Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Khái quát một số nét về chữ “Tâm” trong đạo Phật

26/02/201709:33(Xem: 2578)
Khái quát một số nét về chữ “Tâm” trong đạo Phật
chu-tam

Khái quát
một số nét về chữ  “Tâm” trong đạo Phật



“Tâm”  là một trong những  từ ngữ thường được biết, được nhắc đến nhiều nhất trong đời sống thường nhật (tâm, tâm lý , tâm linh, tâm thần, tâm niệm, tâm não, tâm tánh, tâm trạng, tâm sự, tâm tình… với biết bao nổi niềm vui buồn, thương ghét…) cũng như cũng rất  phổ thông, phổ dụng  trong đạo Phật . Lý do vì đạo Phật là đạo tu Tâm.  Nhưng “Tâm là gì  ? Tâm ở đâu ? Tu tâm là tu như thế nào ..lại là các điều cần được nắm vững.  Ngoài ra lại có khá nhiều từ ngữ có liên hệ rất mật thiết với chữ “Tâm” như các chữ Tánh, Thức, Ý, Ý Thức, Tình Cảm, Xúc Cảm, Tư Duy, Lo Nghĩ,  … Điều này khiến người học Phật khó tránh khỏi những hoang mang, mờ  mịt, ngờ vực  vì khó có thể phân định chuẩn xác được các phạm trù  về ý nghĩa của chữ “Tâm” trong đạo Phật.

Thông thường, có thể phân biệt tổng quát có hai thứ tâm: (1) “Tâm Vật Thể”  là trái tim thịt thuộc về bộ máy tuần hoàn trong cơ thể,  được gọi là “Nhục Đoàn Tâm” trong đạo Phật, và (2) “Tâm Tính Năng” là những tình cảm, xúc cảm, tư duy, phân biệt, lo nghĩ.. có nơi  tâm thức.  Đạo Phật không  đề  cập nhiều đến Tâm Vật Thể , mà  đặt trọng tâm vào Tâm Tính Năng” với các phần đi từ cạn cợt, vọng huyễn, phiền não như những tình cảm, xúc cảm, tư duy, phân biệt, lo nghĩ..dễ thấy biết  đến các phần sâu xa vi tế , chân thật, trong sáng, thanh tịnh khó  thấy biết (mà  phần sâu xa vi tế  nhất chính  là Phật Tánh, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, Tri Kiến Phật, Như Lai Tàng Bản Thể..) nơi Tâm Tính Năng này.

Hầu như toàn bộ kinh điển  đạo Phật (3 Thừa, 12 Bộ Kinh)  đều nhằm  nói  về  tâm. Ở  đây chỉ trích một vài đoạn kinh tiêu biểu trực tiếp nói về Tâm trong các kinh thường được biết đến nhiều nhất.

Kinh Pháp Cú (phẩm Song Yếu) xác quyết vai trò chủ yếu của Tâm trong việc tạo tác ra tội - phước : “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe”, và “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịmh tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự vui vẽ sẽ theo nghiệp kéo đến, như bóng theo hình “ .

Kinh Hoa Nghiêm khai thị về cội nguồn Tâm của ba đời mười phương chư  Phật “ Nhược nhơn dục liễu tri, Tam thế thập phương Phật, Ưng quán pháp giới tánh, Nhứt thiết Duy Tâm tạo” ( Tạm dịch” Như ai muốn rõ biết, Ba đời mười phương Phật, Nên quán tánh pháp giới, Tất cả Duy Tâm tạo”).

Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật khai thị nơi Tâm của chúng sanh đều có sẵn đầy đủ Pháp Giới thân của chư Như Lai:

“Chư Phật Như Lai là pháp giới thân, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Thế nên, khi tâm các ngươi tưởng Phật thì tâm ấy là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi tướng phụ của Phật. Tâm tưởng niệm Phật, tâm quán tưởng Phật thì tâm ấy chính là Phật”.

