Thơ viết trong đời sống đạo của Hòa thượng Thích Trí Thủ

22/06/202004:44(Xem: 6936)
Thơ viết trong đời sống đạo của Hòa thượng Thích Trí Thủ

HT_Tri_Thu_3



TÂM NHƯ – TRÍ THỦ TOÀN TẬP
Hoà Thượng Thích Trí Thủ

THƠ VÀ CÂU ĐỐI

THƠ
VIẾT TRONG ĐỜI SỐNG ĐẠO




PHẬT HỌC VIỆN NHA TRANG


Mang mang trường dạ trung

Tam bảo vi minh đăng

Thao thao khổ hải nội

Tam bảo vi từ hàng.

Hoang mang giữa quãng đêm dài

Này ngôi Tam bảo là đài quang minh

Ngập trời bể khổ lênh đênh

Này ngôi Tam bảo sanh linh thuyền từ.

Kỷ niệm Phật đản 2505

THÍCH TRÍ THỦ 
 
 

CUNG KỶ TỪ HIẾU TỔ ĐÌNH KHÁNH THÀNH CHI LỄ 

Mạc nhĩ Thiền tôn truy tư Tổ

Đức quang hỷ từ bi đại tai

Hùng lực Từ Hiếu gia danh

Xuân sơn tịnh vức bất ỷ bất thiên.

Duy tinh tình nhất thị pháp trường

Ngưng kỳ nghi bất hoặc lịch đại

Miên miên tiêu tâm dực dực

Vạn cổ chân phong yết kỳ hữu cực.

Phật lịch nhị thiên ngũ bách tứ niên

Canh tý Mạnh Đông

Ba La, Tra Am tọa chủ hiệu Trí Thủ 

Tịnh môn pháp bái thượng.

(Câu đối ở chùa Từ Hiếu, đề tặng Hòa Thượng Tọa chủ nhân lễ khánh thành chùa). 
 
 

ĐỀ TẶNG HÒA THƯỢNG CHÙA CHÂU LÂM. 

Mỹ hỷ đạo sư, cứ sư tử tòa, diễn đại pháp âm

Hoán tỉnh mê nhơn văn diệu kệ,

Thiện tai văn sĩ, trước tệ cấu y, hiện tiểu thừa tướng

Vãng hồi cùng tử phó gia trân.
 
 

ĐỀ TẶNG CHÙA BA LA, HUẾ 

Bán thiên chung bích nhập Kỳ viên

Mãn địa hoa hương khai Phật quốc

(Câu đối)

Dĩ Đức Trì thân hảo tác nhân

Tam sinh thạch thượng thủ tinh thần

Hành thâm Bát nhã Ba la mật,

Mãn địa thiên hoa bất trước thân.

(Phật lịch nhị ngũ nhất ngũ, Tân hợi Thu)
 
 

ĐIẾU SƯ HUYNH TRÍ GIẢI

 Tam sanh thạch thượng ức tiền duyên,

 Nhân, ngã, đồng tham Đại Phổ Hiền.

 Quy khứ bất phường, vân tán tụ, 

 Cô tùng, hạc lãnh, nại hà thiên!

Dịch

 Ba sanh hòn đá nhớ tiền duyên, 

 Cùng học cùng tu hạnh Phổ Hiền.

 Đi mất, ngại gì mây tán tụ!

 Tùng côi hạc lạnh nói sao nên!
 
 

NƯỚC TÀO KHÊ

Khe Tào nước chảy về Đông,

Bát bình nối dõi lâu không nhớ ngày.

Trăng thiền nào khác xưa nay,

Viên Thành ấn chứng đã dày công tu.
 
 

TỤNG KINH HOA NGHIÊM CẢM TÁC

 Phần hương nhứt nguyện Pháp không vương

 Đại hạnh đồng tham biến cát tường

 Sát hải trần thân thi diệu lực.

 Trầm kha chướng loại tận an khương.

 Đốt nén tâm hương trước Phật đài

 Phổ hiền hạnh cả nguyện nào sai

 Hiện thân cát bụi vào muôn nẻo

 Chữa bệnh trầm kha khắp mọi loài.
 
 

CẢM NIỆM PHẬT THÀNH ĐẠO

 Đêm sâu từ bỏ chốn hoàng cung

 Cắt đứt dây thương bận mấy vòng

 Chữ đạo nằm trên ngai phú quý

 Thề đem muôn loại thoát lao lung.
 
 

 Lao lung đau khổ chốn trần ai

 Bể ái nguồn ân chìm nổi hoài

 Động mối bi tâm nguyền tát cạn

 Trải bao sương tuyết cũng không nài.
 
 

 Không nài thể chất có và không

 Khám phá cho ra manh mối lòng

 Đạp vỡ hồng trần gương trí rạng

 Đốt đèn chân lý dẫn quần mông.
 
 

 Quần mông theo dõi ánh từ quang

 Hổ biến rừng mê khỏi lạc đoàn

 Mưa móc thấm nhuần cơn sống chết

 Nhớ ơn Từ Phụ mãi lo toan.
 
 

 Lo toan xin đốt nén tâm hương

 Với nhánh quỳ hoa ngỏ cúng dường

 Thành đạo bốn phương trời chấn động

 Muôn linh mừng thấy đấng Y Vương.
 
 

 Y Vương chứng tỏ khối lòng châu

 Trăm kiếp nghìn đời nguyện cúi đầu

 Sứ mạng làm tròn thân đệ tử

 Chiếu đèn diệu huệ giữa đêm sâu.

(1948)

TẶNG ĐỔNG MINH ĐẠI SƯ

Nhất thừa thật tướng ấn

Pháp pháp tận viên dung

Từ bi vô quái ngại

Tứ cú bách phi không.
 
 

HƯỚNG VỀ 

Mỗi lần xuân hết hè sang,

Hồ trong sen nở nhụy vàng phơi hương.

Đàn con Phật, khắp muôn phương,

Hướng lòng thành kính cúng dường Đản sanh.

