Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

3. Quyển Thứ Ba

08/11/201416:48(Xem: 1112)
3. Quyển Thứ Ba

Mật Tạng Bộ 2_ No.952 (Tr.274_Tr.280)

 

KINH NĂM PHẬT ĐẢNH TAM MUỘI ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ BA_

 

Hán dịch: Đại Đường_Thiên Trúc Tam Tạng BỒ ĐỀ LƯU CHÍ phụng chiếu dịch
Việt dịch: Sa Môn THÍCH QUẢNG TRÍ
Phục hồi Phạn Chú: HUYỀN THANH

 

MẬT ẤN CỦA NĂM ĐẢNH VƯƠNG

_PHẨM THỨ TÁM_

 

Bấy giờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Hội Chúng này rằng: “Thiện Nam Tử các ông cần phải thọ trì vô lượng vô số sức đại dõng mãnh của Tam Ma Địa Xuất Hiện của hết thảy Như Lai, Thân an trụ Chú của hết thảy Như Lai, vô lượng vô biên Pháp chưa từng có của Chủng Tộc chân thật của hết thảy Như Lai, vô lượng oai đức sinh ra lưu bày Đại Ấn với Chú… Trong đây hay sanh hết thảy Bồ Đề, hay phá cu chi tất cả Ma Quân, hay nhiếp hết thảy các Đại Bồ Tát, bậc Đại Hùng Lực, hay khiến cho hết thảy hữu tình đáng sợ sanh Tâm Đại Từ.

Này các Thiện Nam Tử! Nay Ta lược nói Nhất Thiết Biện Sự Nghiệp Đại Ấn

 

Khi ấy Kim Cang Mật Tích Chủ chắp tay cung kính bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nguyện xin rũ thương nói Oai Đức Đại Ấn với Chú mà hết thảy Như Lai đã lưu bày, để làm lợi ích cho hết thảy hữu tình, dùng chút ít công mà gom chứa, liền thành chứng”.

Lúc đó, Đức Thế Tôn bảo Kim Cang Mật Tích rằng: “Ông hãy nghe cho kỹ! Hãy yên lặng nghĩ nhớ! Nay Ta vì ông  phân biệt giải thích.

Tức trước tiên, xoay vần kết Nhất Thiết Như Lai Tâm Tinh Tấn Ấn. Hai tay: đem tám ngón, bên phải đè bên trái, cài chéo trong lòng bàn tay, liền nắm lại thành quyền, duỗi hai ngón cái ngang bằng, đè trên lóng giữa của ngón trỏ phải, đừng khiến cho đầu ngón co lại.

Ấn Chú là:

“Na mạc tát phạ bột đà, bồ địa tát đỏa nam. A, nhĩ la, hổ-hồng, yêm”

NAMAḤ  SARVA  BUDDHA  BODHISATVĀNĀṂ_ A  VĪRA  HŪṂ  KHAṂ

Nếu đem hai ngón cái đưa lên xuống qua lại hết thảy, tức gọi là Khải Triệu Như Lai Chủng Tộc Ấn.

Ấn Chú là:

“Úm, nhĩ lữ chức”

OṂ_ JINA  JIK

Hai Ấn Chú này gọi là Như Lai Tối Tinh Tiến Tâm, sức hay độ thoát hết thảy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh… cũng hay trợ giúp thành Công Tích Nghiệp Sự của hết thảy Như Lai. Nhiếp các Bồ Tát, Đế Thích, Phạm Vương, Y Thủ La Thiên, Diêm Ma Vương, Thủy Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên cho đến hàng Đại Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát của mười Địa (Daśa-bhūmi)

 

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT CHỦNG TỘC ẤN CHÚ_ CHI HAI

Dựa theo Tâm Ấn lúc trước, chỉ sửa ngón cái trái, co vào trong lòng bàn tay, nắm đầu ngón trỏ phải, ngón cái phải y theo lúc trước, định thân.

Ấn Chú là:

“Úm, a lô lực”

OṂ_ AROLIK

Nếu đem đầu ngón cái phải, đưa lên xuống qua lại, tức gọi là Thỉnh Triệu Quán Âm Chủng Tộc Ấn

 

KIM CANG CHỦNG TỘC ẤN CHÚ_CHI BA

Dựa theo theo Tâm Ấn lúc trước, nên sửa ngón cái trái, như lúc trước duỗi đè lên, co ngón cái phải vào trong lòng bàn tay nắm đầu ngón trỏ trái,  ngón cái trái y theo lúc trước, định thân.

Ấn Chú là:

“Úm, bạt chiết la, điệt lực”

OṂ_ VAJRA  DHṚK

Nếu đem đầu ngón cái trái, đưa lên xuống qua lại, tức gọi là Thỉnh Triệu Kim Cang Chủng Tộc Ấn

 

LUÂN VƯƠNG ẤN CHÚ_CHI BỐN

Trước tiên, nên chắp tay, đem hai ngón cái, hai ngón vô danh, hai ngón út, bên phải đè bên trái, cài chéo nhau trong lòng bàn tay. Duỗi dựng thẳng hai ngón giữa đều co lóng thứ nhất khiến đầu ngón trụ nhau. Kèm song song hai ngón cái ngang bằng nhau trong lòng bàn tay. Lại đem hai ngón trỏ co bằng nhau, đè trên lưng móng của hai ngón cái sao cho đầu ngón cùng dựa nhau.

Đảnh Luân Vương Căn Bản Đại Ấn này, là điều mà căn già sa đẳng hết thảy Như Lai quá khứ đã cùng nhau nói giữ, hết thảy Như Lai đời vị lai sẽ cùng nhau nói giữ, hết thảy Như Lai đời hiện tại nay cùng nhau nói giữ. Vì muốn nhiếp các hữu tình cho nên khiến cùng nhau nói giữ. Người Trí ở nơi cư ngụ, truyền thụ kết Ấn này thì hết thảy kẻ ganh ghét, kẻ gây chướng ngại ác, Tỳ Na Dạ Ca đều chẳng dám gần gũi. 

Này Mật Tích! Đảnh Luân Vương Căn Bản Ấn này. Hết thảy chư Phật trụ trong trăm ngàn cu chi căng già sa kiếp, khen ngợi nói Thần Lực, Công Đức của Ấn này cũng chẳng thể hết được. Lại dùng mọi loại ngôn từ, ví dụ nói Đại Ấn này cũng chẳng thể hết được.

Nếu người Trí kết trì Ấn này, tụng Đảnh Luân Vương Chú, tức thường chẳng bị cu chi trăm ngàn Ma, giòng họ Ma... gây não loạn. Người này qua trăm ngàn cu chi đại kiếp về sau,chẳng bị rơi vào đường ác. Vì sao thế? Vì người này đã được Phước gom chứa Công Đức, Ta ở trong trăm ngàn cu chi đại kiếp, nói cũng chẳng hết được.

Đại Đảnh Luân Vương Chú này. Nếu có người dùng một Tâm tịnh thường tụng trì thì  Niệm Lực, Tuệ Lực, Trí Lực đã được, ở trong trăm ngàn cu chi kiếp nơi sanh ra, thường chẳng bị lùi mất. 