 

Kinh Tâm Địa Quán cũng xác quyết vai trò căn nguồn, cội gốc chủ yếu của Tâm Tính Năng này trong tu hành giải thoát:

“Tam giới chi trung        Tạm dịch:              ( Ở trong ba cõi

Dĩ tâm vi chủ                                                   Lấy tâm làm chủ

Năng quán tâm giả                                         Người hay  quán tâm

Cứu cánh giải thoát                                        Rốt được giải thoát

Bất năng quán giả                                            Người không quán tâm

Cứu cánh trầm luân                                        Rốt rồi trầm luân

Chúng sinh chi tâm                                        Tâm nơi chúng sinh

Du như đại địa                                                            Ví như ruộng đất

Ngũ cốc ngũ quả                                             Các loài thực vật

Tùng đại địa sanh                                           Theo đất mà sanh

Như thị tâm pháp                                            Tâm pháp cũng thế

Sanh thế xuất thế                                            Sanh ra thế gian

Ngũ thú thiện ác                                             Năm đường thiện ác

Hữu Học Vô Học                                            Thanh Văn La Hán

Độc Giác Bồ Tát                                             Độc Giác Bồ Tát

Cập ư Như Lai                                                            Cả đến Như Lai

Dĩ thị nhân duyên                                           Bởi nhân duyên này

Tam giới duy tâm                                           Ba cõi chỉ (là) Tâm

Tâm danh vi địa..                                            Tên tâm gọi (là) đất…)

Duy Thức Học dựa trên Pháp Tướng đã phân định rõ vũ trụ vạn hữu được bao gồm trong 100 pháp (Đại Thừa Bách Pháp). 100 pháp này đều có liên hệ mật thiết ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp  đến chữ “Tâm”, trong đó Tâm Vật Chất thuộc về  Thân Căn ( chỉ là một trong 11 món của Sắc Pháp).

100 pháp được phối hợp và liệt kê , chỉ kể tên ra theo 5 loại là:

  1. Tâm Pháp (Pháp Tối Thắng) , chính là “Bát Thức Tâm Vương”, có  thể  gọi nôm na là “Tám Chủ Thể Thấy Biết -  Phân Biệt - Nhận Thức và Lưu Giử NghiệpThức” (“Thấy Biết” là  nói gọn của “Thấy Nghe Hiểu Biết” = “Kiến Văn Giác Tri”).   

    “Bát Thức Tâm Vương’ gồm có:

    Nhãn thức (Thấy Biết, Phân Biệt Sắc Trần nơi Mắt)

    Nhĩ thức (Thấy Biết, Phân Biệt Thanh Trần nơi Tai),

    Tỷ thức (Thấy Biết,  Phân Biệt Hương Trần nơi Mũi),

    Thiệt thức (Thấy Biết, Phân Biệt Vị Trần nơi Lưỡi),

    Thân thức (Thấy Biết,  Phân Biệt Xúc Trần nơi Thân), 

  2. Ý thức (còn gọi  là  Thức 6th, = Liễu Biệt Cảnh thức = Phân Biệt Sự thức = Phân Ly thức)  (=  Thấy Biết, Phân Biệt Pháp Trần nơi Ý Thức). Sự phân biệt Lục Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) trội bật nhất là  ở nơi Ý Thức, vì Ý Thức có công năng phân biệt mạnh mẽ nhất.  Năm thức trước (Tiền Ngũ Thức = Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân ) chỉ  có công năng chính là tiếp thu trần cảnh, còn công năng phụ là phân biệt về  Tánh Cảnh của cảnh trần (sự phân biệt này xuất phát từ Ngũ Câu Ý Thức = phần Ý Thức chuyên biệt có nơi 5 căn Nhãn Nhĩ Tỹ Thiệt Thân).

    Mạt Na thức (còn gọi là Thức 7th, = Ý  = Ý Căn, Căn của Ý Thức =  Tư Lương thức) = dòng tư  lương vi tế bất tận với thấy biết vướng chấp nặng về Năng - Sở, về Ngã - Ngã Sở Hữu, = Ngã – Pháp.

    A Lại Da thức  (còn gọi là  Thức 8th = Tàng Thức = A Đà Na Thức = Dị Thục Thức = Tâm Sanh Diệt) =  kho chủng tử, tàng chứa tất cả thành quả của Thấy Biết , Nhận Thức thức  từ bảy Thức trước. Thành quả này được gọi là Nghiệp Thức, cấu chất của chủng tử).

    Ba chữ thường được nhắc đến nhiều là  “Tâm”, “Ý”, và “Ý Thức” đến đây đã được Duy Thức Học minh định rõ: Tâm là A Lại Da thức = thức 8th, Ý là Mạt Na thức = thức 7th, và Ý thức = thức 6th. Điều này đã được xác quyết ở Luận Đại Thừa Khởi Tín.