Thâm tâm truy niệm ân lành,

Nghìn xưa Ưu bát một cành ngát hương.

Nhớ thuở ấy, lúc tan sương, 

Nhạc trời rung cảm, bốn phương thái bình;

Muôn chim ca khúc bình minh,

Cha lành cứu khổ ứng sinh Diêm phù,

Tám mươi năm mãn công phu,

Sa la ẩn bóng, mạn thù thâu hương!

Đạo vô thượng đủ ngàn phương;

Ánh vàng chói lọi, sáng đường lầm mê.

Phá trừ ma chướng nặng nề,

Sanh linh lạc lối trở về đường ngay.

Kiếp xưa âu cũng duyên may,

Mênh mông bể khổ được lây hương thừa;

Xót mình đức bạc tài sưa,

Ân sâu khó trả, nghiệp xưa còn nhiều

Trước đài hương tỏa phiêu diêu,

Chí thành đảnh lễ đấng Siêu Nhân Hoàn;

Con thề đem mảnh thân tàn, 

Phụng thờ chánh pháp đạo vàng bền lâu.

Hư không tan rã mặc dầu, 

Sắt gan ghi tạc, nguyện cầu chứng tri;

Hướng về muôn đức từ bi,

Đường lên giác đạo quyết đi tận cùng.

 (Đặc san Mừng Phật đản P.H.V.1957)

CẢM TÁC XUÂN CANH TUẤT 

Tuổi đà “dĩ thuận” lẻ thêm hai

Hơn thiệt chi chi cũng hết nài

Nội hạc chưa ngừng sân Lão thọ

Ngàn mây còn vướng ngõ Hoàng Mai

Non xanh, pháp nhãn hoa Linh Thứu

Nước biếc, thiền tâm bóng Thiện Tài

Cánh thiệp tin xuân hồn đất mẹ 

Nén hương hằng nguyện trước liên đài.
 
 

VỊNH CÂY BỒ ĐỀ 
 
 

 Bồ đề đạo thọ gốc thiên nhiên

 Phật tổ xưa kia đến tọa thiền

 Dẹp sạch ma vương thành chánh quả

 Bước lên thánh vị được chơn truyền

 Ba ngàn thế giới hào quang tỏa

 Muôn vạn sanh linh giải thoát phiền

 Dầu dãi nắng sương càng vững chắc

 Đâm chồi nảy lộc khắp tam thiên.

 (Mậu Thân, 1968)
 
 

XUÂN QUÝ MÃO CẢM TÁC

 Xuân này tính tuổi chẵn năm lăm

 Kiểm điểm công phu ngấy lỗi lầm

 Còn luyến cành hoa khi sáng sớm

 Đan vương tơ nắng lúc chiều âm.

 Liệng vành mỏi cánh thương thân bướm

 Nhả kén si gan ngán ruột tằm

 Đốt nén hương nguyền thề sám hối

 Trước sau giữ trọn chữ Không Tâm

(1963)

XUÂN MẬU THÂN

 Bốn mươi tuổi đạo, sáu mươi đời

 Cái kiếp phù sinh quá nửa rồi

 Cay đắng nếm dư đầu chót lưỡi

 Khen chê nghe đủ giữa vành tai

 Mây ngàn vạn nẻo tung đường hạc

 Hương nguyện mười phương quyện gió trời

 Tâm sự sắc không ai có biết ?

 Kìa gương bát nhã vốn trong ngời.

(Mậu thân, 1968)

CẢM ĐỀ NON BỘ BẢN ĐỒ VIỆT NAM

(tại Thiền thất P.H.V. Nha Trang) 

Dấn thân mây hạc giang hồ

Chạnh lòng quê mẹ dư đồ Việt Nam.

Này thắng tích nọ danh lam,

Máu xương trang trải ai làm nên khung.

Đúc vun khí tiết hào hùng,

Hai vai gánh nặng Quang Trung Nguyễn Hoàng.

Trường Sơn một dãy hiên ngang,

Càng nhìn càng ngắm muôn vàn thân yêu.
 
 

Non sông gấm vóc mỹ miều,

Ngàn năm văn hiến nhiễu điều giá gương.

Dù cho Nam Bắc đôi đường; 

Đốt lò hương nguyện bốn phương một nhà,

Sớm hôm hướng nẻo Phật đà,

“Sắc, Không” tâm sự đường xa nỗi gần.

Mong sao giữ vẹn mười phần

Thanh cao dáng núi, trong ngần vẻ sông.

Gấm vóc gương nước tinh thần,

Đạo vàng dân tộc chiếu hồng muôn xuân.
 
 

VIẾNG LẠI CHÙA HƯƠNG

Cỏ hoa còn nhớ ta chăng,

Bước du tăng đã bao lần tới đây ?

Tuyết sương nhuộm bạc râu mày

Non sông gấm vóc vẫn đầy sắc xưa.

Đây khe yến, nọ rừng mơ,

Này am cửa Võng, suối bờ Giải oan.

Hỏi thăm người cũ: bàng hoàng,

Anh linh đã nhập sen vàng phương Tây! …

Nam Thiên đệ nhất còn đây,

Chim ca cúng trái, cá quầy nghe kinh.

Hoa thiên sương ngọc long lanh,

Hương thiền ngào ngạt gió lành phân phân …

Trầm loang điểm tiếng chuông ngân, 

Bước lên mỗi bước, tần ngần, nao nao …

Tình yêu đất mẹ dâng cao

Trong ngần bể rộng dạt dào suối khe

Ba ngàn thế giới nhắn nhe

A di đà Phật quy về, ai ơi!

