể thực hành
Chớ bảo rằng pháp Phật tận mây xanh
Pháp phàm tục mới dễ sanh, dễ sống.
Đã dễ sanh thì cũng là dễ diệt
Dễ sống thì cũng dễ chết vậy thay
Nên phát huy thiện căn, tánh đức mở khai
Dù trong thế tục cũng trọn đường thế tục.
Ngoài huyền cơ nương nhờ vào Phật lực
Phật dạy về nhân quả suốt ba đời
Đoạn Hoặc chứng Chân, viên mãn Bồ đề
Là những việc Nho giáo chưa hề nghe đến.
Huống chi là vô tu và vô chứng [44]
Là pháp thâm sâu Nho giáo lượng được sao
Nhưng phải đi cho vững trước khi muốn trèo cao
Muốn hiểu Phật Tổ, trước phải theo Hiền Thánh.
Kẻ trái nghịch luân thường thì dám cùng ai sánh
Lại chen vào cửa Phật nói chuyện thấp, cao
Cha hãy từ, con hãy hiếu, thì mới luận cạn, sâu
Học căn bản vững thì lo chi không đạt đạo.
Nho giáo là nền móng trải đường Phật đạo
Nguồn đã sạch thì nước hẳn trong veo
Muốn là chân Phật tử thì chân Nho phải học theo
Muốn thành Phật trước phải là quân tử.
Vua chọn trung thần từ trong hiếu tử
Kẻ tiểu nhân làm sao gánh được đạo Như Lai?
Làm sao nối tuệ mạng, hóa độ muôn loài?
Nên phải biết, pháp Phật gồm thu Tiểu, Đại.
Pháp thế gian, xuất thế gian, đều trong Phật pháp
Nhân đạo vẹn toàn thì Phật đạo mới viên dung
Nếu đối cha bất hiếu, đối vua bất trung
Lễ nghĩa liêm sỉ chẳng hề sáng tỏ
Thì dù có xây chùa cao, khua chuông, đánh mõ
Không tu tâm, Phật chẳng thể gia trì
Như người ngộ độc, uống thuốc bổ vào thì có ích chi
Trước phải ói ra cái độc, gọi là đoạn Hoặc.
 
Luận về giáo dục gia đình
 
Gia đình hưng thịnh cần gia quy nghiêm chỉnh
Tan nát gia đình bởi bỏ phế gia quy
Muốn con nên người, cha mẹ thận trọng mỗi hành vi
Tránh nhân ác, và dạy con trồng nhân thiện.
Giáo dục trong gia đình là điều khẩn thiết
Hãy dạy con từ lúc bế trong nôi
Khi lớn lên quen tánh thiện, bước vào đời
Đối cảnh, gặp người, biết câu nhân ái.
Không như kẻ ỷ vào thông minh, khinh người ngu dại
Dù tài cao, chí lớn, học rộng, biết nhiều
Không biết nghĩa nhân, mê lợi đánh liều
Hủy diệt đạo nghĩa, khinh thường nhân quả.
Đa phần người như vậy do gia đình buông thả
Lúc bé thơ hãy dạy tánh siêng năng
Hãy dạy con làm những việc vừa sức, vừa thân
Chớ cung cấp áo quần xa hoa, lòe loẹt.
Khi con phí phạm vật dụng, nên răn đe, giải thích
Dạy con biết ơn người chế tạo, vun trồng
Khi con biết đọc, hãy cho con sách dạy đức ân
Gây dựng nền tảng từ thuở còn bé bõng.
Cha mẹ không dạy con đúng cách, khi con hư hõng
Không biết lỗi mình, chỉ biết chối bỏ con
Vừa thiếu lòng nhân mà trọng trách chẳng vuông tròn
Trách người dễ, trách chính mình chẳng dễ.
 Dạy con như vậy, đứa có thiên tư xuất thế
Sẽ trở thành bậc anh kiệt, vĩ nhân
Đứa không sẵn thiên tư cũng sẽ có tình thương
Tánh vốn thiện, sẽ dạy người hướng thiện.
Không biết dạy con nên đứa thông minh dễ thành ngụy biện
Kênh kiệu với người bởi chẳng biết nhún nhường
Không biết thương người ngu dại, bởi thích phô trương
Không được dạy khuôn phép nên biết đâu đạo hiếu.
Cha mẹ thương con nên dạy câu Phật hiệu
Vun bồi phước tuệ, tăng trưởng thiện tâm
Từ ấu thơ, dạy không làm hại thú cầm
Khi khôn lớn ngại làm điều gian ác.
Dạy con thành nhân là việc làm bậc nhất
Mỗi việc làm đều theo dấu hiền nhân
Đó chính là dùng thế tục tu chân
Tình yêu mến nên mang màu bi trí.
Đứa nhỏ dại thường cận kề mẹ, chị
Nên vai trò phụ nữ chớ xem thường
Xưa Thái phu nhân sinh hạ Văn Vương[45]
Đức lớn rộng dạy con thành bậc thánh.
Muốn dựng nước, con gái là điểm chánh
Là người sinh thành và ảnh hưởng bậc trượng phu
Nếu thuở bé thơ không được dạy toàn chu
Khi làm vợ biết đâu là chánh đạo.
Sinh con cái, nếu không phải do hiền mẫu
Bước vào đời, biết thành bại ra sao
Giúp chồng, dạy con, là trách nhiệm bậc nữ lưu
Chớ bương bãi theo cành mà bỏ gốc.
Ấn Quang tôi thường nói,
Nữ nhân chính là bậc tề gia trị quốc
Tự bên trong rường cột của lương tri
Đời nay lắm kẻ chỉ lo trau chuốt mặt mày
Lòng bất thiện, dạy con lời bất thiện.
Mẹ là hiền mẫu thì hiền nhân xuất hiện
Giáo dục gia đình chuyển cộng nghiệp đó thôi
Tai họa liên miên bởi giáo dục suy đồi
Chẳng lo thất đức mà chỉ lo thất nghiệp.
Muốn có con hiền, hãy nên bồi đức
3553. Biết đạo trời thì gầy dựng được thế gian.
 