Này Kim Cang Mật Tích Chủ! Tại sao vậy? Vì Đại Ấn như vậy có oai đức lớn, có vô lượng sức mạnh.

Ấn Chú là:

“Na mô bà già phạ để, a bả la để khả đố sắt nê sa dã. Úm, đát tha già đô sắt nê sa, a na phạ lộ chỉ đa, mỗ thúc đà, chước cật-la, mạt la để, hổ-hồng, nhập phạ la nhập phạ la, đà cả đà cả, độ na độ na, nhĩ độ na nhĩ độ na, đát-la sai dã, ma la dã, hiệt sa na dã, khả na khả na, bạn nhạ bạn nhạ, ám ám, ác ác, các các, bổ-lộng xí nê, bổ-lộng xí nê, quân noa lý ninh, a bá la nhĩ đá, tắc đát-la, đà lý nị, hổ-hồng”

NAMO  BHAGAVATE  APRATIHATOṢṆĪṢĀYA_ OṂ  TATHĀGATOṢṆĪṢA  ANĀVALOKITA  MŪRDHA  CAKRA-VARTTI  HŪṂ,  JVALA  JVALA, DHAKA  DHAKA, DHUNA  DHUNA, VIDHUNA  VIDHUNA, TRĀSAYA  MĀRĀYA  NĀŚANĀYA,  KAṆA KAṆA, BHAṂJA  BHAṂJA, AṂ  AṂ, AḤ  AḤ, SAḤ  SAḤ, PṚŚAṆĪ  PṚŚAṆĪ, KUṆḌALIṆI  APARĀJITA  CCHATRA-DHĀRIṆI  HŪṂ

 

CAO ĐẢNH VƯƠNG ẤN CHÚ_CHI NĂM

Trước tiên, hai tay: đem hai ngón vô danh, hai ngón út, bên phải đè bên trái, cài chéo nhau trong lòng bàn tay. Tiếp theo, dựng thẳng hai ngón giữa cùng trụ đầu ngón. Cùng kèm song song hai ngón cái duỗi đè trên lóng giữa của hai ngón vô danh. Lại đem hai ngón trỏ để trên lóng giữa bên cạnh của hai ngón giữa, co đầu chạm nhau.

Ấn Chú là:

“Úm, nhập phạ la, niệp nhĩ, niệp biều già đổ, ổ-sắt nê sa, độ na độ na, hổ hồng”

OṂ_  JVALA  DĪPYA  DĪPYODGATOṢṆĪṢA,  DHUNA  DHUNA  HŪṂ

 

BẠCH TẢN CÁI ĐẢNH VƯƠNG ẤN CHÚ_CHI SÁU

Dựa theo Cao Đảnh Vương Ấn lúc trước, chỉ sửa hai ngón giữa, hơi co lóng thứ nhất sao cho đầu ngón ngang bằng dựa nhau, tiếp theo mở hai ngón trỏ, đầu ngón cách nhau nửa thốn (1/6 dm)

Ấn Chú là:

“Úm, ma ma ma hỗ-hồng, nịch”

OṂ_  MAMA  MAMA  HŪṂ  NĪḤ

 

QUANG TỤ ĐẢNH ẤN CHÚ_CHI BẢY

(Một tên gọi là Kim Luân Ấn Chú)

Dựa theo Cao Đảnh Vương lúc trước, chỉ sửa hai ngón trỏ, tách mở dựng thẳng duỗi đầu ngón cách đầu ngón giữa hoảng một thốn hai phân (6/15 dm)

Ấn Chú là:

“Úm, đát tha già đô sắt nê sa na phạ lộ chỉ đá, mỗ phất đà, đế nhụ la thủy, hổ-hồng,nhập phạ la, nhập phạ la, đà cả đà cả, nại la nhĩ nại la, sấn na, tần na, hổ-hồng phán, sa-phạ ha”

OṂ_  TATHĀGATOṢṆĪṢA  ANĀVALOKITA  MŪRDHA  TEJORĀŚI  HŪṂ,  JVALA  JVALA,  DHAKA  DHAKA, DARA  VIDARA,  CCHINDA, BHINDA,  HŪṂ  PHAṬ   SVĀHĀ

Lại thêm một Ấn. Dựa theo Đảnh Luân Vương Ấn, chỉ sửa hai ngón vô danh đều duỗi dựng thẳng, co hai ngón cái đè bên cạnh móng hai ngón út. Kèm co hai ngón giữa, hai ngón trọ cùng trụ đầu nhau như nửa mặt trăng (bán nguyệt)

Một Pháp Ấn này cũng gọi là Đảnh Luân Vương Đàn Luân, kết làm Pháp Ấn thứ tám vậy.

 

THẮNG ĐẢNH VƯƠNG ẤN CHÚ_CHI CHÍN

Dựa theo Bạch Tản Cái Đảnh Ấn lúc trước, chỉ sửa hai ngón trỏ ở dưới  lóng thứ nhất của ngón giữa, co bằng đầu ngón dựa nhau.

Lại, Ấn dựa theo Quang Tụ Đảnh Ấn, sửa hai ngón trỏ để ở vạch bên cạnh trên lung lónh bên trên của hai ngón giữa.

Ấn Chú là:

“Úm, nhạ dụ sắt nê sa, nhập phạ la nhập phạ la, bạn đà bạn đà, na ma na ma, đốt-lỗ-hồng,  đốt-lỗ-hồng đốt-lỗ hồng hoắc, khả nẵng, hổ-hồng”

OṂ_ JAYOṢṆĪṢA  JVALA  JVALA, BANDHA  BANDHA, DAMA  DAMA, DRŪṂ  DRŪṂ  DRŪṂ,  HĀḤ  HANA  HŪṂ

Dựa theo Đảnh Luân Vương Ấn lúc trước, đồng nhau tức là CHUYỂN PHÁP LUÂN_CHI MƯỜI

Lại dùng hai tay: đem hai ngón út, co đầu ngón ngang bằng dựa đầu nhau. Tiếp theo đem hai ngón vô danh đều co vào trong lòng bàn tay, hai ngón giữa đều hơi co dựng thẳng sao cho đầu ngón trụ nhau, để hai ngón trỏ ngay trên cạnh lóng giữa của ngón giữa, hai ngón cái đều đè trên hai ngón vô danh, mở hai lòng bàn tay, cổ tay cách nhau bốn thốn (2/5 dm).

Một Pháp Ấn này hay chuyển bánh xe Pháp của 12 Hành Tướng, diệt các cấu chướng.

 

NHƯ LAI BẠC (mưa đá) TỒI (phá vỡ) PHIỀN NÃO ẤN- CHI MƯỜI MỘT

Dựa theo Đảnh Luân Vương Ấn,chỉ sửa hai ngón trỏ bật sau lưng hai ngón giữa, cùng trụ đầu ngón. Một Ấn này cũng gọi là Tọa Ấn cũng gọi là Đảnh Luân Vương Đàn Ấn.