Bức tranh thủy mạc ngàn đời,

Đào nguyên e cũng hổ ngươi kém phần …

QUỲ TRƯỚC ĐIỆN

Đệ tử hôm nay quỳ trước điện

Chí tâm đảnh lễ đấng Từ tôn

Đã bao phen sanh tử dập dồn

Trôi lăn mãi trong vòng lục đạo

Thế tôn đã đinh ninh di giáo

Mà con còn đắm đuối mê say

Mắt ưa xem huyễn cảnh hằng ngày

Tai thích tiếng mật đường dua nịnh

Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh

Lưỡi dệt thêu lắm chuyện cay co

Thân tham dùng gấm vóc sa sô

Ý mơ tưởng bao la vũ trụ

Bởi lục dục lòng tham không đủ

Lấp che dần trí huệ từ lâu

Hôm nay con giác ngộ hồi đầu

Tâm sám hối phơi bày tỏ rõ

Nguyện tội ác từ nay lìa bỏ

Chuyển sáu căn ra khỏi lầm mê

Trước đài sen thành kính hướng về

Tịnh tâm ý quy y Tam bảo

Phật giới cấm chuyên trì chu đáo

Dứt tận cùng gốc rễ vô minh

Chí phàm phu tự lực khó thành

Cầu Đại Giác từ bi gia hộ

Dù phải chịu muôn ngàn gian khổ

Con hết lòng vì đạo hy sinh

Nương từ quang tìm đến bảo thành

Đặng tự giác giác tha viên mãn.
 
 

TỤNG KINH PHÁP HOA CẢM TÁC 

Một lòng kính lạy Phật đà

Ngàn đời con nguyện ở nhà Như lai

Con hằng bận áo Như lai

Con ngồi pháp tọa Như lai muôn đời
 
 

Trí lực năng nhân tiêu cổ sầu

Thân vân tâm nguyện nhất thời hưu

Nhược ly không hữu đoạn thường luận

Khổ hải cuồng ba bát hoạt châu.

 Phật lịch nhị ngũ nhị tứ, Canh thân hạ

 Quảng Hương Già Lam

 Thiện Thệ Tử Thích Trí Thủ đề 
 
 

Bài thơ họa theo bài Nguyên Xương của Tuệ Không 

Già lam, nơi hiệp chúng tăng già.

Tu niệm nào phân biệt trẻ tra.

Gặp bạn thơ vui câu Đổ Phủ 

Noi đường giác rạng tánh Di đà.

Liêu sau vọng bái hình Sơ tổ

Sân trước cung chiêm tượng Phật bà.

Cửa đạo khai tâm thường rộng mở,

Khuyên đời chẳng nệ khách vô ra.
 
 

THƠ NHÁC
(Thiện Mỹ số 48, trang 12 ngày 22-10-1965)

Nhân đọc bài Chiếc Mũi, nguyên tác Bgunosure Akutagan do thi sĩ Vũ Trụ dịch, đăng ở tuần báo Thiện Mỹ số 46 ra ngày 8 tháng 10 năm 1965. Sực nhớ một bài thơ Nhác của thầy tôi (Hòa thượng Viên Thành sáng lập chùa Tra Am, Mật Sơn ở Huế hiện nay) đọc cho tôi nghe hồi còn nhỏ mới xuất gia hành đạo. Xin chép ra đây để cống hiến bạn đọc nghe cho vui. Mặc dù nó không còn hợp thời theo tôi nghĩ. Thơ rằng:

Ai thăm ơn lắm, dám thăm ai,

Ai mời xin lánh, dám mời ai.

Nhà dột lá che không đợi lợp

Phên xiêu gió đẩy không đợi cài

Phải chăng mặc thế hơi nào nghĩ

Hơn thiệt tình đời cũng chẳng nài

Dễ có công đâu ngồi quẹt mũi ( )

Nay còn chưa kể huống là mai.
 
 

BÀI THƠ BÈO

(Do Trạng Giáp Hải họa. Nguyên tác của Bao Bá Ôn. Hòa Thượng dịch sát nghĩa)

Vải gấm dày dày chẳng lọt kim

Lá liền với gộc kế nào thêm

Đã cùng mây trắng tranh làn nước

Lại thấy vừng hồng rực ánh tươi

Ngàn lớp sóng nhồi không rã nổi

Muôn cơn gió dập chẳng lay chìm

Ít nhiều rồng cá nương trong ấy

Lã Vọng ngồi câu hết chỗ tìm.
 
 

Bể ái sông mê sóng ngập đầu

Xoay vòng sống chết mãi không thôi

Ai mà trở gót xoay đầu lại

Trước mắt đài sen hiện sáng ngời.

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.
 
 

CỐ ĐÔ HOA LƯ

Ngàn năm văn hiến Việt Nam ta

Đinh Lý Trần Lê quả thật là

Để tiếng anh hùng ngời nét đẹp

Diệu phong đã vẹn trổ hồn hoa.

(Tham quan cố đô Hoa Lư tháng 9.1983)
 
 

NÔNG TRẠI NƯỚC NGỌT

Ba gian nhà là một chòm mây

Cảnh trí khen ai khéo sắp bày

Dạo khắp bồng lai về “Nước ngọt”

Ba gian nhà là một chòm mây.

(Cảm tác khi đi thăm đạo hữu Nguyễn Mậu Tùng tại nông trại Nước Ngọt)

(1940)
 
 

NHỚ LÀNG

Tôi nhớ làng tôi sống cực nghèo

Lũy tre soi bóng nước trong veo

Quanh năm phẳng lặng dòng sông Hãn

Đùm bọc thân yêu tấm nhiễu điều

Làng tôi xa lánh cảnh phồn hoa

Sớm tối chuông ngân khắp mọi nhà

Luống cải vồng rau sanh hoạt thú

Tiếng cười xen lẫn tiếng dân ca.

Làng tôi cát mịn nước hồ trong

Gió mát sen thơm dân một lòng

Chạp giỗ sum vầy tình nội ngoại

Buồn vui san sẻ đói no chung

Làng tôi khó tả hết tình yêu

Dù nói bao nhiêu chẳng thấy nhiều

Bể rộng trời cao tôi thấy nhỏ

Trung Kiên đất tổ ngập tình yêu.
 
 

THĂM LẠI CHÙA NON NƯỚC

Mười lăm năm trước đến ngày nay

Cũng nước non tiên cũng lối này

Hòn đá tham thiền trơ trọi đó

Hỏi thăm người cũ chẳng ai hay.
 