  3. Tâm Sở Hữu Pháp (Tâm Vương Chi Sở Hữu Pháp = Các pháp từ  Tâm Vương khởi, tương ưng  với Tâm Vương và hệ thuộc nơi Tâm Vương), gồm  51 pháp, có thể xem là 51 sản phẩm được tạo thành từ công năng hoạt động từ 8 thức Tâm Vương nêu trên. Tâm Sở  Hữu Pháp này chính là  những tình cảm của các loài hữu tình, trong đó  nổi bật nhất chính là những tâm sở  phiền não, thường được nhắc đến là  “Thất Tình” = Hỷ, Nộ, Ai, Cụ, Ái Ố, Dục (mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn) và Lục Dục = những tình cảm phát sinh từ lục căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý) khi tiếp thọ với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp).  Những tình cảm này chi phối mạnh mẽ vào đời sống thường nhật, có khi còn được tôn vinh, ngợi ca (như  tình yêu nam nữ ) nơi Tục Đế , nhưng qua lăng kính Duy Thức Học, đây chỉ là những phiền não, và quan trọng hơn chỉ là những Tâm Sở, sản phẩm của Tâm,  không phải  là Tâm, mà nhiều người thường tưởng lầm cho rằng chúng chính là Tâm của họ.

     51 Tâm Sở pháp này gồm có:

    5 món Biến Hành (Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư),

     5 món Biệt Cảnh (Dục, Thắng Giải, Niệm, Định, Tuệ),

    11 món Thiện ( Tín, Tinh Tấn, Tàm, Quí, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả, Bất Hại),

    6 Căn Bản Phiền Não (Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến),

    20 Tùy Phiền Não (Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Siễm, Hại, Kiêu, Vô Tàm, Vô Quí, Bất Tín, Giải Đải, Phóng Dật, Hôn Trầm, Trạo Cử, Tán Lọan, Thất Niệm, Bất Chánh Tri),

    và 4 món Bất Định (Hối, Miên, Tầm, Từ).

  1. Sắc Pháp (Pháp Sở Hiện Ảnh) gồm 11 món, gồm có  5 món về Căn  (Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân) và 6 món về Cảnh Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) được hình thành từ sự phối hợp của Tâm Vương và Tâm Sở.

  2. Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp ( Pháp Tam Vị Sai Biệt) gồm 24 món không có tương ưng với ba loại Tâm Vương, Tâm Sở, và Sắc Pháp nêu trên.  Đó là: Đắc, Mạng Căn, Chúng Đồng Phận, Dị Sanh Tánh, Vô Tưởng Định, Diệt Tận Định, Vô Tưởng Báo, Danh Thân, Cú Thân, Văn Thân, Sanh, Trụ, Lão, Vô Thường, Lưu Chuyển, Định Dị, Tương Ưng, Thế Tốc, Thứ Đệ, Thời, Phương, Số, Hòa Hợp Tánh, và Bất Hòa Hợp Tánh.

  3. Vô Vi Pháp ( Pháp Tứ Sở Hiển Hiện) là các pháp vô tướng, vô tác rất vi tế nên  không thuộc vào bốn loại  pháp vừa nêu trên. nhưng lúc nào cũng có hiện diện, không thiếu vắng nơi bốn pháp này.  Vô Vi pháp  gồm có 6 món  là: Hư Không, Trạch Diệt, Phi Trạch Diệt, Bất Động Diệt, Tưởng Thọ Diệt, và Chơn Như. 

Qua Duy Thức Học,  có thể thấy A Lại Da thức chính là  cội nguồn chủ  yếu của  tâm thức phàm phu nơi chúng ta. Khi A Lại Da thức được tinh sạch, không còn bị  vướng chấp phiền não che phủ , nó  sẽ  trở  thành Bạch Tịnh thức (Bản Thể Như Lai Tàng thanh tịnh). Đó chính là Pháp Thân Như Lai, Giác Thể vô thủy - vô chung, vô tại - vô bất tại, Đệ Nhất Nghĩa Đế, cõi Phật Vô Động, tự đầy đủ thanh lương bất biến, soi chiếu khắp pháp giới hằng nhiên tự  tại. Thông thường,  chúng ta chỉ biết sống với  “Tâm Vật Thể” và  với các Sắc pháp, chỉ  biết nhiều và  sống thường xuyên cùng với  các phần thô phù, cạn cợt của “Tâm Tính Năng” như  với 6 món Tâm Vương đầu tiên (Tiền Lục Thức: Nhãn Thức , Nhĩ Thức, Tỹ Thức,  Thiệt Thức, Thân Thức và Ý Thức) cùng các món Căn Bản Phiền Não,  và  các món Tùy Phiền Não, ..Do vậy chúng ta quan tâm nhiều đến các món Sắc Pháp và các món Tâm Sở Phiền Não, quan tâm ít hơn đến các món Tâm Sở Thiện và các món Tâm Sở khác, và hầu như rất xa lạ với các pháp Vô Vi.  Điều này đưa đến sự hình thành, phát triển tự nhiên, và  tồn tại lâu dài của vô  minh phiền não, chủng tử hữu lậu, chìa khóa phát khởi nghiệp thức dẫn đưa vào sáu đường sinh tử luân lưu, bất tận trong ba cõi.