Lại bảo Mật Tích Chủ:  “Năm Đại Ấn này gọi là Nhất Thiết Như Lai Đảnh Luân Vương Chú Chủng Tộc Vương Ấn Đại Ấn. Tên thứ nhất là Cao Đảnh Vương Ấn, tên thứ hai là Bạch Tản Cái Đảnh Vương Ấn, tên thứ ba là Quang Tụ Đảnh Vương Ấn, tên thứ tư là Chuyển Pháp Luân, tên thứ năm là Bạc Tồi Phiền Não Ấn. Nhóm Ấn này được gọi là Đại Đảnh Vương Ấn.

 

NHƯ LAI TÂM ẤN CHÚ_CHI MƯỜI HAI

Dựa theo Như Lai Tâm Ấn thứ nhất, chỉ sửa hai ngón cái đều co vào lòng bàn tay. Một Pháp Ấn  này gọi là Như Lai Tâm Đại Tinh Tấn Ấn

Người trì Chú nếu thường xoay vần kết Ấn này, tụng Đảnh Luân Vương Chú, một lần Chú thì một lần ấn trên trái tim, đủ bảy biến, tức hay tồi diệt hết thảy tội nặng căn bản của quá khứ. Thường dùng Ấn này làm tất cả Pháp thành tựu xứ, gia bị thân của mình với hộ thân của Chú Thần, hay khiến cho vị Thần hiện ra.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, ngu na lễ, vĩ la, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ  KUṆḌALĪ  VĪRA  SVĀHĀ

Một Pháp Chú này có công lực đồng với Ấn Chú thứ nhất lúc trước. Ở nơi làm Pháp, trợ nhau dùng cũng được. Chú này có sức đại oai mãnh

 

ẤN CHÚ SAI KHIẾN CỦA HẾT THẢY ĐẢNH VƯƠNG_CHI MƯỜI BA

Chắp tay, co tám ngón cùng dựa đầu nhau, trước tiên chắp tay để ngang trái tim, bên trong lòng bàn tay trống rỗng, nên đem tám ngón đều co đầu ngón ngang bằng cùng dựa nhau, đầu của tám ngón đều cách nhau khoảng ba phân (1/10 cm), hai ngón cái  đó cách nhau ba phân (1/10 cm) dựng thẳng ngang bằng đầu ngón.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, trác-lỗ lỗ, bạn đà, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ  ṬRŪṂ  BANDHA  SVĀHĀ

Một Pháp Chú Ấn này cũng hay thành biện hết thảy sự nghiệp, tự hộ giúp mình, hộ giúp người khác. Kết tu các Pháp không có chướng não

 

NHƯ LAI TÍCH TRƯỢNG ẤN CHÚ_CHI MƯỜI BỐN

Trước tiên, tay phải: đặt ngón cái nằm ngang co vào lòng bàn tay, đem ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út nắm lại thành quyền, co khuỷu tay ngay phía trước duỗi ngang bằng.  Tay trái nắm góc áo cà sa, lòi đầu ra bốn thốn (2/5 dm), cũng co khuỷu tay để phía trước duỗi ngang bằng.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, độ na, ti đà la noa, hổ-hồng”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ  _  DHUNA  VITARAṆA  HŪṂ

Một Pháp Chú này. Nếu gặp hết thảy các hữu tình ác, liền kết Ấn này dùng ủng hộ thân.

 

NHƯ LAI BÁT ẤN CHÚ_CHI MƯỜI LĂM

Trước tiên, ngửa lòng bàn tay phải để ngang trái tim, đem tay trái úp hợp trên lòng bàn tay phải, đầu ngón út trái cùng đầu ngón cái phải cùng trụ nhau, đầu ngón cái phải cùng đầu ngón út trái cùng trụ nhau.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, lộ ca bá la, địa sắt-sỉ đa, đà la dã, đà la dã, ma ha na bà phạ, bột đà bá đát-la, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ  _  LOKA-PĀLA  ADHIṢṬHITA  DHARĀYA  DHARĀYA  MAHĀNUBHĀVA  BUDDHA-PATRA  SVĀHĀ

Pháp Ấn Chú này có đủ đại tinh tấn,  thường được Thần Lực của hết thảy Như Lai gia hộ. Nên kết Ấn này và tụng Chú này, kết thúc mỗi một biến, xưng nhớ hữu tình ở Địa Ngục, Quỷ đói… mãn 108 biến tức hết thảy Quỷ đói ở Địa Ngục được ăn uống no đủ. Nếu đi ở nơi đồng trống hoang vắng,cũng kết Ấn này kèm tụng Chú này, liền được hết thảy Quỷ Thần trong đồng trống hoang vắng không dám gây nhiễu loạn.

 

NHƯ LAI TƯỚNG HẢO ẤN CHÚ_CHI MƯỜI SÁU

Trước tiên, hai tay: đem hai ngón giữa, hai ngón vô danh, hai ngón út… bên phải đè bên trái, cài chéo nhau nhau trong lòng bàn tay, đều nắm lòng bàn tay. Duỗi thẳng hai ngón trỏ cùng trụ cạnh ngón, hai ngón cái đó đều nắm trên cạnh ngón trỏ. Đem Ấn đảo rũ xuống, ngửa lòng bàn tay để ở trên trán, đầu hai ngón trỏ để ngay giữa hai chân mày (tam tinh).

Ấn Chú là:

“Na mạc tát phạ đát tha gia để biều, a la hạt tệ, tam miệu tam bột thê tệ, hề hề,  bạn đà bạn đà, để sắt sá,  để sắt sá, đà la dã, đà la dã, nễ luận đà, nễ luận đà, thúc noa ma nê, sa ha”

NAMAḤ  SARVA  TATHĀGATEBHYO  ARHATEBHYAḤ  SAMYAKSAṂBUDDHEBHYAḤ

HE  HE, BANDHA  BANDHA, TIṢṬA  TIṢṬA, DHARĀYA  DHARĀYA, NIRUDDHA  NIRUDDHA, RAṆA-MAṆI  SVĀHĀ

Pháp Chú Ấn này gọi là Đại Trượng Phu Tướng Hảo. Nếu có người thường hay xoay vần kết Ấn này, tức mau thành tựu hết thảy Tất Địa (Siddhi), đủ oai đức lớn

Nếu đem Ấn ấn đảnh đầu tức gọi là Như Lai Đảnh Ấn. Nếu đem Ấn ấn lỗ mũi thì gọi là Như Lai Tỵ Ấn.