 

LÊN VỌNG HẢI ĐÀI

Trời mênh mông bể mênh mông

Trời bể mênh mông sóng chập chồng

Mấy chiếc thuyền ai qua bể biếc

Nỗi sầu mang nằng chở không đùa.
 
 

LÊN VỌNG GIANG ĐÀI

Giang sơn gấm vóc ngắm càng xinh

Nước nước non non thật hữu tình

Mây bạc chập chờn ngang cửa động

Thương thay bầy én liệng quanh vành.
 
 

KÍNH ĐIẾU THẦY KIM TIÊN

Thầy chết rồi ư ?

Mang mác hồn quê mây tán tụ.

Tôi còn sống sót lại

Mênh mông bệ nguyện lệ đầy vơi!
 
 

ĐIẾU HÒA THƯỢNG THÍCH MẬT NGUYỆN

Đồng bào còn đau khổ

Nhân loại còn nhiễu nhương

Lá vàng rơi xơ xác cội bồ đề

Hòa thượng ra về chi quá vội
 
 

Đạo pháp cần phát huy

Đàn em cần hướng dẫn

Mây trắng phủ lờ mờ trăng bát nhã

Chúng tôi ở lại tính sao đây

Mạnh thu, Nhâm Tý-1972
 
 

XUÂN NHÂM TÝ

Niên ba sáu sáu đã qua rồi

Bâm bốn còn lưa nửa ấy thôi

Trông trước nào ai người cố cựu

Nhìn sau biết có kẻ tương lai

Non cao gió lộng cành xuân động

Sông rộng gương lồng chiếc én bơi

Bất diệc nụ cười xuân Bố Đại

Bàn cờ sắp xóa thưởng xuân chơi
 
 

NHỚ BÓNG THUNG HUYÊN

Ngùi ngọc nga thi chạnh tủi phần

Trời cao đất rộng đức sanh thân

Bao nhiêu cảnh giới nào qua lại

Ngàn dặm ven trời bóng bạch vân

Bạch vân tan hợp rải đầu non

Những tưởng hung thuyên mắt mỏi mòn

La rụng thu về cành rớm lệ

Tiêu sơ tiếng nhạn động tình con

Tình con mang mác ánh sao hôm

Phưởng phất hồn thiêng ngọn gió nồm

Tôn giả Mục Liên gương hiếu hạnh

Đài sen xin nguyên chứng chơn tâm
 
 

KHÓC CHA

(Làm thay con gái ông Đắc khóc cha)

Nhớ cha con biết nói gì đây

Bể khổ chơi vơi huyết lệ đầy

Nhìn mẹ cuộn đau tằm rút ruột

Trông em xa xót vượn xuối tay

Trời sao ghét bỏ người côi quả

Đất nở không dung kẻ dại ngây

Sớm tối còn đâu lời giáo huấn

Chở che ngưỡng vọng đất cao dày.
 
 

THƯƠNG NHỚ

(Kỷ niệm 48 năm ngày thầy viên tịch

 7-10 Bính Thìn 1976)

Bốn tám năm xưa cũng phút này

Gió mưa man mác tớ xa thầy

Những lời diệu huấn con thường nhớ

Con gởi hồn con đân gió mây
 
 

CẢM TÁC SINH NHẬT 67 TUỔI

Sáu bảy xuân thu giữa cuộc đời

Buồn vui mừng giân khéo trêu ngươi

Thân này đã hứa cùng non nước

Vinh nhục khen chê chỉ mỉm cười
 
 

XUÂN MẬU NGỌ

Xuân về Mậu Ngọ tuổi lai hy

Chẳng dám khoe chi chẳng muốn gì

Bảo ở thì ừ hoan hỷ ở

Kêu đi âu cứ tự nhiên đi

Cảnh khô lá úa mai nhưng nụ

Mây cuốn sương tan đá vẫn lỳ

Vô tận không thời vô tân ý

Thị chưa từng bận ngại gì phi.
 
 

BÓNG TRĂNG

Đầu sào trăm thước câu buốn

Một làn sóng độngngàn luồn sóng theo

Đêm thanh nước lạnh cá nghèo

Đầy thuyền chở nặng trăng gieo bóng về.
 
 

KHUYÊN TU TỊNH ĐỘ

Pháp môn tịnh độ gắng tu hành

Giữ trọn niềm tin quyết vãng sanh

Bể khổ thuyền từ buồm thuận gió

Hồ trong sen ngát đất trời thanh

Mẹ hiền tựa cửa trông con dại

Cha khổ đưa tay đón kẻ thành

Cứu độ sanh linh hoằng thệ nguyện

Nhất tâm bất loạn niệm hồng danh.
 
 

CÂY BÈO

Dọc theo ruộng nước bám như chậm

Rể bám vào đâu cũng chẳng thêm

Vờ có căn nguyên, vờ có lẽ

Dám chi sạch tiết, dám chi tâm

Tụ rồi đã chắc chi khi tán

Nổi đó náo hay đến lúc chìm

Gặp trận trời cho cơn gió lốc

Quét tan hề bể khó mà tím

Chen nhau vảy gốm khó luồn kim

Cành rể liền nhau chẳng kể thân

Tranh với bóng mây trên mặt nước

Hé dung ánh nhật lọt dòng tâm

Nghìn trùng sóng đánh thường không vỡ

Muôn trận phong ba cũng chẳng chìm

Nào cá nào rồng trong ấy ẩn

Cần câu Lữ Vọng khó mà tìm.
 
 

HỌA VẦN THƠ GIÀ

Của sư bà Như Không

Tai điếc mắt mờ phận chịu hư

Lão lai tài tận biết răng chừ

Đôi giò thêm gậy lo còn thiếu

Nửa bát lưng cơm gắng vẫn dư

Nhìn trước trông sau thêm chán ngán

Say đi nghĩ lại ruột đau dừ

Hoại không thành trụ đời kiên cố

Dấn bước như không mới thật cừ.
 