Khuyên nên tại gia hoằng pháp
 
Học Phật là để khôi phục bản tâm
Không phân biệt còn tóc hay cạo tóc
Với cư sĩ, nhà chính là trường học
Pháp quyến không ngoài cha mẹ, vợ con
Tự tu hành, khuyên nhủ bạn đồng môn
Cùng quy hướng trì danh cầu Cực Lạc.
Khuyên cha mẹ tu hành là con đại hiếu
Biết lạc về đâu khi cha mẹ mất thân
Xưa vua Đại Vũ là bậc thánh nhân
Vẫn không thể cứu khi cha đầu thai làm thú.[46]
Với người chung quanh, lòng hằng khuyên nhủ
Một người cầu vãng sanh tức thêm một Phật viên thành
Đây mới chính là ý nghĩa độ sanh
Tâm hằng tư lự, lo chúng sinh không tin nhận.
Bỏ mất cơ hội đời đời không thấy Phật
Đức từ bi thể hiện tại nơi đây
Hằng nhắc nhở người hết dạ tu trì
Nhớ nỗi khổ luân hồi trong sáu ngã.
Người thế gian dễ theo đời sa đọa
Khi biết tu hành lại cầu phước báu nhân thiên
Cầu thần thông, cầu tuổi thọ thần tiên
Không biết nguyện được sinh về Lạc quốc.
 
Chữ Hiếu của thế gian thường theo cành, bỏ gốc
Dạy chăm lo, cung cấp vật cần dùng
Dạy quạt Hè, ấp lạnh lúc trời Đông
Dạy thành đạt, làm rạng danh tiên tổ.
Sợ mất giống nên gã chồng, dựng vợ
Sợ lúc qua đời không có kẻ khói hương
Sợ mất bàn thờ mà chẳng sợ lỡ mất Tây phương
Dù chu đáo nhưng vẫn là thế sự.
Đối với giải thoát không mảy may ích lợi
Dù được xem là hiếu tử, tiếng lưu đời
Cũng chỉ là câu khen ngợi nhất thời
Sao sánh được với tấm lòng từ mẫn.
Đạo hiếu xuất thế gian lìa tâm vương vấn
Vượt thế tình, lo sinh tử của mẹ cha
Khuyên cầu Tây phương như giục mẹ về nhà
Khuyên tìm bổn tánh như tìm gia tài chôn kín.
Kinh Địa Tạng nói về kẻ ngu si hiếu kính
Lúc cha mẹ lâm chung lại giết hại heo, gà
Mang lên bàn thờ như kết chặt mối oan gia
Khiến cha mẹ càng khó khăn siêu độ
Người đại hiếu vẹn hai đường lớn, nhỏ
Cả thế gian và cả xuất thế gian.
Thường chăm nom nhưng khéo léo khuyên can
Dùng thân chính mình nêu gương đạo hạnh
Khuyên niệm Phật, ăn chay, cầu sinh cõi Tịnh
Không tạo thêm tội thì đới nghiệp vãng sinh.
Chín phẩm sen vàng an trú tánh linh
Nơi đất Phật sẽ viên thành quả Phật.
Nếu cha mẹ đã bỏ thân, ngày ngày truy tiến [47]
Luôn tu hành mong hồi hướng Tây thiên
Nếu chưa vãng sinh thì sẽ được vãng sinh
Nếu đã vãng sinh, nâng cao phẩm vị
Được như vậy tức làm bốn lời nguyện thệ [48]
Cũng hoàn thành pháp tự lợi, lợi tha
Không những là báo đáp hiếu mẹ cha
Mà công đức chính mình thêm thù thắng.
Đó là kẻ biết dùng thân thuyết pháp
Lục đạo chúng sinh là quyến thuộc lâu xa
Độ chúng sinh tức trả hiếu mẹ cha
Nên Phật dạy, hiếu thuận là chí đạo.[49]
Nên phải biết,
Một chữ hiếu trả cho tứ sinh[50], lục đạo[51]
Trong luân hồi đã thay mặt, đổi tên
Gặp lại nhau chẳng biết để đáp đền
Việc nhỏ nhất là trường chay, không giết hại.
Với người không tin, chẳng nên tranh cãi
Làm hết phận mình theo thuyết chính danh[52]
Không nên ép người niệm Phật vãng sanh
Chẳng khác kẻ đè đầu bò cho gặp cỏ.
Thời nay pháp nhược ma cường, người tại gia nên hỗ trợ
Chuyên trì ngũ giới, niệm Phật Di Đà
Tự mình tu hành, khuyên nhủ gần xa
Phải biết rằng, đó là việc chung của tứ chúng [53]
  Thân tâm đoan chánh, người người vâng phục
Không khiến sai mà người tự y theo
Như gió thổi qua, cỏ nép thuận chiều
Giữa phố thị, nói, làm, theo chánh kiến.
Nên Ấn Quang tôi viết câu đối liễn:
“Đường tắt Tây phương nếu chẳng biết dùng
Pháp Phật trong chín cõi, đâu là chỗ viên dung?
Bỏ pháp Tịnh độ, Phật mười phương không độ khắp”.
 