Kinh Pháp Cú ( phẩm “Tâm”) có câu “Tâm phàm phu cứ xoay vần theo ngũ dục, xao động, không dễ nắm bắt. Chỉ những người nào đã điểu phục được tâm mình mới được an vui”. Do đây, tâm ý phàm phu thường được ví như khỉ, như ngựa (“Tâm viên, ý mã”).

Ngài Thần Quang (về sau là Nhị Tổ Huệ Khả) thưa với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma :”Tâm con không an xin Thầy dạy con pháp an tâm”. Sơ Tổ nói: Hãy đem tâm của ông ra đây, ta sẽ an cho”. Thần Quang đáp  “Con tìm tâm mà chẳng thấy”. Sơ Tổ bảo “Vậy là ta đã an tâm cho ông rồi”. Từ  đây, ngài Thần Quang đã  được pháp an tâm. ( = Cái tâm mà  Ngài ban đầu tưởng là không an chỉ là những tâm sở thô phù, là  phiền não, là pháp sanh diệt, chợt có chợt mất, chợt đến chợt đi  theo các duyên trần. Khi tâm ta còn phan duyên và  bị vướng mắc vào phiền não,  tâm chỉ thấy hiện ra có phiền não nên ta dễ có ý cho rằng phiền não chính là bản tâm ta. Chỉ cần  lời dạy đơn giản là “hãy đem tâm ra đây”  và “Vậy là ta đã an tâm cho ông rồi “ khiến ngài Thần Quang xoay lại quán chiếu  nơi bản tâm và dứt bặt tư  duy phân biệt nên thấy phiền não huyễn hóa tự nhiên biến mất, liền được trở về với tâm thanh tịnh bản nhiên tự  sẵn đầy đủ  nên gọi là  được pháp an tâm vậy).

Luận Đại Thừa Khởi Tín xác minh sự khởi phát của ba thức cơ bản của Bát Thức Tâm Vương  là  A Lại Da Thức, Mạt Na Thức, và  Ý Thức  như sau:

  1. Ban đầu tạm gọi là có bản thể  Giác Tánh thanh tịnh , viên mãn  (Đây chính là Bản Giác vô thủy, vô chung).

  2. Do tác động từ cảnh trần, Bản Giác bị chao động (Đây chính là Vô Minh Nghiệp Tướng, Tế 1st của Tam Tế) nên có  xuất hiện A Lại Da thức  (đây là  giai đoạn khởi phát và xuất hiện Thức 8th).

  3. Từ đó tiếp tục sinh ra có Năng Kiến Tướng (còn gọi là Chuyển Tướng, tức là Kiến Phần của A Lại Da thức, Tế 2nd của Tam Tế)

  4. Rồi có thêm Cảnh Giới Tướng (còn gọi  là Hiện Tướng, tức là Tướng Phần của A Lại Da thức, Tế 3rd của Tam Tế).Từ đây đã có sự xuất hiện của Mạt Na thức (đây là  giai đoạn khởi phát và xuất hiện Thức 7th) với chấp mắc về Năng - Sở, Ngã - Pháp (Ngã Sở Hữu), Có -Không. 

    (Ba tướng Vô Minh Nghiệp, Kiến Phần, và Tướng Phần này được gọi chung là Tam Tế trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Tế 1st minh định sự hình thành A Lại Da thức, hai tế sau 2nd và  3rd, minh định sự hình thành Mạt Na thức).