Đảnh Tỵ Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, ải lý nê, hổ-hồng, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ  _  ŪRṆE  HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Như Lai Đảnh Tỵ Ấn này thường kết Hộ Thân, sẽ hướng đến trăm ngàn cu chi Đại Kiếp, chẳng bị các tật bệnh ở đảnh đầu, lỗ mũi

 

NHƯ LAI NHÃN ẤN CHÚ-CHI MƯỜI BẢY

Trước tiên, chắp hai tay lại, đem hai ngón cái co vào lòng bàn tay, tiếp theo đem hai ngón trỏ đều co lóng thứ nhất, đem đầu ngón đè trên lóng giữa bên cạnh hai ngón giữa,  hai đầu hai ngón trỏ cách nhau một thốn (1/3 dm)

Như Lai Nhãn Ấn này ở Đảnh Luân Vương Đàn, thanh tịnh xoay vần kết thì hay làm lợi ích lớn, diệt các tội nặng, thành tấn Tất Địa của Đảnh Vương Chú Giả

Nếu trải qua trăm ngàn cu chi kiếp tu các Công Đức, dùng oai lực của Ấn này hay nhiếp hết các nhóm Công Đức đã gom chứa.

Ấn Chú là:

“Na mạc tát phạ đát tha già để biều, a la hạt tệ, tam miệu tam bột thê tệ. Úm, lỗ lỗ, tắc phổ lỗ, nhập phạ la, để sắt sá, tất đà lộ giả nê, tát phạ lạt tha, sa đà ninh, sa-phạ ha”

NAMAḤ  SARVA  TATHĀGATEBHYAḤ  ARHATEBHYAḤ  SAMYAKSAṂBUDDHEBHYAḤ

OṂ_ RURU  SPHURU  JVALA  TIṢṬA  SIDDHA  LOCANE  SARVĀRTHA  SĀDHANE  SVĀHĀ

Này Kim Cang Mật Tích Chủ! Như Lai Nhãn Đại Minh Vương Chú này là điều mà mười cu chi Phật cùng nhau tuyên nói. Xưa kia khi Ta vì Bồ Đề thời ở trước mặt mười cu chi Phật nhận được Chú này. Nếu người trì Chú dùng một Tinh Tâm, tụng trì Chú này liền được hết tất cả Bồ Tát, Chú Thần đều hiện ra trước mặt, cũng đều thành tựu Chú Pháp của hết thảy Kim Cang Chủng Tộc. Thế nên Mật Tích! Người trì năm Đảnh Vương Chú, nên trước tiên mỗi lần tụng Chú này 7 biến hoặc 21 biến.

Đại Minh Vương Chú này. Nay Như Lai vì hết thảy hữu tình được an vui lớn, cho nên nói. Người trì Chú, nếu gặp người có tánh bạo ác thì Chú vào bàn tay xoa mặt, ngầm tụng Chú này rồi cùng nhau luận nói nghĩa thì được kẻ kia vui vẻ, cũng hay tồi phục hết thảy hàng Si Mỵ, Vọng Lượng, Quỷ Thần ác.

Này Mật Tích Chủ! Nếu người trì Đảnh Luân Vương Chú, một lần đã cầu Pháp, hai lần đã cầu Pháp mà chẳng thành chứng. Tức nên gia thêm Đại Minh Chú Vương này, cùng nhau đồng tụng mãn hai mươi vạn biến thì quyết định thành tựu Tất Địa tối thượng của Đảnh Luân Vương Chú

Nếu chưa trải qua một, hai lần làm Pháp mà tụng cả hai, tức thân của người trì Chú sẽ bị tai ương.

 

NHƯ LAI MY GIAN (tam tinh) ẤN CHÚ-CHI MƯỜI TÁM

Dựa theo Như Lai Nhãn Ấn, chỉ sửa hai ngón trỏ đều để ở lóng trên lưng của ngón giữa sao cho đầu ngón cách lóng của ngón giữa một phân (1/3 cm).

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Hột-lý, hổ-hồng”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ HRĪḤ  HŪṂ

Như Lai My Gian Hào Tướng Ấn Chú này tức là điều mà hết thảy Như Lai quá khứ đã tuyên nói, nay Ta cũng nói. Khi xoay vần Ấn này thời Đại Tự Tại Thiên, Cu Ma La Đại Sĩ, Hứ Dã Thiên… đều chẳng dám quấy nhiễu huống chi là các Si Mỵ, Quỷ Thần nhỏ làm sao có thể quấy nhiễu được.

 

NHƯ LAI KHẨU (cái miệng) ẤN CHÚ-CHI MƯỜI CHÍN

Dựa theo Như Lai Tâm Ấn, chỉ sửa hai ngón cái, kèm nhau duỗi móng ngón, co lóng đầu khiến cách cạnh ngón trỏ khoảng ba hạt lúa. Đem Ấn để ở Diện Môn (Mukha: chỉ 3 chỗ là cái miệng, khuôn mặt, phần bên dưới cái mũi bên trên cái miệng), lóng đầu của lưng hai ngón cái ấy để ở ngay cái môi.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Chỉ lý, chỉ lý, hổ-hồng”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ KILI  KILI  HŪṂ

Một Ấn Chú này có cây đuốc lửa lớn, hay mau chóng giúp đỡ hoàn thành hết thảy sự nghiệp. Người trì Chú nếu thường xoay vần kết Ấn này để trước miệng mà tụng Khẩu Chú này hai, ba, bảy biến. Lại tụng Đảnh Luân Vương Chú. Do sức của Ấn Chú mà Người, Trời trong ba cõi  thấy nghe luận nói, thảy đều kính yêu. Bởi thế, người này nên thường dùng Pháp Ngữ hòa nhã, chân thật, dịu dàng. Người này sẽ ở trong trăm ngàn cu chi kiếp chẳng bị bệnh về miệng. Đại Tự Tại Thiên, Tỳ Sắt Nỗ Thiên với các hàng Trời, Rồng, tám bộ Quỷ Thần nghe người này nói, thảy đều kính phục, huống chi là các Si Mỵ, Quỷ Thần nhỏ khác.

 

NAN THẮNG PHẤN NỘ VƯƠNG ẤN CHÚ_CHI HAI MƯƠI

Nên quỳ gối phải sát đất, chân trái co đầu gối dẫm đạp đất, làm như thế muốn đứng dậy chồm về phía trước, ngửa mặt trợn mắt, ngó nghiêng về bên trái. Tay phải: nên đem cánh tay, bàn tay, ngón tay theo bên phải hướng về phía sau, nghiêng cánh tay duỗi nghiêng, gấp rút gồng cánh tay như thế muốn hướng xuống đất, bung năm ngón cố gắng tách mở,  lòng bàn tay tựa như che, tựa như nghiêng. Tiếp theo đem cánh tay trái theo bên trái hướng về phía sau, gấp rút nâng cánh tay lên, cố gắng co cánh tay, bàn tay hướng lên trên, tự bung năm ngón duỗi thẳng, cố gắng tách mở, hướng lòng bàn tay về phía trước.