Khuyên nên ở nơi trần thế học đạo
Hàng cư sĩ có trăm điều lo tính
Cha mẹ, vợ con, công sở, cửa nhà
Nên tùy phận mình mà tu tập tại gia
Chẳng thể bỏ tất cả, ngồi yên mong nhập định.
Cho nên, niệm Phật là pháp môn cứu cánh
Khẩu niệm hay tâm niệm cả mọi thời
Lúc đến đi, khi ngủ nghỉ, đứng ngồi
Tâm luôn giữ lấy một câu Phật hiệu.
Muốn học pháp xuất thế, thân không cần xuất thế
Sống giữa chợ đời, nương pháp Phật chuyên cần
Đi đứng, nằm ngồi, nói nín, uống ăn
Nhất cử nhất động đều thuận theo Phật trí.
Được như vậy, một niệm gồm thu ba ngàn cảnh giới[54]
Huống chi là việc đoạn Hoặc chứng Chân
Liễu thoát tử sinh, ngự cõi Liên bang
Xưa cũng vậy mà ngày nay cũng vậy.
Có khác chi Duy Ma [55], Bàng cư sĩ [56]
Đệ tử Như Lai phải đâu tất cả phải vào chùa
Sống tại gia nhưng việc ác ngăn ngừa
Giữ câu Phật hiệu, thân tâm hằng kiểm thúc.
Ngày cũng như đêm, năm canh, sáu khắc
Giữ chân tâm như giữ tuệ mạng Như Lai
Đến một ngày, phát hiện Thực Tướng Không Hai
Sánh vai bậc xuất gia đâu thua kém.
Vẫn hơn kẻ cạo đầu nương cửa Phật
Chuông mõ lơ là, kinh kệ qua loa
Yên phận dần dà, mặc ngày tháng lại qua
Chưa ngộ được đạo, huống chi là chứng đạo.
Sống đời tại gia nhưng biết lấy khổ làm pháp bảo
Bổn phận viên toàn, đủ đức hiếu sinh
Có tiền tài thì cứu giúp kẻ lênh đênh
Có trí tuệ thì khuyên người nên niệm Phật.
Như thuyền xuôi dòng, căng buồm trên sóng nước
Chẳng nhọc công lao liền đến bờ kia
Nếu lãm thông thì Thiền Tịnh song tu
Nhưng phải lấy Tịnh môn làm rường cột.
Nếu là kẻ trung căn thì không cần thông kinh luận
Nhưng luôn ghi lòng việc ác không làm
Luôn trì danh hiệu Phật, hướng Liên bang
Tuy nhàn hạ nhưng bên trong ngầm thông Phật trí.
Cán cân công phu nghiêng về người chánh tín
Được lợi ích thâm sâu hơn kẻ đa văn
Bởi đa văn nên cứ mãi tính toan
Dùng tri kiến thế gian mà luận nghị.
Nếu biết buông xả trăm lo ngàn nghĩ
Sẵn thông minh sẽ triệt ngộ, không lầm.
Tín-Hạnh-Nguyện song hành sẽ vào được bản tâm
Nếu chẳng vậy, tri thức kia chỉ để dành phỏng đoán.
Kẻ tham thiền nếu không minh-tâm-kiến-tánh
Suy luận nọ kia thì chỉ là mớ kiến thức tả tơi
Mang tiếng tham thiền nhưng chỉ là tham chữ, chuộng lời
Càng nghiền ngẫm càng sa vào bế tắc.
Người diệu ngộ là ngộ ra tánh Phật
Nào phải đâu chỉ giải được nghĩa văn chương
Thấy tánh rồi, thực chứng mới phi thường
3692. Nếu chẳng được vậy, phải gia công quán chiếu
 