  5.  Mạt Na thức xuất hiện sẽ tiếp tục phát triển ra Lục Thô bao gồm Thô 1st =Trí Tướng (có thêm phân biệt tốt-xấu, thương-ghét) , Thô 2nd =Tương Tục Tướng (vọng niệm tiếp nối liền lạc theo nhau không dứt), Thô 3rd = Chấp Thủ Tướng (khiến tâm trở nên chấp luyến, thủ đắc sự vật), Thô 4th  = Kế Danh Tự Tướng (và khiến tâm giả đặt ra danh tự gọi tên sự vật), Thô 5th = Khởi Nghiệp Tướng (rồi tâm gây tạo nghiệp lành dữ) và Thô 6th = Nghiệp Hệ Khổ Tướng (tâm phải thọ chịu quả khổ). Hai Thô đầu của Lục Thô còn thuộc về Mạt Na thức, còn bốn Thô sau  của Lục Thô chính là Tướng và Dụng của Ý Thức (khởi phát và xuất hiện Thức 6th). Như thế, Tam Tế Lục Thô chính là quá trình chuyển biến từ  bản thể Như Lai Tàng thanh tịnh qua các thức A Lại Da, Mạt Na và Ý thức cấu nhiễm, cơ sở cho các tác nhân gây tạo nghiệp khổ luân hồi.

     

    Vậy bản thể của tâm là Giác Tánh thanh tịnh luôn có sẵn, chỉ vì Tâm bị chao động trước cảnh trần mà khiến có Bất Giác. Bất Giác chính là sự Động Tâm, cũng  chính là Vô Minh vi tế nhất,  sâu xa nhất so với các Vô Minh thô phù bên ngoài (như các Tâm Sở phiền não Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến)…Các tông phái đạo Phật đều có  cứu cánh nhắm đến chổ loại trừ, buông bỏ Vô Minh vi tế  về  sự  động tâm này. Như  Tịnh Độ  tông với pháp môn “Niệm Phật nhất tâm bất loạn”, Mật Tông với pháp môn Tam Mật Tương Ưng, Thiền Tông với pháp môn Chỉ Quán…

    Mỗi động thái của Bản Giác đưa đến sinh khởi của một tướng trạng tâm. Có  nhiều tướng trạng khác nhau nên tên gọi (danh xưng) của các tướng trạng này cũng khác nhau. Từ chổ Tâm bị động,  vọng niệm được phát khởi, mỗi vọng niệm phát khởi lại là một dạng tâm sở, mỗi tâm sở lại có thể tương ưng với một dạng loại phiền não,  nên thực tế không phải chỉ có 51 tâm sở như Duy Thức Học đã tổng quát hóa, tóm gọn lại , mà có vô lượng tâm sở, vô lượng phiền não rồi. Điều an ủi là dù có vô lượng phiền não, nhưng chúng sanh cũng có vô lượng Bồ Tát sẵn sàng cứu giúp vượt qua chúng. Vô lượng phiền não thường được tượng trưng với con số 84,000 trong đạo Phật như nếu có 84,000 phiền não thì cũng có 84,000 vị Bồ Tát hoặc có 84,000 pháp môn giải thoát…Các Bồ Tát này quí hóa thay lại có sẵn đủ , ở ngay nơi cội nguồn tâm thức của mỗi chúng sanh nên chúng sanh chỉ cần “Hồi Đầu”, thì tức khắc “Thị Ngạn” ngay. Mỗi một niệm Giác là một Bồ Tát,   từ nơi có “Hữu Tình Giác’ mà  khiến có nên “Giác Hữu Tình”. Do vậy Lục Tổ đã nói “Không ngại niệm khởi chỉ e giác chậm”. Đây cũng là ý nghĩa của phẩm “Tòng Địa Dõng Xuất” trong kinh Pháp Hoa (có vô số Bồ Tát từ cõi đất của tự tâm vọt lên để hộ trì kinh, không cần đến các Bồ Tát ở các phương khác, cõi đất khác).