 

TẶNG ĐỆ TỬ NGUYÊN NGHI

Tôn thờ đức Phật chí kiên trinh

Nữ giới thua ai mối đạo tình

Kim địa gieo trồng hoa Nạc Lợi

Phượng hoàng bay liệng cảnh thanh bình

Pháp hoa kinh tả dâng chư Phật

Danh vọng đời cô nhường chúng sanh

Nguyên thỉ yếu chung dòng vọng tộc

Nghi dung ngưỡng đạt đấng cao minh.
 
 

NGƯỜI NGẮM HOA ĐÀO

Bác ngắm hoa đào lại nhớ mai.

Miền Nam buổi sống mộ danh người.

Chín hai tuổi chẵn xuân còn mãi, 

Tám mốt năm tròn nước sáng soi.

Thống nhất chung lòng xây vững đạo

Tùy duyên một dạ ghé vai đời.

Mai vàng cực lạc trong trần thế

Tứ chúng đồng tâm trước Phật đài.

Xuân Tân Dậu cảm tác.
 
 

CÂU ĐỐI

GIỚI ĐÀN P.H.V. HẢI ĐỨC 1973
 
 

Giới thọ hữu hà nan nan giả chung thân trì tịnh giới,

Đàn tràng phi dung dị dị tai đại lực hộ hành đàn.

Thọ giới không chi khó, khó vì trọn đời trì tịnh giới,

Đăng đàn đâu phải dễ, dễ thay đủ sức hộ hành đàn.

Chứng Chơn đế lý như Điều ngự thân lâm Xá vệ,

Minh Phật tâm tông tợ Tào khê kế thuật Hoàng Mai.

Chứng Chơn đế lý, như Thế Tôn thân lâm Xá vệ,

Rõ Phật tâm tông, tợ Tào Khê kế thuật Hoàng Mai.
 
 

Hòa hiệp tế tam thừa vận xuất tâm trung đạo lực,

Thượng năng huân ngũ phận hiển dương tánh thượng pháp thân.
 
 

Hòa hợp thuyết tam thừa, vận hết tâm thành đạo lực,

Thượng năng dâng ngũ phận, bày tròn tánh đức pháp thân

Chúc Phật giáo chi hà xương quốc tộ miên trường 

vĩnh lịch Nam sơn chi thọ,

Giới Thích tôn chi thùy phạm tòng lâm quy củ 

giáo lưu Đông chấn chi đàn.

 Chúc Phật giáo lâu dài, nước nhà hưng vượng, 

thọ sanh Nam sơn muôn thuở,

Cầu Thích tôn gia hộ, đạo pháp vinh quang,

Phước đầy Đông hải khắp nơi.
 
 

CỐ ĐÔ THIÊN MỤ TỰ TRỤ TRÌ 

ĐÔN HẬU THƯỢNG NHƠN HUỆ TỒN

Đạo sinh thuyết pháp ngoan thạch điểm đầu

Thánh giả thôn châm thiên nhơn củng thủ.

Phật lịch nhị ngũ nhị niên, tuế thứ Đinh mùi niên Thu.

Thiểu nạp Thích Trí Thủ thư tặng.
 
 

ĐIẾU NGÀI QUY THIỆN

Tích niên pháp nhủ đồng triêm, 

thệ hải giả tằng minh thiết thạch

Kim nhựt đàm hoa tiên lạc, 

thiền lâm thùy thị nại phong sương.
 
 

ĐIẾU THẾ HUYNH KIÊM PHÁP LỮ 

HÒA THƯỢNG THÍCH DIỆU HOẰNG
 
 

Nguyện thế thế sanh sanh đồng vi từ bi quyến thuộc.

Pháp tịch diễn chơn thuyên sư hống nhất thanh hồ quần tan thiển.

 Sư tọa tuyên diệu nghĩa phạm dương nhất khúc ma ngoại hàng tâm.

Yết đế khâm sùng giới tử khải tam phương trượng pháp môn biện sự,

Ma ha quảng đại sa di bạch tứ đế tiền thọ cụ đăng đàn.

Con Hồng cháu Lạc văn hiến bốn ngàn năm

nối tiếp anh hào dòng bất khuất.

Cảnh Phật ngày Trời giang sơn muôn vạn thuở

đề cao dân tộc chí hiên ngang.

 (Mùa Đông năm Quý sửu, 1973)
 
 

Hồn dân tộc, mái chùa tô nét đẹp

Tiếng pháp âm, dòng nước họa vần thiêng.

Tóc treo chẳng nại canh dài vắn

Cháo lỏng đầu nài bửa đói no

Source: Phật Giáo Việt Nam




ht tri thu


Vài nét về
những bài thơ của Hòa thượng Thích Trí Thủ






Tuy số lượng thơ rất ít ỏi, nhưng không vì thế mà chúng không mang lại cho chúng ta một cái nhìn chính xác và rõ ràng hơn về cuộc đời của ngài và cũng từ đây, chúng ta mới thấy rõ được chân dung của một bậc thầy vĩ đại, qua chí nguyện kiên cường của ngài trong việc “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh” một cách trọn vẹn như trong bài:

“Đốt nén tâm hương trước Phật đài
Phổ Hiền hạnh cả nguyện nào sai
Hiện thân cát bụi vào muôn nẻo
Cứu bệnh trầm kha khắp mọi nhà.”
(tụng Kinh Hoa Nghiêm cảm tác)
Chính hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền Bồ-tát đã chắp cánh cho ngài bay lên cao hơn và hình như ngài đã thật sự khế hợp với pháp môn này. Qua bốn câu thơ như là vừa tán dương hạnh cả của Ngài Phổ Hiền và cũng như là vừa lập nguyện cho chính mình; những tương ưng ở đây thật tuyệt vời cho khắp không gian vô cùng và thời gian vô tận. 
Nó nói lên chí nguyện bền chắc lâu dài qua hai đức trí tuệ và từ bi, được thể hiện từ hạnh nguyện. Nhưng trước khi ngài muốn thể hiện hạnh nguyện này, ngài đã phải trải qua những năm tháng lau sạch bình bát trong chức năng nối dòng nghiệp Thánh không biết là bao lâu, ngài đã thật sự không còn nhớ nữa:
“Tào khê nước chảy về đông
Bình bát nối dõi lâu không nhớ ngày
Trăng thiền nào có khác xưa
Viên Thành ấn chứng đã dày công tu.”
(Nước Tào Khê)
 