Khi kết Ấn này thời phát ra tiếng giận dữ lớn, xưng hai chữ Hổ-Hồng (HŪṂ) 21 tiếng, tùy theo nơi có chướng tội thảy đều phá diệt. Ma Vương với quân tướng Ma trong Dục Giới (Kāma-dhātu) thảy đều bị đập nát

Xưa kia, khi Ta mới đến sông Di Liên Thiền (Nairañjanā) tắm gội thân xong, hướng đến bên dưới cây Bồ Đề (Bodhi-vṛkṣa), ngồi ở tòa Kim Cang (Vajrāsana). Lúc đó có vô lượng trăm ngàn cu chi chúng Ma đều cầm giữ mọi loại tướng giận dữ uế ác đến quấy nhiễu Ta. Thời Nan Thắng Phấn Nộ đột nhiên ở trước mặt Ta, từ dưới đất nhảy vọt lên, với dạng tướng người nữ, giận dữ kết Ấn này đập nát các chúng Ma, một thời mọi loại tướng đáng sợ bị diệt tan, không thể gây phiền não được. Ngay trong đêm này lúc sắp rạng sáng thì Ta liền chứng thông Vô Thượng Chánh Trí, quán thấy Thế Gian hết thảy Sa Môn, Bà La Môn không có ai chứng được Trí này.

Tồi Ma Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, hổ lỗ, hổ lỗ, chiến noa lý, ma đăng nghê, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ HURU  HURU,  CAṆḌALI  MATAṄGI  SVĀHĀ

Này Kim Cang Mật Tích! Nan Thắng Phấn Nộ Vương Chú này là điều mà Ta đã nói. Nếu người trì Chú gặp nơi có Quỷ Thần đại ác đáng sợ, mà muốn Hộ Thân, kết Giới, ủng hộ, tạo tu Pháp thì nên siêng năng tinh tấn trì kết Ấn này, tụng Chú này, hướng tu Pháp này, tức không có chướng não, mau chóng thành tựu

 

NHƯ LAI SÓC (cây giáo) ẤN CHÚ-CHI HAI MƯƠI MỐT

Ngay thẳng thân, ngồi Kiết Già, tay trái: đem cánh tay, bàn tay ngửa lòng bàn tay, co ngang duỗi để dưới rốn, bốn ngón tay ấy tưởng dính nhau duỗi thẳng, hơi co ngón cái duỗi thẳng đầu ngón nắm cạnh gốc ngón trỏ. Tiếp theo, tay phải: đem ngón cái và ngón trỏ cùng vịn đầu nhau, tưởng ngón giữa, ngón vô danh, ngón út dính nhau kèm duỗi chút ít tựa như co lại. Ngón cái, ngón trỏ cùng với ngón út của cùng trụ đầu ngón.

Một Pháp Ấn này, người Trí thường xoay vần trì kết, thời ở đời này, nơi sẽ thọ sanh, vĩnh viễn không lui sụt sức Tín Tấn Tuệ,  Như Lai Hạnh Lực, được chư Như Lai gia thêm hộ niệm.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, nhĩ nhạ duệ, ma ha thước để, một đà lý, hổ-hồng phán tra, nhĩ nhạ dĩ nễ,  phán tra, mang già lê phán tra, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ VIJAYE  MAHĀ-SATĪ,  DURDHARE  HŪṂ,  VIJAYIN  PHAṬ  MAṂGALE  PHAṬ   SVĀHĀ

Một Pháp Chú này, mỗi ngày ba thời tụng 21 biến, thì ở ba cõi mau được không có chướng ngại, thắng thành tựu.

 

NHƯ LAI TỀ (cái rốn) ẤN CHÚ-CHI HAI MƯƠI HAI

Dựa theo Như Lai Sóc Ấn, chỉ sửa ngón cái, ngón trỏ của tay phải sao cho đầu ngón cách lìa đầu ngón út của tay trái khoảng một hạt lúa.

Một Pháp Ấn này cũng gọi là Chư Phật Đại Lực Hùng Ấn. Nếu người Trí thường hay nhớ trì,  xoay vần kết Ấn này kèm tụng Chú này, liền được tiêu trừ bệnh sốt rét, một ngày, hai ngày phát bệnh một lần.., bệnh bại liệt, bệnh đau bụng, buốt đầu với các nhóm bệnh. Lại được  hết thảy tai chướng tự nhiên diệt hết, sẽ được sống lâu, Phước mạng an ổn giàu có sung sướng.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, chỉ trí, chỉ trí, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ KIṬI  KIṬI  SVĀHĀ

Một Pháp Chú này hay hiện thần thông biến hóa chẳng thể nghĩ bàn của mọi thứ loại hình sắc của Như Lai, dụ dẫn hữu tình.

 

NHƯ LAI GIÁP (áo giáp) ẤN CHÚ-CHI HAI MƯƠI BA

Nên dùng tay phải: đặt ngón cái nằm ngang, co trong lòng bàn tay. Đem ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út gấp rút nắm ngón cái, làm thành quyền.

Một Pháp Ấn này gọi là Chư Nhất Nhiết Đảnh Vương Tâm Ấn. Nếu người Trí thường dùng Ấn ấn vào đảnh đầu, cổ, bắp vai trái phải với ấn trên trái tim, tức được oai lực lớn.

Người trì Chú siêng năng tinh tấn tu trì nơi Pháp. Nếu không có Ấn này tức không có trang sức, như người trần truồng, như đất nước không có vua, như nhà không người, như ăn không có muối, như ao khô cạn, như đất không có cây, rừng hoa quả; như Ngoại Đạo Bà La Môn thờ lửa không có Pháp có thể nương dựa, như vua ngồi xe không có người điều khiển. Người Trí như vậy, tuy lại siêng năng tinh tấn, nếu không có Giáp Ấn tức bị Ma quấy nhiễu, không có chỗ thành hiệu (hiệu nghiệm).

Ấn Chú Là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, bộ, nhập-phạ la, hổ-hồng”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ BHUḤ  JVALA  HŪṂ

Một Pháp Chú này gọi là Như Lai Kim Cang Cú Tam Ma Địa thường dùng Hộ Thận. Như vua mặc áo giáo còn thêm khí trượng tức chẳng sợ hãi binh chúng của giặc ác. Như người Trí này cũng lại như vậy, mỗi ngày ba thời, lượng sức lượng Pháp… như Pháp siêng năng tu Giáp Ấn này tức mau thành tựu, không có chỗ sợ hãi.

 

NHƯ LAI PHÁT KẾ (búi tóc) ẤN_ CHI HAI MƯƠI BỐN

Dựa theo Giáp Ấn lúc trước, chỉ sửa duỗi ngón giữa dựng thẳng. Đem Ấn an trên đảnh đầu khiến dựng thẳng đứng.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. A khuất-hô”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ Ā-KṚ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Phát Tam Ma Địa Môn có sức hay làm thành hết thảy sự nghiệp.