     

    Kinh Duy Ma Cật phân biệt về các tâm với tên gọi khác nhau có được trên tiến trình  tu tập, dựng xây cõi Tịnh Độ, kể tên sơ lược một số tên gọi : 1st là Trực Tâm = tâm không cong vạy, thẳng hướng về bản thể Chơn Như, 2nd là Thâm Tâm = tâm tinh tấn đi sâu vào Chơn Như, 3rd là Bồ Đề Tâm = tâm thể phát sáng, cảm nhận được chất liệu trí tuệ - an lạc nơi Chơn Như, 4th là Hồi Hướng Tâm = tâm dụng từ Chơn Tâm hướng đến lợi ích cho chúng sanh…để dần dà có Thanh Tịnh Tâm rồi có cõi Tịnh Độ (Phật quốc). Ở đây, kinh Duy Ma Cật xác minh tu tâm không dừng lại ở phương tiện  phá dẹp, buông bỏ phiền não nơi các Thức vì  đây chỉ giống như  hớt bọt trên mặt biển nổi sóng mà không biết đến nguyên nhân sâu xa khiến phát sinh bọt biển chính là  do nước biển yên lành đã  bị chao động theo những cơn gió từ các duyên trần cảnh từ  bên ngoài. Kinh đã nhấn mạnh đến nơi cứu cánh,  nổ lực hướng  thẳng đến Chơn Tâm bản tánh, tinh tấn cho đến khi thành Phật.

Một vị tăng hỏi thiền sư Thiên Nhan: “Thế nào là Lý Bản Thường ?”. Thiền sư Thiên Nhan đáp : “Động”.. Vị tăng lại hỏi “Khi động thì sao ?”. Ngài đáp : “Chẳng phải Lý Bản Thường”. Ở đây, câu trả lời của thiền sư Thiên Nhan không nhằm giải đáp cho chính câu hỏi (phát khởi từ nguồn thức 6th,thức 7th ,    thức 8th của học tăng)  mà đã rốt ráo hơn, cụ thể hơn, từ bi thiết thực hơn nhổ đinh, tháo chốt  thẳng vào ngay nơi động thái của Bản Giác nơi người nêu ra câu hỏi vậy. Thiền Sư sau đó đã khai thị tiếp về việc “Nhận” và “Chẳng Nhận” (động thái vi tế hơn ở nguồn tâm của học tăng): “Nhận tức chưa thoát khỏi căn trần, còn chẳng nhận thì còn hằng chìm trong sanh tử” .

Kinh Duy Ma Cật, phẩm 12 “Kiến A Súc Phật”  khai thị  về  cõi nước Diệu Hỹ  cũng nhằm vào ý  nghĩa này: khi tâm thức không bị chao động trước cảnh trần, quán chiếu thấu được “Thực Tướng” ngay nơi tự thân sẵn đủ thì  chính lúc đó là quốc độ Diệu Hỷ rồi. Tâm “Hỷ Lạc” ở đây có ý nghĩa thắng vượt qua các tâm Hỷ Lạc nơi Tục Đế thế gian (tâm vui thích vì được thành toại tham dục với cảnh trần  bên ngoài), cũng thắng vượt qua các tâm Hỷ Lạc của thiền cảnh cõi trời Sắc Giới (Ly Sanh Hỷ Lạc = Xa rời ngũ dục thế gian mà tâm được  vui thích, Định Sanh Hỷ Lạc = Tâm không còn chao động với ngũ dục thế gian mà được vui thích.), nên được gọi là Diệu Hỷ (cái vui mầu nhiệm bất khả tư nghì mà ai cũng sẵn có đầy đủ nhưng lại thường hay bị bỏ quên nên không thể biết về nó và không thể sống với nó).

Cuộc vấn đáp giữa ngàiTriệu Châu (người hỏi) và thầy mình là Tổ Nam Tuyền (người đáp) minh định tâm Vô Động (gọi là Tâm Bình Thường ở đây)  với ý nghĩa Tâm Bình Thường không phải là tâm hằng ngày thường khiến ta bận bịu,  phiền não vướng chấp theo duyên trần, nghĩ ngợi lăng xăng phải -quấy, tốt xấu, khen chê, thương- ghét) mà Tâm Bình Thường chính là Đạo,  là tâm ở nơi cội nguồn thanh tịnh, nơi đó không còn có vọng động, khiến tâm xa lìa các ý niệm về tiến – lùi, nghĩ ngợi, nhận biết theo duyên trần của Ý thức, Mạt Na thức, A Lại Da thức.  

  • Thế nào là đạo?

  • Tâm bình thường là đạo.

  • Lại có thể nhằm tiến đến chăng ?

  • Nghĩ nhằm tiến đến là sai rồi

  • Vậy khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo ?

     -    Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy?

    Ngay câu nói này, thiền sư Triệu Châu được ngộ lý.

Như trên đã nói, đạo Phật chính là đạo về Tâm.  Nhưng nếu cho rằng đạo Phật là đạo Duy Tâm thì cần khéo  hiểu ý nghĩa của chữ Tâm này, chữ Tâm với ý nghĩa trọn vẹn, bao trùm đầy đủ các pháp giới  từ thô đến tế,  từ cạn cợt đến vào sâu suối nguồn ẩn kín, chữ Tâm vượt qua khỏi các  phạm trù “Duy” và “Chẳng Duy” với nhậm vận diệu dụng  “Bất Biến mà Tùy Duyên”, và tuy là “Tùy Duyên nhưng lại Bất Biến” .

Còn nếu cho rằng đạo Phật là đạo Vô Thần, thì cần khéo  hiểu ý nghĩa về bản thể và diệu dụng của nguồn tâm thể bản hữu. Chính ngay từ ngữ “Vô Thần” đã bị vướng chấp vào hai ý niệm: 1st là ý niệm về Vô - Hữu (Có - Không), 2nd là ý niệm về “ Là (Thần) - Chẳng Là (Thần)”.  Hai ý niệm này còn thuộc phạm trù của các Thức (Ý thức, Mạt Na thức, A Lại Da thức), chưa chạm vào đến nơi cội nguồn bản thể thanh tịnh của A Lại Da thức là Bản Giác hằng nhiên thanh tịnh mà chiếu soi cùng khắp, vượt qua tất cả ý niệm về không gian và thời gian, về Có –Không, về Là-Chẳng Là . Đó là diệu dụng bất khả tư nghì của cội nguồn Chơn Tâm Thường Trú “thanh tịnh bản nhiên, “tùy chúng sanh tâm ứng sở tri lượng, chu biến pháp giới” (kinh Thủ Lăng Nghiêm). Cội nguồn này là nơi xuất sanh và cũng là nơi trở về (sanh hay diệt tùy theo các nhân duyên tụ tán) của vô lượng sanh thể, sanh khí, sanh tướng của chúng sanh , bao gồm tất cả dạng loài chúng sanh trong ba cõi ( Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới), trong sáu đường (Trời, Người, thần A Tu La, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Địa Ngục), và cả mười pháp giới (Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và sáu đường nêu trên).

Như thế, gán ép cho “Tâm” nói riêng và cho đạo Phật nói chung bất kỳ một danh hiệu nào, một nhãn hiệu nào… đều không chuẩn xác và xứng hợp hoàn toàn. Bởi vì Tâm nơi cứu cánh chính là nguồn  sống thiên sai vạn biệt của tất  cả chúng sinh mà ở tận cùng nguồn sống ấy lại là giác thể thanh tịnh bản hữu chung cùng, bản vị bình đẳng nơi mỗi sinh linh.  Đây cũng chính là điểm tinh yếu vô cùng đặc sắc và độc đáo của đạo Phật Đại Từ - Đại Bi - Đại Hỷ - Đại Xả vậy.

                                                                                         

 
Quảng Minh LKH

Plano_ February 22, 2017

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/02/201820:02(Xem: 441)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/201815:50(Xem: 567)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
08/12/201713:37(Xem: 707)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
19/11/201705:55(Xem: 411)
Tình, Tưởng. Cả hai đều thuộc về phạm trù của Tâm con người, không có ở trong các loài súc sinh, mặc dù súc sinh có cái biết bằng Giác (giác hồn, sinh hồn) nhưng, không tinh khôn bằng loài người, do Phật tánh bị chìm sâu bởi thú tính cao vời. Chỉ có loài người, Phật tánh được hiện hữu ở ba cấp thượng, trung, hạ, cho nên loài người là linh vật, chúa tể của muôn loài có khả năng dời núi, lấp sông do bởi cái tâm có tánh giác tinh anh Phật, Bồ Tát, Thánh, Phàm. Nói khác hơn, con người chỉ có một tâm nhưng, nó tự chia ra hai phần : Chủ tể và phụ tể. Nói theo Duy Thức Học; là Tâm vương, Tâm sở. Vai trò của Tâm vương là chủ động tạo tác ra vô số lời nói, hành động thiện, ác. Vai trò Tâm sở là duy trì, bảo vệ những thành quả (sở hữu) mà cũng chính nó tức tâm vương đã sáng tạo ra. Nghĩa là cái Tâm con người, nó vừa tạo tác ra các nghiệp, lại vừa đóng vai
19/11/201705:54(Xem: 373)
Con người trong mọi giới ngoài xã hội hiện nay tại các nước có Phật Giáo như Việt Nam, đến chùa xin Quy Y Tam Bảo được thấy rõ, là một tryền thống do con người tự chọn cho mình con đường giải thoát giống như ngày xưa lúc Phật còn tại thế, do tự nhận thức : Đạo Phật là con đường giải thoát, chứ Đức Phật từ ngàn xưa và chư Tăng rại các nước trên thế giới có Phật Giáo hiện hữu hôm nay, không khuyên mọi người phải và nên Quy Y Tam Bảo. Bởi vì đạo Phật, là đạo tự giác, tức là để cho con người tự do tìm hiểu giáo lý Phật. Sau đó thấy được đạo Phật là con đường giải thoát sinh tử khổ đau thực sự mà phương tiện là giáo lý, qua quá trình tự tu, tự giác ngộ, thì mới phát nguyện xin quy y Tam Bảo. Qua đây cho ta thấy đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi, bang phước giáng họa cho bất cứ ai.
19/11/201705:52(Xem: 463)
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện, Đức Phật nói lời khẳng định với Bồ Tát Xá Lợi Phất : “Này Xá Lợi Phất, chư Phật chỉ vì một việc trọng đại lớn duy nhất mà thị hiện ra nơi đời (cõi người), đó là “khai thị chúng sanh, ngộ nhập tri kiến Phật”.
19/11/201705:51(Xem: 451)
Trên mặt trái đất đã và đang có núi cao, đồi thấp, suối cạn, ghềnh thác, đất, cát, đá cuội, ao, hồ, sông dài, biển rộng, bầu trời, mây bay, gió thổi, nắng, mưa, bão tố, không khí nóng, mát, lạnh lẻo, các loại cỏ, hoa, cây cối…Đó là chúng sanh không có tình. Muôn loài Súc Vật lớn, nhỏ trên khô, dưới nước, và các chủng loại Con Người. Đó là chúng sanh có tình. Tất cả, đều do vô số Duyên giả hợp lại mà có bản thể, chứ mỗi loài không thể tự có thân (không tự thể), như đã được nói rõ ở bài “Khai Thị Chúng Sanh, Ngộ Nhập Tri kiến Phật”.
29/09/201705:50(Xem: 776)
Tu tập tự thân chính là công phu quan trọng nhất trong toàn bộ cái gọi là Phật giáo. Từ việc ổn định một nội tâm phóng tán, giải trừ những ngộ nhận, cho đến khả năng trấn an những nổi đau và tìm thấy một suối nguồn an lạc ,…Tất thảy đều chỉ có thể thành tựu từ sự tu tập và con đường tu tập đó không gì hơn được pháp môn Tuệ Quán, tức con đường quán niệm Tứ Niệm Xứ. Và nếu nói nôm na hơn nữa thì dầu có gọi bằng từ ngữ gì, có lẽ cũng không ngắn gọn bằng hai chữ Tu Tâm.Tâm (citta) hay Ý (mano) hoặc Thức (vinnàna) đều là những chữ đồng nghĩa ,tùy chổ mà dùng, để chỉ cho cái gọi là Danh Pháp, sự nhận thức đối tượng (biết cảnh). Phân tích đơn giản nhất thì có tất cả 6 Thức và chúng phải nương vào Lục Vật(vatthu) mới có thể làm việc : Nhãn Thức phải nương vào Nhãn Vật (thần kinh thị giác), Nhĩ Thức phải nương vào Nhĩ Vật (thần kinh thính giác), Tỷ Thức phải nương vào Tỷ Vật (thần kinhkhứu giác), Thiệt Thức phải nương vào Thiệt Vật (thần kinh vị giác), Thân Thức phải nương vào Thân Vật (th
29/08/201706:13(Xem: 638)
Trong tháng 4/2017, người viết được đón tiếp một số pháp hữu -- hai vị từ núi Long Hải tới thăm là Thầy Thiện Minh và Sư cô Diệu Hải nguyên học cùng bổn sư là Hòa Thượng Thích Tịch Chiếu; bạn văn là nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, anh chị Châu-Chi… Trong mấy ngày ở Quận Cam, Thầy Thiện Minh ngồi vẽ tấm thư pháp Bồ Đề Đạt Ma để tặng người học Phật đã đi xa từ mấy thập niên trước.
29/08/201706:08(Xem: 532)
Lục Độ Vạn Hạnh - hình ảnh do Ngộ Chân Giác trình bày