CHƯƠNG VII
Thư gởi người học Phật
 
Chứng tánh Phật mới là điều khẩn yếu
Dù Tiệm, dù Đốn, đó là việc đương nhiên
Dù tu muôn pháp môn Tịnh, Luật, Giáo, Thiền
Cũng không ngoài mục đích ngộ và nhập[1] Bản Tánh
Điểm thù thắng trong Tịnh môn là Tín-Nguyện-Hạnh
Nương uy thần Phật lực ứng sinh thân
Trên đài sen là đồng tử cõi Liên bang
Chứng bất thoái, lấy Phật tâm làm đuốc tuệ.
Nếu sống buông xuôi, tuôn theo trần thế
Lúc lâm chung thần thức sẽ lao đao
Bệnh tật rã rời, thân xác đớn đau
Muốn quy niệm chẳng phải là dễ được.
Ngày ngày nên tập rèn cho tâm thức
Nhớ điều lành, tưởng đến Phật không lơi
Khi trên hai bờ sinh tử, thuyền mộc thuận dòng xuôi
Thế mới chẳng uổng phí bao công hạnh.
 Thuận Bản Tánh thì gọi là Phật, Thánh
Nghịch Bản Tâm thì gọi đó phàm phu
Chỉ hai đường thuận nghịch, nhưng vẽ ra vạn pháp môn tu
Bởi tùy căn tánh chúng sinh mà lập ra nhiều thứ bậc.
Người thượng trí vượt quyền pháp[2] chứng liền tánh Phật
Lại có kẻ công phu suốt kiếp cũng không xong
Điểm then chốt là phải khéo biết dụng tâm
Chớ leo lẻo tranh hơn, theo thế trí.
Lắm kẻ dám dẫn kinh để thuyết điều tà vạy
Bảo người rằng: “Phật vốn chẳng dục tâm
Kinh A Di Đà nói tòa bảy báu, đất vàng ròng
 
3720. Chẳng bằng kinh Kim Cang dạy lìa muôn sắc tướng
Cho nên cầu Tịnh độ tức là theo dục tưởng”.
Hạng người trên nào hiểu được lời kinh
Phải nên biết rằng,
Cảnh giới Tây phương là thực tướng trang nghiêm
Là quả-địa kết thành từ nhân-địa.
Nhân-địa càng sâu, quả-địa càng tối thượng
Ví như người lòng chính đại quang minh
Mở miệng như hoa khai, thanh thoát, dịu hiền
Kẻ lòng xấu ác thì nói toàn lời thô tục.
Cũng như vậy,
Vô biên, vô lượng quang nơi đất Phật
Thất bảo, hoàng kim từ công đức tạo thành
Đọc Kim Cang thì nên hiểu lời kinh
Kinh luận về Lý-tánh hơn là về Phật-quả.
Kinh dạy không trụ tướng để đưa đường Bát-nhã
Dạy là Không rồi liền dạy Bất-không
Kẻ hí đàm kia không thấy được Phật ân
Vì chúng sinh hạ liệt mà trăm ngàn lần giảng kỹ.
Lại có kẻ phá bỏ luân thường, đạo lý
Chủ trương sống tự nhiên theo với bản năng
Thử hỏi,
Nếu mùa Hạ lõa lồ, cớ sao Đông đến lại che thân?
Sao chẳng để tự nhiên trong buốt giá?
Cớ sao lại phải trồng cây, gieo mạ?
Quả thật là người không hiểu lý vô tâm
Lấy Vô đối Hữu, lấy Có đối Không
Hóa thành kẻ không biết điều liêm sĩ.
Lại có kẻ cho rằng phóng sinh là uổng phí
Sông biển muôn trùng, cá nuốt cá, chỉ uổng công
Thả xuống sông rồi lại vướng lưới ngư ông
Dù đã được cứu lại chẳng dễ gì sống sót.
Lý luận nói ra, tưởng chừng thông suốt
Hóa ra chỉ là lời chót lưỡi, đầu môi
Bởi phước xưa, nay được thọ thân người
Nếu lại làm thân cá, hẳn mong đừng vướng lưới.
Đến lúc ấy, làm sao dùng miệng lưỡi
Bảo người rằng: “Chớ có thả tôi ra
Nhỡ mốt mai gặp cá lớn chẳng tha
Lại uổng phí việc phóng sinh tạo phước”.
Kẻ ngu si thích nói điều vô thưởng phạt
Có biết đâu lời xằng bậy thốt ra
Ngăn cản thiện tâm thì quả báo chẳng còn xa
Nếu chẳng vậy thì đất trời đều nghiêng lật.
Việc ác dù nhỏ, quân tử không tạo tác
Việc thiện dù nhỏ, quân tử chẳng làm ngơ
Như kẻ kia, lúc gặp tai họa bất ngờ
3767. Do ác báo nên không ai cứu giúp.
 