NHƯ LAI NHĨ (lỗ tai) ẤN CHÚ_ CHI HAI MƯƠI LĂM

Dựa theo Giáp Ấn lúc trước, chỉ sửa duỗi ngón trỏ dựng thẳng. Đem Ấn để thẳng đứng an ở lỗ tai, cùng ngang bằng với vành tai.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Hổ-ca”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ HŪK

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Nhĩ Tam Ma Địa Môn. Thường kết Ấn chú vào lỗ tai thì mau được tồi diệt hết thảy bệnh vễ lỗ tai, chứng Thiên Nhĩ Thông

 

NHƯ LAI NHA (răng nanh) ẤN CHÚ_ CHI HAI MƯƠI SÁU

Trước tiên, dùng tay trái: đem ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út nắm gấp lại thành quyền, không cho lòi móng ra. Lại đem ngón cái duỗi thẳng đè lên trên bên cạnh ngón trỏ. Vạch thứ nhất trên mặt ngón cái ấy cùng ngang bằng với lưng bên ngoài ngón trỏ.  Đem Ấn để bên cạnh cằm có răng nanh bên trái. Bên phải cũng như vậy.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, đát tha già đa, năng sắt nhứ-lễ, hồ-hồng phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ TATHĀGATA-DAṂṢṬRĪ  HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Nha Tam Ma Địa Môn, có oai lực lớn.Tụng Chú này, kết Ấn ấn vào răng nanh thời ở đời sau được răng với răng nanh của Đức Phật.

 

NHƯ LAI THỌ KÝ ẤN CHÚ_CHI HAI MƯƠI BẢY

Đem cánh tay phải để ngang ngực, duỗi cánh tay ngang bằng. Ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út nắm lại thành quyền. Dựng co ngón cái sao cho đầu ngón cách cạnh ngón trỏ khoảng hai phân (1/15 dm)

Một Pháp Ấn này là điều mà hết thảy Như Lai quá khứ, hết thảy Như Lai vị lai, hết thảy Như Lai hiện tại đều dùng Ấn này để Thọ Ký riêng. Thế nên người Trí thường kết Ấn này ban cho các hữu tình thọ nhận Bồ Đề Ký.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, hổ-hồng, đặc phạm”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ _ HŪṂ  TVAṂ 

Một Ấn Chú này hay thành hết thảy sự nghiệp của Như Lai. Do sức của Ấn Chú cho nên đời đời thường được Niệm Lực, Tấn Lực, Lực của Giới Định, Phước Thắng Uẩn Lực chẳng bị hết thảy các Quỷ Thần ác gây nhiễu não.

 

NHƯ LAI BÁC (bắp tay) ẤN CHÚ_ CHI HAI MƯƠI TÁM

Dựa theo Giáp Ấn lúc trước, chỉ sửa cánh tay, duỗi thẳng hướng lên trên.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Bạn nhạ, a tứ, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ BHAÑJA  ĀHI  PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Bác Tam Ma Địa Môn có đủ đại thần lực, dõng mãnh thù đặc, thành mọi Pháp.

 

NHƯ LAI NÃI (cái vú) ẤN CHÚ_ CHI HAI MƯƠI CHÍN

Dựa theo Giáp Ấn lúc trước, chỉ sửa co cánh tay, dùng quyền ấn trên mặt, ấn ngay trên trái tim.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Xuy già ca lệ phác”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ BHOGA  GṚHAḤ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Nãi Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI TRÀNG (cây phướng) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI

Trước tiên, dùng tay phải: đem ngón cái tay nằm ngang đè trên móng ngón giữa, ngón vô danh, ngón út, duỗi thẳng ngón trỏ thẳng, tách dựng đè thẳng trên cánh tay.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Cát nhứ”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ TUṢṬA

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Tràng Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI NGỌA CỤ (giường nằm) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI MỐT

Dựa theo Tràng Ấn lúc trước, lật nghiêng tay Ấn, để ngón trỏ dưới ngực, chỉ.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. A cốt-lục”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ Ā-KṚ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Ngọa Cụ Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI THỪA (cái xe) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI HAI

Dựa theo Tràng Ấn lúc trước, sửa co cánh tay, bàn tay để trước trái tim, nghiêng cánh tay duỗi ngang bằng.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Hổ-hồng, ca, phù-phạm, úm”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ HŪṂ  GAḤ  BRŪṂ  OṂ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Thừa Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI ĐẦU (cái đầu) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI BA

Dựa theo Tràng Ấn lúc trước, chỉ sửa đem tay Ấn vịn trên đảnh đầu.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, mộ thúc đà ninh, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ MŪRDHANE  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Đầu Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI LẶC (xương sườn) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI BỐN

Dùng tay phải: co đầu ngón vô danh, ngón út trụ trên mặt ngón cái; duỗi thẳng ngón trỏ, ngón giữa kèm dính nhau, duỗi thẳng

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, hổ-hồng, khiết”

 NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ HŪṂ  GAḤ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Lặc Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI KIẾN (nhìn thấy)  ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI LĂM

Dùng tay phải: co đầu ngón giữa cùng dựa đầu ngón cái. Kèm dựng ngón trỏ, ngón vô danh,  ngón út, cùng kèm nhau dựng thẳng lên trên

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, bả-la tất địa, ca lý, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ PRASIDDHI  KARE  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Kiến Chư Pháp Tánh Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI QUANG DIỆM (lửa sáng) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI SÁU

Dựa theo Kiến Ấn lúc trước, chỉ sửa ngón trỏ, ngón vô danh, ngón út hướng về lòng bàn tay bung mở, hơi co như mặt trăng mới mọc.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, nhập phạ lý nê, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ JVALIṆI  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Quang Hiển Chư Pháp.  

 

NHƯ LAI QUANG CHIẾU ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI BẢY

Dùng tay phải: duỗi dựng ngón cái nắm cạnh ngón trỏ, dựng thẳng ngón trỏ. Duỗi ngón giữa, ngón út đều hướng về lòng bàn tay, co như mặt trăng mới mọc. Lại hướng ngón vô danh về lòng bàn tay, co như hình móc câu.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, hồ-hồng, ma ma, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ _ HŪṂ  MAṂ  MAṂ, PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Quang Chiếu Chư Tam Ma Địa Môn. Viên mãn hiện.

 

NHƯ LAI THẦN (cái môi) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI TÁM

Dựa theo Quang Chiếu Ấn lúc trước, chỉ sửa ngón giữa hơi duỗi cứng, cách khoảng một hạt lúa

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. A a, phạ phạ, hám”

 NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ A  A, VA  VA, MAṂ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Thần Tam Ma Địa Môn. Người trì sẽ diệt được các tội.

 

NHƯ LAI THIỆT (cái lưỡi) ẤN CHÚ_ CHI BA MƯƠI CHÍN

Dùng tay phải: đem ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út  cùng nắm nhau để ngang trái tim, ngửa lòng bàn tay duỗi ngang bằng, đặt ngón cái nằm  ngang trong lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

(Quy mạng đồng với bên trên)

“Úm, na la nễ, phạm nhạ, hổ-hồng phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ DALANE  BHAÑJA  HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Thiệt Tam Ma Địa Môn. Người trì sẽ được viên mãn Phước của tướng cái lưỡi của Như Lai.

 

NHƯ LAI TAM MA ĐỊA  ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI

Dùng tay trái: năm ngón cùng kèm nhau để dưới rốn cách mặt đất khoảng hai hạt lúa, nghiêng ngang, ngửa lòng bàn tay duỗi bằng nhau. Tiếp theo dùng tay phải: bốn ngón cùng kèm nhau cũng nghiêng ngang, ngửa lòng bàn tay duỗi bằng nhau, đem lưng bàn tay để lên lòng bàn tay trái. Co ngón cái phải nằm ngang trong lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

(Quy mạng đồng với bên trên)

“Úm, a để xả gia, vĩ cật-la mê, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ _ ADHĪŚAYA  VIKRAME  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Tề Tam Ma Địa.  