Những huân tập thiền đã đưa đến sự bùng vỡ trong tu tập “Trăng thiền nào có khác xưa”. Đó chính là cái nhân, để từ đó Ôn cất cánh bay xa, đó cũng chính là những nỗ lực ban đầu trong việc thượng cầu Phật đạo của ngài và chúng luôn được thể hiện qua cuộc sống sau này, được thể hiện từ cuộc sống trong hạ hóa chúng sinh không bao giờ ngừng nghỉ, qua việc vừa giữ tâm mình luôn luôn trong sáng, cùng đem trí tuệ đó sáng soi cho mọi người:
“Nội hạc chưa ngừng sân Lão thọ
Ngàn mây còn vướng ngõ Hoàng Mai
Non xanh, pháp nhãn hoa Linh Thứu
Nước biếc, thiền tâm bóng Thiện Tài.”
(Cảm tác xuân Canh Tuất)
Trước hết, trong hiện tại, tấm lòng của ngài đang được những hình ảnh và các biểu tượng như nội hạc, ngàn mây, non xanh, nước biếc và cây sân Lão, ngõ Hoàng Mai, hoa Linh Thứu, bóng Thiện Tài đang nuôi dưỡng và làm lớn mạnh hạt giống an lành, giải thoát trong cuộc sống của chính ngài, đó chính là cửa ngõ bước vào Không tâm của ánh sáng trăng thiền nào khác xa xưa và sau nữa là ánh sáng đó ngài vẫn giữ mãi nó không bao giờ đánh mất:
“Đốt nén hương nguyền thề sám hối
Trước sau giữ trọn chữ Không Tâm.”
(Xuân Quý Mão cảm tác)
Trong phương tiện tương đối để chúng ta bước vào cửa Không của không cửa nhà Tổ thì đương nhiên, những hình ảnh và những biểu tượng đó cần phải có, để chúng ta lấy làm phương tiện, làm nhân cho những bước đi giải thoát kế tiếp. Do đó, chúng ta rất cần có những phương tiện đó. 
Chính vì chúng là những phương tiện tạm thời cần thiết, nên chúng chính là những nhân tố không thể không có cho chúng ta trong lúc thực hiện hạnh nguyện thượng cầu hạ hóa. Nếu không có chúng, chúng ta sẽ bị kẹt vào trong thiên chấp của sắc không và luôn luôn bị chúng trói buộc vào tà kiến đảo điên, thị phi, khó thoát ra được.
Như vậy chúng ta cầm chắc sẽ bị trôi lăn mãi trong đường sinh tử luân hồi sáu cõi. Ở đây nếu ai ngộ ra được cảnh giới sắc không không tịch, không tự tính này, thì sẽ nhận ra được Bát-nhã tính không trong suốt của không tâm và cũng sẽ nhận ra được việc làm của Ôn đối với đất nước và dân tộc này:
“Tâm sự sắc không ai có biết?
Kìa gương Bát-nhã vốn trong ngời.”
(Xuân Mậu Thân)
Ở đây, từ không tâm của phương tiện đến Không Tâm của cứu cánh, nó cũng giống như sự khác biệt giữa chữ Phật của mê và chữ Phật của ngộ vậy. Có nghĩa là khi mê, gọi là chúng sinh, khi ngộ, gọi là Phật thế thôi. Do đó cảnh giới của sắc không chúng ta cần phải thông suốt, nếu không thông suốt ắt sẽ bị chúng làm chướng ngại trong ý niệm “có - không” và như vậy không đời nào chúng ta vượt qua khỏi sinh tử luân hồi được. 
Ở đây Hòa thượng sau khi chính tự thân Ôn đã tỏ ngộ được thể cảnh giới sắc không, cùng những diệu dụng của nó như thế nào rồi, thì sau đó ngài liền nghĩ ngay đến sứ mạng hạ hóa chúng sinh của mình đối với tha nhân như thế nào?
“Sứ mạng làm tròn thân đệ tử
Chiếu đèn diệu huệ giữa đêm sâu.”
(Cảm niệm Phật thành đạo)
Sứ mạng của các hàng đệ từ đức Đạo sư là trên tìm mọi cách để chứng đạt được đạo vô thượng Bồ-đề, dưới hoàn thành sứ mệnh hóa độ mọi loài chúng sinh để họ được như mình. Đây là một sứ mạng cao cả cho chính tự thân và tha nhân. Khi hai sứ mệnh này hoàn thành trọn vẹn, thì lúc đó chúng ta mới hoàn toàn đạt được an vui giải thoát vĩnh viễn. Đó cũng chính là tâm sự gần xa của Ôn khi nhìn hòn non bộ bản đồ Việt Nam, mà chạnh nghĩ đến hiện tình đất nước dân tộc và đạo pháp:
“Dù cho Nam Bắc đôi đường,
Đốt lò hương nguyện bốn phương một nhà;
Sớm hôm hướng nẻo Phật đà,
“Sắc, Không tâm sự đường xa nỗi gần.”
(Cảm đề Non bộ bản đồ Việt Nam)
 
Tâm sự đường xa nỗi gần của Ôn đối với tha nhân phát xuất từ lòng từ bi, được phát khởi từ trí tuệ không tâm Bát-nhã mà ngài đã tìm lại được nơi chính mình, qua diệu huệ của hạnh nguyện thượng cầu hạ hóa theo gương Bồ-tát Phổ Hiền. Hòa thượng luôn luôn ý thức về những trở ngại trên bước đường hoằng hóa lợi sinh của mình, nhưng với sự quyết tâm của mình trong tự lợi và lợi tha, Ôn vẫn bước đi không một chút do dự, miễn sao bước đi của mình vừa lợi mình, lợi cho người thì ngài không ngại:
“Dù phải chịu muôn ngàn gian khổ
Con hết lòng vì đạo hy sinh
Nương từ quang tìm đến bảo thành
Đặng tự giác giác tha viên mãn.”
(Quỳ trước điện)
Con đường đi đến tự giác giác tha và để hoàn thành giác hành viên mãn thì, ngoài vấn đề hy sinh, chịu gian khó, qua sự thể hiện đức tính từ bi, còn phải có sự quyết tâm và nỗ lực hết mình trong tinh tấn, mới có thể hoàn thành được hạnh nguyện của chúng ta được, nếu không thì sẽ bỏ dở giữa đường, đó chính là con đường đưa đến giác hành viên mãn:
“Hướng về muôn đức từ bi
Đường lên giác ngạn quyết đi tận cùng.”
(Hướng về)
Và Ôn luôn luôn nuôi dưỡng hạnh nguyện này qua những sách tấn chính mình thường ngày trong cuộc sống. Những chất liệu nuôi dưỡng cho chính bản tâm ngài mang chất liệu từ đức tin từ bi kiên cố, vào chân lý mang đậm nét trí tuệ, cộng thêm những nỗ lực tinh tiến tự nguyện của tự thân, dẫn đến mọi sự an lạc cho chính ngài trong tu tập:
“Một lòng kính lạy Phật đà
Ngàn đời con nguyện ở nhà Như lai
Con hằng bận áo Như lai
Con ngồi pháp tọa Như lai muôn đời.”
(Tụng Kinh Pháp Hoa cảm tác)
Trí tuệ và từ bi là đôi cánh được nối thêm để Hòa thượng vượt qua biển khổ sinh tử và hoàn thành sự nghiệp giải thoát cho chính ngài. Vì vậy, chúng luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống của chính ngài trong việc thực hành hạnh nguyện Phổ Hiền của mình. Và cũng từ việc thực hiện hạnh nguyện của mình đối với tự thân và tha nhân; qua chí nguyện thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh trong chức năng có được của mình đối với dân tộc và đạo pháp mà ngài đã chịu không biết bao nhiêu là cay đắng, khó khăn, thậm chí đến tai tiếng nữa; nhưng ngài với tâm không của mình vì tự lợi và lợi tha, vì dân tộc và đạo pháp, mà ngài cam tâm gánh chịu mọi khổ đau và tai tiếng đó:
“Cay đắng nếm dư đầu chót lưỡi
Khen chê nghe đủ giữa vành tai.”
(Xuân Mậu Thân)
Sự chấp nhận của ngài qua những phản ứng xung quanh, đối với ngài không hẳn chỉ là những tiếng bất lợi, mà còn có những lời khen ngợi khuyến khích nữa; nhưng giờ đây những khen chê, buồn vui đối với ngài không còn là vấn đề để đặt ra và xét lại trong phân biệt nữa, mà là một chấp nhận với tâm không. Do đó, ngài luôn luôn dùng nụ cười thay thế cho những phản ứng của ngài về những dư luận xung quanh:
“Sáu bảy xuân thu giữa cuộc đời
Buồn vui mừng giận khéo trêu ngươi
Thân này đã hứa cùng non nước
Vinh nhục khen chê chỉ mỉm cười.”
(Cảm tác sinh nhật 67 tuổi)
Nụ cười của không tâm luôn thể hiện, chỉ có mình biết mình mà thôi, dù thế nhân có hiểu mình hay không hiểu mình cũng mặc, vì chính ngài mới biết được việc làm của mình và với không tâm thì sẽ không tạo ra tác nhân, mà đã không tạo ra tác nhân thì làm gì có thọ quả thế thôi. 
Với Không tâm đối với tự thân và đối với mọi người, thật sự giờ này có lẽ không gì có thể trói buộc được bước đi của ngài, ngài sống với duyên đến, theo với duyên đi, cho dù là bất cứ hoàn cảnh nào đi nữa; thì việc làm đúng nghĩa tùy duyên nên trở thành tự tại.
“Xuân về Mậu Ngọ tuổi lai hy
Chẳng dám khoe chi chẳng muốn gì
Bảo ở thì ừ hoan hỷ ở
Kêu đi âu cứ tự nhiên đi

Cảnh khô lá úa mai nhưng nụ
Mây cuốn sương tan đá vẫn lỳ
Vô tận không thời vô tân ý
Thị chưa từng bận ngại gì phi.”
Đó chính là cách sống đúng của những người con Phật theo đúng nghĩa chỉ dạy của bậc Đạo sư trong sự nghiệp hoằng pháp độ sinh của ngài. Lúc này, mọi chướng ngại trong cuộc sống, sẽ được dung thông tất cả trong thời - không vô tận. Ở đây không còn bất cứ một ý niệm nào sai biệt chống trái nhau hết, cho dù đó là thị hay là phi trên mặt hiện tượng tương đối của sự tướng và thật sự đây chính là cảnh giới giải thoát hiện tiền của những người con học Phật thực hành theo Phật.
Qua những vần thơ chúng tôi trích ra từ tập I, trong ba tập của Trí Thủ toàn tập, cho chúng ta một cái nhìn đúng hơn về ngài và cho chúng ta thấy được cái vĩ đại của ngài trong chí nguyện thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh, cùng sự thể hiện nếp sống tự tại qua cuộc sống. Chúng ta, những kẻ hậu bối đi sau chỉ ghi lại những gì có được một cách ít ỏi qua những bài thơ của ngài để lại, đối với toàn bộ những gì ngài đã cống hiến cho Phật giáo Việt Nam và dân tộc này, qua sự nghiệp giáo dục và văn hóa của ngài, như lược sử và những cống hiến được ghi lại qua ba tập Trí Thủ toàn tập đã ghi lại để chúng ta có thể nhận thức đúng hơn về ngài.

Thích Đức Thắng (Đại Lãn)






31tamnhutoantap
xem tiep
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2023(Xem: 2653)
Rồi tôi đi sâu vào vườn trầm, đi mãi vào ...rừng trầm để mong tìm những cây trầm đại thụ, và tôi đã gặp bao cao Tăng tu hành tại đây, không chỉ các sư tại Âu Châu mà còn từ Hoa Kỳ, Úc, Canada ...nữa cơ. Các vị đã trao cho tôi bao trầm hương qua lời giảng của quí Sư dựa theo lời dạy của Đức Phật. Những thỏi trầm quí mang tên: Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Bát Nhã, Phổ Môn, Chú Đại Bi, Thập Chú, Thần Chú..v.v..và.v.v.Ôi, nhiều lắm, rồi với thời gian, nếu thành tâm trân quí và nắm giữ những thỏi trầm, thì hương trầm của nó cũng ít nhiều tỏa hương thơm ngát đánh bạt những sú uế mà bụi đời đã phủ lên người chúng ta.
15/03/2023(Xem: 8576)
Từ khi con người bắt đầu quy tụ sống thành nhóm, thành đoàn, và sau này phát triển đông đảo thành cộng đồng, xã hội, quốc gia, người ta đã biết tổ chức phân quyền, đưa ra những nguyên tắc luật lệ chung để mọi người dân sống trong cộng đồng quốc gia phải tuân theo. Những ai phạm tội phá rối trị an sẽ bị đem ra xét xử và trừng phạt theo nội quy luật lệ của quốc gia nơi họ cư ngụ. Có như thế thì mọi sinh hoạt trong cộng đồng xã hội mới giữ được trật tự, đời sống cá nhân mới được bảo đảm an toàn.
23/09/2022(Xem: 4383)
Giáo lý Bốn thánh đế là giáo pháp quan trọng nhất của những người học và tu tập theo lời dạy của Đức Phật. Cho dù chúng ta thuộc truyền thống Nguyên Thuỷ hay truyền thống Đại Thừa cũng đều tu học từ nền tảng giáo pháp này. Trong Bốn thánh đế thì đạo thánh đế gồm 37 pháp và thường được gọi là 37 phẩm trợ đạo. Trong đó thì Bát chánh đạo là căn bản nhất vì “Bát chánh đạo gồm có hữu lậu và vô lậu” (Trong Tạp A-hàm, Kinh Quảng Thuyết Bát Thánh Đạo, số 785 và Trong kinh Trung Bộ III, Đại Kinh bốn mươi, do Hòa thượng Minh Châu dịch).
17/11/2021(Xem: 48682)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
13/11/2021(Xem: 26778)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
03/09/2021(Xem: 11203)
Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra. Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế.
08/10/2020(Xem: 11881)
1- Hãy khoan hồng tha thứ, biết thiện thì làm, tới đâu thì tới. 2- Sống trong cuộc đời, muốn được thong thả rảnh rang thì đừng dính đến quyền lợi. 3- Làm việc hễ thuận duyên thì làm, không thuận thì phải khéo léo nhẫn nhịn để vượt qua. 4- Ăn chay, thương người, thương vật, tụng kinh. 5- Việc ác chớ để phạm, điều lành phải nên làm. 6- Thương người cùng thương vật, niệm Phật và tham thiền. 7- Chánh niệm đứng đầu là 3 niệm : Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. 8- "Hằng ngày ăn thịt chúng sanh mà mong giải thoát, điều đó không bao giờ có điều đó được". 9- Mót thời gian để tu, đừng bỏ qua, gặp việc thì làm; rảnh việc thì nhiếp tâm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. 10- Thông minh hiểu biết nhiều, coi chừng không bằng ông già bà lão ăn chay niệm Phật.
01/03/2020(Xem: 20006)
Kinh Viên Giác là kinh đại thừa đốn giáo được Phật cho đó là “Con mắt của 12 bộ kinh”. “Con mắt” ở đây theo thiển ý có nghĩa là Viên Giác soi sáng nghĩa lý, là điểm tựa, là ngọn hải đăng cho các bộ kinh để đi đúng “chánh pháp nhãn tạng”, không lạc vào đường tà và tu thành Phật. Khi nghe kinh này, đại chúng kể cả chư Phật và chư Bồ Tát đều phải vào chánh định/tam muội, không bình thường như những pháp hội khác.
28/11/2019(Xem: 11526)
Ấn độ là một trong những quốc gia nổi tiếng trên thế giới vì đất rộng, người đông, có dãi Hy mã lạp sơn cao nhất thế giới, có một nền văn minh khá cao và lâu đời, con số 0, số Pi (3,1416...) do người Ấn sử dụng đầu tiên trong toán học, Kinh Vệ Đà đã được người Ấn sáng tạo từ 1800 đến 500 năm trước công nguyên, Ấn Độ là quê hương của đức Phật, hay nói khác hơn đó là nơi đạo Phật phát sinh, ngày nay đã lan tràn khắp thế giới vì sự hành trì và triết thuyết của đạo Phật thích ứng với thời đại. Do đó việcTime New Roman tìm hiểu về Ấn Độ là một điều cần thiết.
17/04/2019(Xem: 7632)
Những pháp thoại của Lama Yeshe là độc nhất vô nhị. Không ai thuyết giảng được như đức Lama. Tự nhiên lưu xuất trong tâm, trực tiếp ngay bây giờ; mỗi lời nói của ngài là một cẩm nang hướng dẫn để thực tập. Tiếng anh của đức Lama rất tốt. Khó có người sử dụng nhuần nhuyễn như ngài. Với tính sáng tạo cao, đức Lama đã biểu hiện chính mình không chỉ qua lời nói, mà còn thể hiện tự thân và trên khuôn mặt. Làm sao để chuyển tải hết sự truyền trao huyền diệu này trên trang giấy? Như đã đề cập ở chỗ khác, chúng tôi trình bày với yêu cầu này cách tốt nhất có thể.