 
Tùy Tự Ý Tam Muội
(隨自意三昧)
[Vạn Tân Toản Tục Tàng Kinh (卍新纂續藏經) Volum 55 kinh số 903]
 
 Ghi chú của người dịch: Trong Văn Sao, có bức thư gởi cho một cư sĩ ở Vĩnh Gia hỏi về Tùy Tự Ý Tam Muội do Nam Nhạc Tuệ Tư Đại Thiền Sư (515-577) là tôn sư của Thiên Thai Trí Giả giảng thuật, có lẽ tùy thời cơ thuyết pháp nên Ấn Quang Đại Sư không đi sâu vào nội dung bản văn Tùy Tự Ý Tam Muội, mà chỉ nói 8 câu đầu tiên (từ câu “Đây là pháp môn tu hành từ thánh đến phàm”, và chấm dứt với câu “Có thể hiện thân tướng khắp mười pháp giới.”
Tôi (Từ Hoa) thấy rằng đây cũng là dịp để giới thiệu những điểm quan trọng trong bản văn này nên đưa vào đây, từ phẩm “Tướng đi oai nghi” cho đến hết bài. Tất cả những câu kệ dịch thêm vào đây đều lấy từ bản Hán văn Tùy Tự Ý Tam Muội mà trước đây tôi và BS Trần văn Nghĩa đã dịch ra tiếng Việt dưới thể văn xuôi. Nay tôi dựa vào bản này mà chuyển dịch dưới hình thức thi kệ. Dù dưới hình thức thi kệ, tôi không tự ý viết ra bất cứ câu nào của riêng mình. Người đọc muốn thâm cứu đầy đủ thì nên đọc toàn thể bản dịch văn xuôi có phần chú giải.
 
 Có người ở Vĩnh Gia hỏi về tam muội Tùy Tự Ý [3]
Đây là pháp môn tu hành từ thánh đến phàm
Sơ trụ Bồ tát Viên giáo gọi là sơ phát tâm
Là bậc đã chứng ba tâm[4] và ba đức [5]
Từ duyên-nhân phát thiện-tâm chứng giải thoát
Từ liễu-nhân phát tuệ-tâm, chứng bát-nhã kim cang
Từ chánh-nhân phát lý-tâm, chứng đắc pháp-thân
Có thể hiện thân tướng khắp mười pháp giới.
 
Tướng đi oai nghi
 
Đối ứng muôn duyên, độ sanh các cõi
Dùng mắt đại từ mà quán chúng sinh
Lục ba la mật trên mỗi bước chân
Hiện vô úy thí [6], dù xem thân như ảnh tượng
Chúng sinh nhìn thấy oai nghi Bồ tát
Tăng trưởng tuệ mạng, hiểu được ý vô sinh[7]
Bồ tát không chấp thân mình, không chấp tướng chúng sinh
Không chấp việc hóa độ, nên gọi là bố thí ba la mật
Phiền não diệt nên gọi là trí tận[8]
Khi Bồ tát đi, chúng sinh không bị tổn thương
Trì giới ba la mật hiện trên mỗi bước chân
Không khởi niệm, không chấp thiên đàng, địa ngục.
Vì không giao động nên gọi là nhẫn nhục
Tâm không trước không sau, tinh tiến tu hành
Không Niết bàn, định, loạn, tử, hoặc sanh
Không cảm thọ, gọi là thiền ba la mật.
Không thấy trói buộc, cũng không giải thoát
Không thất, không đắc chính là trí tuệ này
Lục độ ba la mật viên mãn hiển bày
Tâm thanh tịnh, còn gọi là tự tánh.
Tự tánh là Niết Bàn, mê tự tánh thì sinh tử
Tự tánh không sinh diệt, đoạn hay thường
Chúng sinh chân thực, tánh vốn là Không
Chúng sinh chân thực không hề sinh, không hề diệt.
Hành thâm Bồ tát đạo, bậc chính chân Bồ tát
Như hư không chẳng hề ghi nhận có kẻ xuyên qua
Như đất kia in từng dấu chân hoa
Cũng chẳng lưu giữ hành tung và dấu tích
Chân buông trên vạn ngã đường, lòng tĩch mịch
Không hề nghĩ rằng: Ta đã đến cõi này!
Không đi qua một chốn nào, nhưng biết tất cả các chỗ đến, đi
Tuy không nhận nhưng tự nhiên quả báo.
Ví như mây trời lững lơ vô định hướng
Mây không hề có ý tưởng sẽ tuôn mưa
Nhân duyên hợp thì thấy áng mây đưa
Tướng muôn vật chẳng khác dòng mây nổi.
Tuy chỉ một đóa mây, nhưng làm đổi thay cảnh giới
Hoa lá mở lòng uống mỗi hạt mưa bay
Khi mưa đá nặng nề khiến tan tác cỏ cây
Tất cả việc của chúng sinh đều không khác.
Thân tâm tuy là Không, nhưng quả nhân thiện ác
Rơi xuống muôn loài, hoặc an lạc hoặc thê lương
 Nếu có người tu thánh hạnh, đắc trí tuệ thần thông
Giáo hóa chúng sanh, ví mây lành tuôn giọt ngọc.
Người phá giới không được quả lành như người trì giới
Tuy là Không nhưng quả báo sẽ theo cùng.
Bồ tát hành đạo, ấm, giới, nhập đều Không[9]
Mênh mang, rỗng lặng nên quân ma không tùy tiện
Đó gọi là Thủ Lăng Nghiêm đại định
Không người chứng đắc, không kẻ phát tâm
Sự Lý viên dung nên không hề mất quả, nhân
 
Tuy không mất nhân quả nhưng là vô trụ xứ
Bởi vì nhân Không nên vô tạo tác[10]
Bởi quả Không nên không chấp sắc hình[11]
Tánh chúng sinh tức là tánh Bồ đề
Tâm, chúng sinh, Phật, cả ba không khác[12]
Kinh Duy Ma nói,
Pháp không đến, không đi, không thường trụ
 Bồ tát hành đạo, bất khứ, bất lai
Bởi vô minh nên nhân duyên có đến mười hai[13]
Nên phải biết bước ngược lại dòng ảo hóa.
Thấy cho kỳ được nhân duyên không có thật
Hiểu được bản tâm tức vào được diệu môn.
Chứng được vô sinh tức vào được bản nguyên
Nơi không tướng mạo hiện sắc thân tam muội
Rỗng rang như hư không mà ra vào các cõi
Sinh không thực sinh, diệt không thực diệt vong
Bất động như như, tánh tướng chung đồng
Từ sơ phát tâm cho đến thành quả Phật.
Không theo thứ đệ, từ địa này sang địa khác
Một niệm này trùm khắp đại tam thiên[14]
Mười pháp giới rõ ràng gọi là tam muội Chiếu Minh
Tam muội cũng có tên là Biến Giác
Sắc thân hiện khắp mười phương thiện, ác
Tùy căn tánh chúng sinh mà thuyết pháp thiên, viên[15]
 
Cũng chính là định lực Thủ Lăng Nghiêm
3852. Tam muội Tùy Tự Ý nơi đây đà thành tựu.
 
Tướng đứng oai nghi
 
Thân như hoa mây lồng trong bóng gió
 Tâm tính này thực tướng chẳng từ đâu
Hơi thở như sợi khói vương, không xứ sở ra vào
Lìa pháp giả danh tức là chánh kiến
Có được chánh kiến thì không vọng niệm
Quán thân như bọt nước hợp rồi tan.
Quán thân như hoa đốm giữa không gian
Không chấp ngã, đó gọi là trì giới
Không chấp sáu căn, sáu trần, sáu thức
Biết bản tâm này rốt ráo tịch nhiên.
Tám pháp thế gian[16] không làm xao động, não phiền
Được như vậy gọi là tu nhẫn nhục.
Khi Bồ tát đứng, biết pháp không sinh, không diệt
Cả ba đời không pháp trước, pháp sau
Không trụ nơi nào, cũng chẳng về đâu
Luôn làm lợi người, đó gọi là tinh tiến.
Khi Bồ tát đứng, thân và tâm không tịch
Không chấp định, không chấp loạn, bởi cứu cánh là Không
Nhập bất động tam muội, hiện tất cả sắc thân
Đó gọi là bồ tát đầy đủ thiền ba la mật.
Như ảnh trong gương, như trăng in bóng nước
Không chấp ta người, không chấp thọ mệnh vắn, dài
Không lấy, không bỏ, hiểu căn tính chúng sinh
Tùy cơ cảm mà như lời hoằng thệ
3877. Đó gọi là bồ tát đủ đầy trí tuệ.
 
Tướng ngồi oai nghi
 
An tọa kiết già là một trong những công phu
Người tọa thiền thân tâm ngay thẳng, dễ điều nhu
Niệm niệm khởi thì thấy liền trước mắt
Bồ tát ngồi kiết già, chúng sinh nhìn hoan hỷ
Chỉ trong một cách ngồi, bố thí pháp Bồ đề
Chúng sinh nhìn thấy dứt bỏ lòng mê
Biết tất cả ấm giới nhưng không lay động
Đó gọi là trì giới ba la mật
Chúng sinh nhìn thần thái, bỏ đua tranh
Thôi phân chia, cãi cọ bởi lợi danh
Đó gọi là nhẫn nhục ba la mật
Khi Bồ tát ngồi, thân tâm không mệt mỏi
Khiến chúng sinh hoan hỷ phát tâm tu
Bỏ dữ làm lành, tức tinh tiến công phu
Lìa chấp trước, đoạn diệt lòng tham ái
Khi Bồ tát ngồi, tư duy không trói buộc
Biết tính Không của các pháp rỗng rang.
Không định, không loạn, tức ba la mật thiền tâm
Tùy cơ cảm mà vào đời ứng hiện
Biết sắc thân đến đi như vầng nguyệt
Bóng trăng in trên tất cả sông ngòi
Tùy cơ duyên mà hóa độ muôn loài
Như khúc đàn A tu la không người khảy.
Người cõi trời tai nghe lòng hoan hỷ
Thanh thoát giữa trời không chỗ che ngăn
Bồ tát tọa thiền biết vô ngại cõi thánh phàm
Trong một niệm thọ trì muôn pháp Phật.
Hiện vô lượng sắc thân tùy nghi thuyết pháp
Trước mười phương chư Phật, hiện thần thông
Không ấm, giới, nhập, sắc tướng cũng không[17]
Vô lượng biện tài, đó gọi là bát nhã.
Trí tuệ tam thừa[18] vượt qua bỉ ngạn
Không từ đâu sinh, không đến tự nơi nào
Không do quán bên trong, không do quán bên ngoài
Không nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, và ý.
Không xúc, pháp, thanh, hương, sắc, vị
Quán căn, thức, trần, tự tánh là Không
Vì vô sở hữu nên đạo và quả viên thông
Không quán chiếu thì làm sao sinh trí.
Phàm phu duyên theo thức nên tâm phiền lụy
Gốc sinh tử vun trồng, quên trí tuệ thánh nhân
Nếu biết xoay chiều, thấy được thánh tuệ căn
Phá phiền não, hàng phục thiên ma ngoại đạo.
Vì biết thực tướng ngã pháp nên là bậc thánh
Vô nhiễm nên rỗng lặng tựa không hư
Giáo hóa trời người, làm bậc đại sư
Nơi bến giác, khiến người về bến giác.
Chấm dứt dòng lưu lạc từ kiếp này sang kiếp khác
Bởi chúng sinh và Bồ tát chẳng phải hai
Niết Bàn vốn từ phiền não thoát thai
Diệu pháp thân không rời thân bất tịnh
Chúng sinh thấy sắc xanh, vàng, đỏ, trắng
Khởi lòng mê, phiêu bạt chẳng ngày về
Nếu biết sắc là phi sắc, dứt đường mê
3932. Sắc đã vậy thì âm thanh cũng vậy
 
Tướng nằm oai nghi
 
Đêm nằm xuống, nguyện chúng sinh an nghỉ
Tịnh thân tâm, dừng lại những mê lầm
Không nguy nan, bất động gọi là an
Như thế nào gọi là tâm bất động?
 Khi mắt thấy sắc liền sinh dục vọng
Duyên đưa đường thành nghiệp của chúng sanh
Nghiệp sinh ra quả báo hết xuống lại lên
Thọ thân tướng trong sáu đường thiện, ác.
Kinh Đại Tập, Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:
Thấy sắc mà phát sinh ái dục, bởi vô minh
Lòng đắm mê, tạo nghiệp gọi là hành
Luôn mơ tưởng, mong cầu, do ý thức.
Từ thức tạo nghiệp nên vào ra cõi thú
 Quán sát mắt này, sắc, thức ở nơi đâu?
Muốn thấy minh, vô minh, tìm ở chốn nào?
Kinh Duy Ma nói,
Thấy và không thấy đều như nhiên, bất động.
Khi Bồ tát nằm yên, tâm không khởi vọng
Ấm, giới không sinh, làm lợi ích quần mông
Căn, trần, thức như hoa đốm giữa hư không
Không định, không loạn, đủ đầy ba la mật
Thân tâm bất động nhưng hiện thân mười pháp giới
Vạn hạnh tùy cơ thường tịch chiếu mười phương
Oai nghi hiện ra trong sáu thức, sáu căn
3957. Nên khi đối cảnh, thân tâm luôn an lạc.
 
Tướng ăn oai nghi
 
 Trước khi Bồ tát ăn, phải cúng dường chư Phật
Niệm chú thần hồi hướng Nam, Bắc, Tây, Đông
Tùy cơ duyên, cảm ứng được no lòng
Lấy thiền duyệt, pháp hỷ làm lương thực.
Ngoài việc nuôi sống thân, cầu Niết Bàn giải thoát
Chung nước đầy, trong sạch tựa lưu ly
Tương tự cam lồ nếm được lúc tâm trì
Diệu giác thường trụ, trạm nhiên minh tịch.
Bồ tát khi thọ thực, tâm không tạp niệm
Tưởng thức ăn thơm, như pháp vị thượng thừa
Chúng sinh ngửi được hương thơm liền no đủ, phát thiện tâm
Bồ tát bố thí, vào tam luân không tịch
Biết tất cả các pháp, gọi là pháp như thực
Gọi nhất học [19] là nhất vị pháp môn
Khai tam thừa, hiển Thật Pháp dị thường
Rốt ráo an trụ nơi Như Lai tạng.
Cứu cánh bình đẳng không hai, không khác
Tướng không đồng nhưng bản tánh vốn đồng
Tánh Phật như như, còn gọi bản tâm
3977. Là nguồn mạch Chân Không và Diệu Hữu.
 
Lời nói oai nghi
 
Bồ tát trước khi nói, khởi lòng hiếu thuận
Nhiếp từ bi tâm rồi mới thốt ra lời
Khiến âm thanh như gió thoảng nơi nơi
Như tiếng hát cúng dường mười phương Phật.
Như cung đàn A Tu La, như Càn Thát Bà tấu nhạc
Như tiếng loài rồng tuôn xuống trận mưa hoa
Âm thanh như dỗ dành, như điều phục gần, xa
Chúng sinh trong bốn cõi nghe ra lời khác biệt.
Bồ tát quán âm thanh không sinh, không diệt
Biết âm thanh bàng bạc cõi trời người
Âm thanh không tướng mạo, nay thốt nên lời
Một lời nói, hiện muôn lời tùy thuận.
Thuận cơ duyên mà chúng sinh cảm nhận
Cơ cảm khác nhau nên lợi ích khác nhau
Tâm từ bi, khi phải nói lời thô tháo, mặc dù
Đệ nhất nghĩa [20] vẫn luôn là cứu cánh.
Bồ tát dùng âm thanh tán dương vạn hạnh
Thuyết giảng kinh văn tức thí pháp, ban ân
Gặp kẻ can cường, Bồ tát chẳng than van
Khuyên nhủ chúng sinh, đó gọi là tinh tiến.
Không chấp ngã, nhân, gọi là thiền định
Thuyết dòng kinh, đầy đủ pháp biện tài
Biết thân như ảnh hiện, trí như mây
4001. Vào các cõi, hiện uy thần bát nhã.
 …Hết…
Nguyện dâng công đức này
Trang nghiêm cõi Phật độ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát Bồ Đề Tâm
Khi mãn báo thân này
Đồng sinh về Tịnh Độ
(Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm)

(Bắt đầu dịch từ ngày 3 tháng 7, 2015. Dịch xong ngày 23 tháng 8, 2015.
Bản ghi âm không có phần chú thích, xin đọc bản có đầy đủ chú thích trong Tàng Thư Phật Học, Thư Viện Hoa Sen, Rộng Mở Tâm Hồn…)


Hết 

Xin xem: | Phần 1Phần 2 | Phần3 | Phần 





🙏🙏🙏🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
facebook

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/11/202104:52(Xem: 907)
Dịch giả Đại Tạng Kinh Mật Thừa, đã xả bỏ nhục thân tứ đại tại Việt Nam ngày 19 tháng 11 năm 2021. Nam Mô A Di Đà Phật Kính bạch Thầy Cô bạn con vừa báo tin buồn trên, bấy lâu nay cô kính ngưỡng HT và thường cúng dường HT, có lần thỉnh thầy Thiện Minh đến thăm HT, nay nghe tin HT viên tịch cô rất buồn vì chưa kịp gửi tịnh tài về, Con không biết HT nhưng thấy tấm lòng bạn con con thương quá, không biết sao để an ủi cô bây giờ Giờ đây nhìn chân dung HT từ bi quá Thầy được tin vì sao HT viên tịch không thưa Thầy?
01/01/202109:18(Xem: 96367)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
30/03/201706:52(Xem: 8406)
Một thời máu lửa đạn bom Quê hương tang tóc, hồn hoang tru gào Từng trang sử đẫm lệ trào Ngày im tiếng súng nghẹn ngào gọi nhau!
05/02/202008:52(Xem: 4170)
Nhị thập song đôi (2020) Canh Tý Niên Mừng Xuân, Quảng Đức ngát thiền "Tâm an" thủ bút Thầy ghi tặng Chúc nguyện nhà nhà hưởng phước thiên.
11/10/201807:17(Xem: 7246)
Mưa da diết, thời gian như dừng chậm Chút vấn vương thương nhớ chị nơi xa Cô đơn héo hon khi tuổi chớm già Nhiều lần điện , chị đáp lời " Bận lắm " .
05/04/201322:25(Xem: 10477)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
20/08/201419:28(Xem: 14327)
“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh” Một công trường lưu dấu tích tên em Nay bị di dời, Trang ơi em có biết Năm mươi năm giữa Sài Gòn náo nhiệt Chợ Bến Thành nhộn nhịp khách lại qua Mỗi một khi nhìn bức tượng kiêu sa
07/07/201107:27(Xem: 25653)
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
13/06/201421:21(Xem: 14329)
Hãy là “ong”(1) chiêu cảm nhiều nét đẹp Góp nhụy hoa tạo mật ngọt cho đời An nhiên bay thong thả khắp muôn nơi Đem ích lợi ít khi nào tác hại Đừng là “ruồi” thấy phân là bu lại Mang hôi dơ truyền nhiễm đến cho người Chỉ thấy xấu việc dơ bẩn thì bươi Gây thiệt hại hơn là điều lợi ích
02/01/201622:32(Xem: 8464)
Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308,) là vị vua thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Trần Nhân Tông cũng là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu ĐàHoàng Giác Điều Ngự. (Tham khảo từ trang Web. Vikipedia.org VN.)