 

NHƯ LAI KIM CANG QUANG DIỆM  ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI MỐT

Dựa theo Tam Ma Địa lúc trước, chỉ sửa để trên trái tim.

Ấn Chú là:

(Quy mạng đồng với bên trên)

“Hổ-hồng, nhập phạ la, bạt nhật la, khẩn trất lịch trất lịch”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ _ JVALA-VAJRA  PUṆḌRĪ  DṚṂH

Này Mật Tích Chủ! Kim Cang Quang Diệm Ấn Chú này cũng gọi là Quá Khứ Vị Lai Hiện Tại Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Quang Diệm Tâm Tam Ma Địa Đại Minh Chú Vương. Hết thảy hàng Chứng Địa Đại Bồ Tát với các Trời, Rồng, tám Bộ Quỷ Thần, bậc có Đại Oai Đức đều không thể trái vượt, huống chi là Si Mỵ, Quỷ Thần thấp kém khác.

 

NHƯ LAI TIỂU PHÚC (cái bụng nhỏ) ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI HAI

Dùng tay phải để dưới rốn một Thốn (1/3 dm), duỗi nằm ngang ngửa lòng bàn tay, năm ngón tay cùng kèm nhau. Tiếp theo duỗi tay trái, năm ngón tay cùng kèm nhau, đem lưng bàn tay đè trên lòng bàn tay phải. Hai bàn tay ấy dựa bên cái bụng.

Ấn Chú là:

(Quy mạng đồng với bên trên)

“Úm, đát nhứ, đát nhứ, tắc tắc phổ nhứ, phổ nhứ, mật nại la bả ninh, bả la mạt na ninh, sân na ninh, tần na ninh, hổ-hồng, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ DUṢṬA  DUṢṬA, SPHOṬA  SPHOṬA, VIDARA-PĀṆI  PRAMARDANA, CCHINDANA   BHINDANA, HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này có công năng dựa theo lúc trước.

 

NHƯ LAI TÍCH (xương sống) ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI BA

Dùng tay phải: đem  ngón cái đè nhóm móng của ngón trỏ, ngón vô danh, ngón út không để lòi móng ra, tiếp theo để ngón giữa nằm ngang đè trên ngón cái.

Ấn Chú là:

(Quy mạng như bên trên)

“Ải ca lý na, ca lý, kiền đà, chất đốt lô na la, ma nê nại la, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ EKA-LENA, KARI GANDHA  CITRA-UDĀRA, MAṆI-DHĀRA  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này có công năng dựa theo lúc trước.

 

NHƯ LAI BỄ (bắp đùi) ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI BỐN

Dựa theo Tích Ấn lúc trước, lại sửa đè đầu móng ngón giữa, duỗi ló đầu ngón trỏ đè trên móng ngón cái.

Ấn Chú là:

(Quy mạng như bên trên)

“Úm, đô tha giả, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ DŪṢAYA  SVĀHĀ

Một Pháp Ấn này có công năng dựa theo lúc trước.

NHƯ LAI ĐẠI TỪ  ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI LĂM

Dựa theo Tích Ấn lúc trước. Lại sửa: đè đầu móng ngón trỏ, lòi đầu ngón vô danh, đè trên móng ngón cái.

Ta vì hết thảy hữu tình cấu trọng nói Đại Từ Ấn khiến sanh Tâm Từ. Xưa kia, Ta ngồi dưới cây Bồ Đề dùng Tâm Đại Từ trì kết Ấn này thì được các quân Ma tự bỏ chạy. Người kết Ấn này nên dùng hết thảy Phật Lực, Pháp Lực, A La Hán Lực, Từ Niệm Tâm Lực trì kết Ấn này, liền được hết thảy tội dơ cực nặng mau đều tiêu diệt.

Chú là:

(Quy mạng y theo bên trên)

“Đát địa tha, quân luật nghê ninh, áng củ lý, ma lý giả, bát-lạt noa xả phạ lý,  lạc khất sái, lạc khất sái, ma-hồng, câu ma lý, thất-lý gia, ma lý nễ, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ

TADYATHĀ: KURUṂGINI-AṄKULE-MĀLYA  PRĀṆA-ŚĀVARĪ, RAKṢA  RAKṢA  MĀṂ, KUMĀRI-ŚRĪYA  MĀLINĪ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Đại Từ Lực Chú. Nếu có người trì Chú thường khởi Tâm Từ trì Chú này, tức sẽ chẳng bị hết thảy Tỳ Na Dạ Ca, cọp, sói, oán tặc, đấu tranh, tai nạn, hoạnh can (?), nhiễu não. Do sức của Ấn Chú mau chứng Từ Tâm Tam Ma Địa.

 

NHƯ LAI VÔ CẤU ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI SÁU

Dựa  theo Từ  Ấn lúc trước, lại sửa đầu ngón vô danh đè ở dưới ngón cái, tiếp theo đem đầu ngón út đè trên móng ngón cái.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Hổ-hồng (3) một lạt đạt-nê, hổ lỗ, hổ-hồng, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ HŪṂ_ BALI-DĀNE  HURU  HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ.

Một Ấn Chú này. Người Trí tụng chú, làm thức ăn uống, lại ăn uống vào thì hay diệt mọi tội. Lại thường chẳng bị Tỳ Na Dạ Ca trong thức ăn gây não hại

 

NHƯ LAI CAM LỒ ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI BẢY

Lại dùng tay phải: đặt ngón cái nằm ngang đè nhóm móng của ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh, ngón út.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, ấn nghê ninh, bộ đá ninh, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ AṄGAṆA  PŪTANA  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này hay khiến cho người trì chứng Cam Lồ Pháp Đại Giải Thoát Môn

 

NHƯ LAI ĐẠI SƯ TỬ HỐNG ẤN CHÚ_ CHI BỐN MƯƠI TÁM

Trước tiên, chắp tay để ngang trái tim, đem hai ngón cái đều co vào trong lòng bàn tay. Lại đều đem hai ngón trỏ, hai ngón giữa, hai ngón vô danh, hai ngón út co nắm ngón cái làm quyền sao cho lưng móng cùng dính với nhau, tám đầu ngón tay ấy không chạm dính lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, kiếp bỉ la, nhiệt trí la, hổ, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ KAPILA  JAṬILA  HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Đại Sư Tử Hống thành tựu Kim Cang Đảnh Luân Vương Giáo, hay rộng bày các việc vượt qua ý nghĩ chưa từng có chẳng thể nghĩ bàn. 

 

NHƯ LAI TƯỚNG TỰ (Chữ của tướng Như Lai) ẤN CHÚ_CHI BỐN MƯƠI CHÍN

Lại dùng hai tay đều duỗi tám ngón mở tách ra, bên phải đè bên trái, cài chéo nhau cùng đè lóng giữa, tám đầu ngón tay duỗi dựng thẳng không chạm khoảng rẽ. Hai ngón cái ấy cũng đều tách nghiêng duỗi dựng sao cho đầu ngón tay cách nhau nửa thốn (1/6 dm). Đem Ấn để ngang ngực dựa khoảng ba thốn (1 dm).

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Thị”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ JI

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Đại Trượng Phu Tướng Tam Ma Địa Môn.

 

NHƯ LAI LẠC CẬT SẮT NHĨ CÁT TƯỜNG ẤN_ CHI NĂM MƯƠI

Dùng hai tay: hợp dính cổ tay, mười ngón tay ấy đều tách mở, dựng thẳng, hơi duỗi co sao cho đầu ngón đều cách nhau khoảng một thốn rưỡi (1/2 dm) như hoa sen nở.

Ấn Chú là:

“Na mạc tam mạn đa bột đà nam. Úm, tố một-la ca-nhĩ, la cật sáp nhĩ, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ SUBRAHME  LAKṢMI   SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Cát Tường Ấn Tam Ma Địa hay khiến cho người trì được Đại Tài Bảo, mọi người kính khen.

 

NHƯ LAI BÁT NHÃ BA LA MẬT ẤN CHÚ_ CHI NĂM MƯƠI MỐT

Đem hai tay chắp lại sao cho bên trong lòng bàn tay trống rỗng, như đóa hoa sen chưa nở.

Ấn Chú là:

(Quy mạng như bên trên)

“Úm, thú lỗ để, tắc mật-lật để, nhĩ nhạ duệ, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ ŚRŪTI  SMṚTI  VIJAYE  SVĀHĀ

Này Kim Cang Mật Tích Chủ! Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Bát Nhã Ba La Mật Ấn Tam Ma Địa Môn. Hết thảy Như Lai, các Đại Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn trong ba đời đều từ Bát Nhã Ba La Mật Ấn Chú Tam Ma Địa Môn này sanh ra, thành chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Địa. Nên biết Ấn Chú này có oai đức lớn, gọi là mẹ của hết thảy Như Lai, các Đại Bồ Tát, tất cả Kim Cang, Độc Giác, Thanh Văn trong ba đời”

 

NHƯ LAI ĐẠI BI  ẤN CHÚ_ CHI NĂM MƯƠI HAI

Dựa theo Bát Nhã Ấn lúc trước, chỉ sửa co hai ngón cái vào trong lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

(Quy mạnh như bên trên)

“Úm, đát lăng nghê ninh, hổ-hồng, phán, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ TĀRĀṂ-GUṆE  HŪṂ  PHAṬ  SVĀHĀ

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Đại Bi Ấn Tam Ma Địa Môn.

 

NHƯ LAI TẤT (đầu gối) ẤN CHÚ_ CHI NĂM MƯƠI BA

Chắp hai tay lại, đều đem ngón út, bên phải đè bên trái, co vào trong lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

(Quy mạng như bên trên)

“Úm, na bạo cát-ninh, bả la nễ bả đa dã, sa ha”

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Tất Ấn Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI CƯỚC (bàn chân) KHÕA  (mắt cá chân) ẤN CHÚ_ CHI NĂM MƯƠI BỐN

Chắp hai tay lại, đều đem ngón vô danh, bên phải đè bên trái, co vào trong lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

(Quy mạng như bên trên)

“A đa lệ, đa lệ,  ốt đa lệ, bạt tá la, mộ khất-sử nê, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ A_ TĀRE  TĀRE  TUTTĀRE, VAJRA  MOKṢAṆE  SVĀHĀ.

Một Ấn Chú này gọi là Như Lai Cước Khõa Tam Ma Địa Môn

 

NHƯ LAI CƯỚC (bàn chân) ẤN CHÚ_ CHI NĂM MƯƠI LĂM

Chắp hai tay lại, đều đem ngón giữa, bên phải đè bên trái, co vào trong lòng bàn tay.

Ấn Chú là:

(Quy mạng như bên trên)

“Úm, bạt tá la, thương củ la, bộ sử đê, na la, nhập-phạ la, hổ-hồng, sa ha”

NAMAḤ  SAMANTA-BUDDHĀNĀṂ_ OṂ_ VAJRA  SAṂKULA  BHŪṢITE  DHARA  JVALA  HŪṂ  SVĀHĀ.

 

_Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Kim Cang Mật Tích rằng: “Nhóm Ấn Chú này được sanh ra từ tướng Đại Trượng Phu trang nghiêm thân phần chi tiết của hết thảy Như Lai.

Này ông, Thiện Nam Tử! Như Lai lại có vô lượng cu chi trăm ngàn Ấn, mỗi một Ấn này đều có vô lượng nhóm Ấn Bộc Tòng (tôi tớ). Đời sau này, hữu tình có ít Phước  thành Chú Vương này. Nay Ta chỉ vì đời sau này, khi người thành Chú này thì được lợi ích lớn, nên lược nói Chú này.

Này Mật Tích! Ông nên tán tụng, y theo Pháp thọ trì như Ấn Chú này, vì hết thảy hữu tình đời đương lai mà phân biệt, giải nói sức gom chứa công của Đảnh Vương Ấn Chú. Nếu có thiên nam tử, thiện nữ nhân ham thích thành Đại Đảnh Vương này, nên thường thanh khiết luôn tụng Chú này, luôn kết Ấn này thì người này liền được vô lượng trăm ngàn Công Đức đáng khen ngợi, tiêu diệt hết thảy hắc ám cấu chướng, được chư  Như Lai, Đại Bồ Tát… hoan hỉ thương nhớ. Ở nơi sanh ra được Túc Mạng Trí, Thân Tâm Tướng Trí đều được viên mãn, không có bệnh chết yểu, hay làm ánh sáng lớn ban cho hữu tình, hay ở nơi cõi ác (ác giới)  độ thoát hữu tình, được Đại Biện Trí, đủ đại tinh tấn, oai đức quang minh, quyến thuộc đầy đủ, hiểu rõ hết thảy thiện xảo của Thế Gian, cũng hay trị cứu bệnh si mê phiền nhiễu của hết thảy hữu tình, thường được mười phương hết thảy Như Lai gia bị hộ niệm, hộ Thân của Bồ Tát.

Nếu có người, ngày ngày thường trì nhóm Ấn Chú này, tự xưng tên của mình, tức sẽ chẳng bị hết thảy Tỳ Na Dạ Ca bức bách quấy nhiễu, hết thảy tội chướng tự nhiên diệt hết. Ở trong đời này thân thành Đại Đảnh Luân Vương này, tức đời đương lai, mau được chứng Phật Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề Tam Ma Địa.

 

Này Kim Cang Mật Tích Nhóm Ấn Chú này đều là Ấn Chú chân thật của hết thảy Như Lai Chủng Tộc. Nay Ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai vì muốn khiến cho thành tựu Đảnh Luân Vương mà nói Ấn Chú này.

 

KINH NĂM PHẬT ĐẢNH TAM MUỘI ĐÀ LA NI

_QUYỂN THỨ BA (Hết)_

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn