Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 9: Sự vượt thoát ra khỏi thế giới

11/03/201215:18(Xem: 3346)
Chương 9: Sự vượt thoát ra khỏi thế giới
BUDDHADASA
QUYỂN SÁCH CHO NHÂN LOẠI

Tóm lược Đạo Pháp của Đức Phật
Hoang Phongchuyển ngữ
Nhà Xuất Bản Phương Đông 2012

Chương IX
SỰ VƯỢT THOÁT RA KHỎI THẾ GIỚI


Phép thiền định vipassanâlà một phép luyện tập tâm thức nhằm mục đích nâng tâm thức lên một cấp bậc caohơn, hầu giúp nó vượt thoát khỏi mọi khổ đau. Tâm thức nhờ vào sự hiểu biếtminh bạch rằng không có gì đáng để thèm muốn, sẽ tự loại bỏ được mọi khổ đau;nhờ đó ta cũng sẽ không còn bị các vật thể của thế giới lôi cuốn vào những sựbám víu và ghét bỏ khác. Khi tâm thức đã nắm vững được sự hiểu biết siêu việt ấythì sẽ vượt lên được các điều kiện trói buộc của con người và đạt được một cấpbậc mà người ta gọi là "lãnh vực siêu-thế-tục" (lokuttara-bhûmi).

Muốnhiểu được lãnh vực siêu-thế-tục là gì thì trước hết phải hiểu được những gì tráingược lại với nó, tức đấy là lãnh vực thế-tục (lokiya-bhûmi). Lãnh vực thế-tụcbao gồm tất cả các cấp bậc mà nơi đó tâm thức còn có thể bị chi phối bởi các thứvật thể của thế giới (ngũ uẩn và mọi hiện tượng trong thế giannày). Nói một cáchngắn gọn thì thế giới gồm có ba cấp bậc là: cấp bậc của giác cảm (kâmâvacara-bhûmi) tức là cấp bậc mà tâmthức tìm thấy sự thỏa mãn qua các thứ thích thú đủ mọi loại; cấp bậc hình tướng(rûpavacara-bhûmi) là cấp bậc mà tâmthức chán ghét các đối tượng giác cảm, tuy nhiên vẫn còn tiếp tục tìm thấy sựthỏa mãn qua các thể dạng khác nhau của sự tập trung hướng vào các đối tượng hìnhtướng; và sau cùng là cấp bậc vô-hình-tướng (arûpavacara-bhûmi), là cấp bậc cao nhất của tâm thức khi nó tìm thấysự thỏa mãn với những gì tuyệt hảo và sự an bình mang lại từ sự tập trung vàocác đối tượng khác hơn là hình tướng (trên đây là cách định nghĩa của đại sư Buddhadasavề "tam giới" : dục-giới, sắc-giới, và vô-sắc-giới, và chúng ta thấyrằng đại sư Buddhadasa quan niệm đấy là ba thể dạng bên trong tâm thức và khôngphải là ba cõi thuộc bên ngoài con người như người ta thường hiểu). Hầu hết tất cả chúng sinh đều thuộc vào ba cấp bậctâm thần ấy. Dù đấy là con người, thiên nhân, các vị trời, thú vật hay chúngsinh nơi địa ngục, thì tất cả đều gồm chung trong ba cấp bậc thế tục ấy. Tâm thứccủa một chúng sinh có thể luân phiên trú ngụ hoặc trong cấp bậc này hoặc trongmột cấp bậc khác trong số ba cấp bậc trên đây; đấy không phải là một chuyện khôngthể xảy ra được, mà thật ra đấy là những gì thật tự nhiên (thí dụ ta đang bị hận thù và giận dữ xâm chiếm thìtâm thức ta thuộc vào cấp bậc dục giới của giác cảm đơn thuần - chẳng hạn như hàngthú vật - , nếu ta phát lộ được lòng nhân từ và tìm thấy sự thanh thản và anbình thì tâm thức ta lại chuyển sang cấp bậc của cõi hình tướng chẳng hạn - sắcgiới -, cũng nên hiểu thêm là thể dạng vô sắc giới thì khó hơn nữa). Thật vậy trên bình diện tổng quát, ta luôn có xu hướngrơi vào cấp bậc giác cảm thiếu sự tập trung một cách thật tự nhiên, bởi vì thôngthường tâm thức con người luôn bị tác động và ảnh hưởng bởi những thứ thích thúmang lại từ màu sắc, hình tướng, âm thanh, mùi, vị và sự đụng chạm thân xác.Tâm thức chỉ có thể thoát khỏi được những sự thu hút ấy trong một vài trường hợpthật hiếm hoi để cảm nhận được sự bình lặng và phúc hạnh phát sinh từ sự tậptrung vào các hình tướng hay các thể dạng vô-hình-tướng (các đối tượng vật chất hay phi-phật-chất)- tất cả tùy thuộc vào sức mạnh tập trung của tâm thức.

Vì thế,tâm thức của một cá thế bất cứ lúc nào cũng có thể rơi vào một trong ba cấp bậctập trung trên đây (vì thế càng chủ động - tức giữ vững đượctâm thức - thì ta sẽ càng ít bị chuyển đổi từ cấp bậc này sang cấp bậc khác, nếukhông thì tâm thức sẽ luân phiên chuyển đổi hết cấp bậc này sang cấp bậc khácnhư một chiếc chóng chóng).Tại Ấn Độ, vào thời kỳ của Đức Phật, cách tu tập giúp phát huy các cấp bậc tâmthức xảy ra thông thường hơn, bởi vì vào thời đó khắp nơi trong nước luôn cónhiều người ẩn cư trong rừng để mong cầu tìm được sự an bình và hạnh phúc tươngquan với các cấp bậc tập trung mà họ thực hiện được. Trái lại ngày nay tìm đượcnhững người như thế quả thật hết sức khó khăn, dù rằng trên thực tế thì bất cứmột con người bình dị nào cũng đều hàm chứa một khả năng giúp mình đạt được cáccấp bậc ấy. Thí dụ nếu một người trong thế gian này cảm nhận được niềm hân hoantối thượng của sự tập trung vào hình tướng thì "thế gian" đối với ngườiấy sẽ thu nhỏ dưới thể dạng đó (tức cõi sắc giới), bởi vì hắn không còn ý thức được bất cứ thứ gì kháchơn (thí dụ một con người - tức thuộc cõi dụcgiới - cảm nhận được niềm phúc hạnh bằng sức mạnh tập trung vào các đối tượnghình tướng - sắc - thì tâm thức sẽ chuyển vào cấp bậc cao hơn tức là cõi sắc giới). Trong những lúc ấy và đối với người ấy thì "thếgian" chỉ là như thế và sẽ tiếp tục giữ nguyên như thế cho đến lúc mà tìnhtrạng tâm thức của người ấy chuyển đổi khác đi (tức có thểvượt lên cõi vô-sắc-giới hoặc tụt xuống cõi dục-giới. Xin mạn phép nhắc lại đâylà một quan điểm rất duy lý và khoa học khá đặc thù của đại sư Buddhadhasa chorằng "luân hồi" là một sự "chuyển đổi" các thể dạng tâm thức,không cần phải có đức tin tôn giáo về sự tái sinh và các "cõi hiện hữu khácnhau" - tức tam giới - mới có thể giải thích được hiện tượng luân hồi).

Ngaycả trường hợp một người sống trong một cấp bậc thuộc vào một trong ba cấp bậctrên đây đạt được sự yên lặng và thanh thản giúp người ấy duy trì được sự bất độngtương tự như một khối đá hay một khúc cây, thế nhưng sự ham muốn và bám víu vàocái ngã vẫn còn luôn hiện hữu nơi người ấy (có nghĩalà người ấy chưa đạt được sự giải thoát thật sự). Ngoài ra bên trong con người ấy vẫn còn hàm chứa đủmọi thứ ham muốn, kể cả dưới những hình thức thật tinh tế - chẳng hạn như thể dạngthanh thản mà hắn đang có bỗng biến mất mang lại cho hắn sự thất vọng, và sự thấtvọng đó sẽ thúc đẩy hắn tìm kiếm một thể dạng thanh thản khác. Sự ham muốn muốnđược thay đổi ấy sẽ tạo ra nghiệp, và như thế có nghĩa là người ấy chưa vượtthoát khỏi thể dạng thế tục, tức là chưa đạt được lãnh vực siêu-thế-tục.

Tâmthức khi đã đạt được lãnh vực siêu-thế-tục sẽ vượt khỏi thế giới. Tâm thức đó sẽxem thể dạng thế-tục không hàm chứa một thực thể nào cả, không mang một cái ngãnào hay một thực chất nào cả (trống không), và tất nhiên là nó sẽ không còn màng đến thể dạng thế-tụcấy nữa. Các sinh linh sống trong lãnh vực siêu-thế-tục đó sẽ được phân chia thànhbốn cấp bậc khác nhau trên Con Đường và Quả mang lại từ Con Đường đó. Bốn cấp bậcấy là: 1) cấp bậc thuộc "Những Ai đã hội nhập vào được dòng chảy" (sotâpanna, còn gọi là "Dư lưu" tức là cấp bậc thánhnhân thấp nhất và sẽ còn tái sinh); 2) cấp bậc thuộc "Những Ai chỉ còn quay lại một lần cuốicùng" (sakadâgami - "Nhất lai", có nghĩa là còn quay lại thế giannày thêm một lần nữa);3) cấp bậc của "Những Ai không còn quay lại nữa" (anâgâmi - "Bấtlai"); 4) cấp bậc của những "Vị Viên Mãn hayA-la-hán". Lãnh vực thuộc bốn thể loại chúng sinh Cao Quý đó còn gọi là thánh nhân(aryans) được mệnh danh là "siêu-thế-tục". "Siêu-thế-tục"có nghĩa là thuộc vào "bên trên thế giới" và dùng để chỉ định một thể dạng tâm thức, không phảiđể chỉ định thân xác. Thân xác có thể thuộcvào bất cứ một nơi nào, chỉ cần là các điều kiện sinh sống đủ thích nghi (đủ để duy trì cho thân xác ấy, tức có nghĩa là mộtngười sống trong chùa, trong chốn đô hội hay trong một nơi hoang vắng đều có thểtrở thành một thánh nhân - aryan - trong lãnh vực siêu-thế-tục). Thuật ngữ"siêu-thế-tục" chỉ đơn giản dùng để chỉ định một tâm thức vượt lêntrên thế giới. Thế giới bên dưới - chẳng hạn như địa ngục tức chốn đọa đày, hoặclà những nơi mang đầy khổ đau, buồn phiền và nô lệ - thì đơn giản không phải làthế giới của các vị thánh nhân (aryan).

Cáctiêu chuẩn dùng để phân biệt bốn cấp bậc trong lãnh vực siêu-thế-tục được căn cứvào các thứ nọc độc tâm thần đang được loại bỏ. Đức Phật phân chia các thứ nọcđộc còn tồn lưu trong bốn cấp bậc này thành ra mười thể loại và gọi đấy là nhữngthứ gông cùm (samyojana). Mưới thứ gôngcùm ấy xiềng xích con người và tất cả chúng sinh vào lãnh vực thế-tục của thếgiới. Khi nào có thể khởi sự nới lỏng được các thứ gông cùm đó để tự giải thoátcho mình thì tâm thức cũng sẽ theo đó dần dần thoát ra khỏi cảnh giới của thế tục.Khi nào tự giải thoát hoàn toàn được cảnh giới đó thì ta cũng sẽ "vượt lêntrên thế giới" và thường trú trong lãnh vực siêu-thế-tục.

Ô nhiễmthứ nhất (gông cùm thứ nhất)trong số các thứ ô nhiễm tâm thần thật tinh tế đó là sự tin tưởng vào một cái ngã(sakkâya-ditthi): tức là ý nghĩ cho rằng thânxác và tâm thức này là một "cái tôi". Đấy là một sự sai lầm, một sựhiểu biết lệch lạc phát sinh từ sự bám víu vào ý nghĩ "tôi là thế này".Do đó những người bình dị thường không đủ sức ý thức được bản chất đích thật củathân xác và tâm thức là gì, nên họ không suy nghĩ gì cả và cứ cho rằng "mìnhlà như thế này". Đối với họ thì hết sức hiển nhiên là thân xác và tâm thứctạo ra một "cái tôi" hay chính là "tôi". Cái ý nghĩ phátsinh từ bản năng đó bám rễ quá sâu nên chẳng có ai tỏ ra nghi ngờ gì nữa. Thậtthế bản năng sinh tồn (hay tự bảo vệ lấy chính mình - instinct depréservation/ self preservation)là những gì giúp duy trì sự sống, tìm kiếm thức ăn và truyền giống. Thếnhưng những gì mà chúng ta gọi là "sự tin tưởng vào cái ngã" phải đượchiểu theo ý nghĩa thô thiển nhất của nó, tức là một thứ nguyên nhân đưa đến sự íchkỷ. Đấy chính là chiếc gông thứ nhất trong số tất cả các chiếc gông khác, do đóphải cởi bỏ được nó trước khi nghĩ đến việc tháo bỏ các chiếc gông khác.

Chiếcgông thứ hai là sự nghi ngờ(vicikicchâ), đấy là nguyên nhân mang lạisự do dự và thiếu quả quyết. Hệ trọng hơn hết là sự nghi ngờ đối với việc tu tậpgiúp đưa đến sự giải thoát khỏi khổ đau; sự nghi ngờ đó phát sinh từ sự thiếuhiểu biết về hiệu quả mang lại từ phép tu tập nói đến trên đây: đấy là cách tựhỏi là việc tu tập ấy có đúng là thích nghi với tôi hay không? Tôi có đủ khả năngđể thực hiện việc ấy hay không? Có phương pháp nào khác hơn giúp thực hiện đượcviệc ấy hay không? Phương pháp ấy có hiệu quả hay không? Có đúng là Đức Phật đãđạt được Giác Ngộ hay không? Có đúng Đức Phật đã loại bỏ được khổ đau cho mìnhhay không? Giáo huấn và phương pháp do Đức Phật đưa ra có thật sự loại trừ đượckhổ đau hay không? Những người tu hành trong Tăng Đoàn có thật sự đạt được sựgiải thoát khỏi khổ đau hay không?

Cội rễcủa nghi ngờ chính là vô minh. Nếu như ta có thể kể chuyện những gì xảy ra trênmặt đất cho một con cá sống dưới nước nghe thì nhất định là nó sẽ không tin gìcả, họa chăng có tin thì nó cũng chỉ tin được một tí gì đó mà thôi. Đối vớichúng ta đang bị chìm đắm trong một thế giới sắc dục thì chúng ta nào có khácgì với những con cá sống trong nước, vì thế nếu có ai nói với chúng ta về chuyệnvượt lên trên sắc dục và thế giới thì chúng ta cũng sẽ chẳng hiểu tí gì cả. Cứcho rằng chúng ta hiểu được một phần nhỏ nào đó đi nữa thì chúng ta lại đâm ranghi ngờ những thứ ấy. Cách suy nghĩ như thế thật hết sức tự nhiên. Thế nhưngkhi phải suy nghĩ hướng vào một cấp bậc cao hơn thì tất nhiên sẽ làm phát sinhra một tình huống khác: sự đối chọi giữa một cấp bậc suy nghĩ cao và một cấp bậcsuy nghĩ thấp hơn tất sẽ làm nảy sinh ra sự do dự và nghi ngờ (trong trường hợp ta đã quen suy nghĩ một cách bìnhthường, bỗng dưng nếu bắt buộc phải suy nghĩ cao hơn thì tất nhiên sẽ khó chota tránh khỏi sự hoang mang và do dự). Nếu năng lực của tâm thức còn kém thì cấp bậc thấp củatư duy sẽ thắng thế. Sự nghi ngờ và do dự liên quan đến cái tốt luôn hiện hữu mộtcách kinh niên và dai dẳng trong mỗi con người chúng ta từ lúc vừa sinh. Đối vớimột người không được hưởng một sự giáo dục đầy đủ thì đấy là một căn bệnh rấtthông thường. Chúng ta cần phải sử dụng phép nội quán để tìm hiểu xem sự do dựmang lại những hậu quả tiêu cực trầm trọng như thế nào, và cũng để thấy nó thườngxuyên xảy ra với các công việc và trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, thườngxuyên đến độ có thể khiến cho chúng ta nghi ngờ cả cái tốt, cả sự thật và biết đâukể cả sự giải thoát khỏi khổ đau.

Chiếcgông thứ ba là dị đoan(sîlabbataparâmâsa) hay là sự bám víu vàocác nghi thức và lễ lạc phát sinh từ sự thiếu hiểu biết về nguồn gốc phi lý củanhững thứ ấy. Nhất thiết đấy chỉ là một sự bám víu sai lầm vào những gì mà ngườita thường đem ra thực thi, liên quan đến các thứ giáo điều và nghi lễ. Hãy nêulên một thí dụ điển hình về sự dị đoan mà đôi khi còn có thể xảy ra cho cả nhữngngười Phật Giáo nữa, đấy là sự tin tưởng vào ma thuật và lễ bái. Chủ tâm tìm kiếmmột sức mạnh mang tính cách thần bí và tâm linh hay các thứ sức mạnh hộ trì kháclà một hành động hoàn toàn sai lầm và phi lý. Xin nêu lên một thí dụ khác liênquan đến việc thệ nguyện giữ giới - đấy thật ra là cách giúp phát huy một tháiđộ đạo đức nhằm loại trừ các thứ ô nhiễm làm cho tâm thức bị u mê - thế nhưng cóngười lại tin là việc ấy sẽ mang lại cho mình một sức mạnh kỳ diệu có thể tẩy xóađược các thứ ô nhiễm. Thật ra thì đấy chỉ là cách để họ bám chặt vào các đối tượng,chiếm giữ lấy chúng, và sau cùng thì sẽ gặt hái được những gì hoàn toàn tráingược lại với sự mong đợi của họ (giữ giới là cách giúp mình hành xử mộtcách đúng đắn, không phải là một phương tiện giúp mang lại một sức mạnh thiêngliêng). Hành động giữgiới tự nó là một sự hoàn hảo, thế nhưng nếu ta không đủ sức để hiểu và cứ bámvào nó một cách phi lý, xem nó như một thứ gì mầu nhiệm và thiêng liêng thì nósẽ trở thành một thứ dị đoan không hơn không kém. Cũng thế nếu ta nguyện giữ giớivới hy vọng được tái sinh dưới thể dạng thiên nhân chẳng hạn, thì nhất định đấychỉ là một hình thức bám víu vào các nghi thức và lễ lạc, đi ngược lại với giáolý nhà Phật. Những thứ tin tưởng đại loại như thế sẽ làm ô nhiễm cách hành xử đúngra rất là đạo đức trên tất cả mọi phương diện. Mục đích của giới luật Phật Giáolà loại bỏ những thứ ô nhiễm thô thiển trên thân xác (các hành động sai trái)và ngôn từ, hầu thiết đặt một nền móng giúp thực hiệnsự tập trung và quán thấy sâu xa - thế nhưng tuyệt nhiên không phải đấy là cáchgiúp tái sinh vào cõi thiên đường! Động cơ thúc đẩy hoàn toàn sai lầm đó chỉ làmô nhiễm và vấy bẩn cả giá trị đạo đức của chính mình dưới hình thức của sự bámvíu và sắc dục, và cả các khái niệm lầm lẫn khác. Nếu thực thi bố thí, giữ gìngiới luật đạo đức, hoặc thiền định mà còn mang các ý nghĩ lệch lạc đi ra ngoàimục tiêu đích đúng thật của những thứ ấy thì tất nhiên đấy chỉ là tình trạng đilạc hướng trên Con Đường mà Đức Phật đã chỉ dẫn cho chúng ta.

Phảiý thức được là sự tu tập Phật Giáo tự nó cũng có thể biến thành dị đoan nếu nókết hợp với những thứ hiểu biết lệch lạc và với sự ước mong đạt được một sức mạnhthần bí. Thật vậy những thứ lặt vặt như thế vẫn thường thu hút được phần đôngchúng ta, khiến cho chúng ta cũng cứ muốn thử xem ra sao, thí dụ như những bàihát mang tính cách nghi lễ, các hành động (có tính cáchbày vẽ và ngoạn mục)để được mọi người khen ngợi, và vô số các thứ khác nữa đại loại như thế... Nếunghi lễ được tổ chức bằng cách dâng cơm và bánh ngọt trước ảnh tượng của Đức Phậtvà nghĩ rằng "hương linh" của Đức Phật sẽ thụ hưởng những thứ ấy, thìchắc chắn một trăm phần trăm là tác động mang lại sẽ trái ngược hẳn với những gìmà mình mong đợi (thay vì phải phát huy trí tuệ thì đấy chỉlà cách làm gia tăng thêm tình trạng vô minh, mê tín và dị đoan của mình). Thái độ đó đi ngược lại với mục tiêu đích thật, thếnhưng lại rất phổ biến trong các giới Phật Giáo, thật quả đấy là những gì hết sứclà phi lý. Chính vì thế mà sự tu tập nguyên thủy thật đẹp và đúng đắn đã bị mộtsố người vì vô minh đã làm cho nó bị ô nhiễm. Tóm lại thì đấy là những gì gọi làdị đoan.

Nhưchúng ta đã thấy, ô nhiễm bắt nguồn từ vô minh và từ sự hiểu biết sai lầm về mọisự vật. Hầu hết chúng ta đều chất chứa những thứ tin tưởng mang tính cách cánhân về các thứ sức mạnh thần bí, thật ra thì chỉ vì chúng ta không may học hỏiđược những gì không đúng và bị ảnh hưởng bởi một môi trường sai lầm. Có lẽtrong giai đoạn này cũng không nên khai triển chi tiết hơn về vấn đề này vì cóthể là vô ích. Thật vậy, những chuyện như thế dù có thể làm cho chúng ta khó chịu,thế nhưng mỗi người trong chúng ta cũng nên tự xét lấy mình về vấn đề này bằngcách nhìn vào những gì được trình bày trên đây.

Khi mộtngười nào đó đã loại bỏ được ba thứ chướng ngại - tin vào một "cái tôi",sự nghi ngờ và dị đoan - thì có thể bảo rằng người ấy đã đạt được cấp bậc thứnhất trong lãnh vực siêu-thế-tục, tức có nghĩa là người ấy đã trở thành"Người đang bước vào dòng chảy". Nếu muốn từ bỏ hoàn toàn ba thứ gôngcùm hay "nọc độc tâm thần" trên đây thì thật ra cũng không phải khókhăn gì cho lắm, vì đấy chỉ là những thuộc tính thô sơ nhất phát sinh từ các thờiđại bán khai mà con người lúc đó chưa được tiến hóa lắm. Bất cứ ai cố gắng tìmhiểu và thăng tiến một cách đúng đắn đều hiểu rằng phải loại bỏ ba thứ chướngngại đó để giúp mình trở thành một vị thánh nhân (aryan); ngược lại, nếu đấy là một người còn vướng mắc trong vô minhvà ảo giác, và nếu sử dụng một thuật ngữ thật chính xác để chỉ định người ấy thìcó thể bảo người ấy là một người thuộc vàothế giới(pythujjana), tức là mộtngười mà con mắt nội tâm bị một tấm dải bịt mắt quấn thật chặt.

Khingười nào tẩy xóa được các thứ ô nhiễm trên đây thì tâm thức của người ấy sẽ cởibỏ được các gông cùm của thế gian. Cá thể ấy sẽ được giải thoát khỏi vô minh vàảo giác, chính đấy là những gì tỏa bóng che lấp cả sự thật và trói buộc tâm thứcmình vào thế giới. Loại bỏ được chúng tức là bỏ lại phía sau ba thứ gông cùm vàba dải buộc mắt, hầu tự giải thoát cho mình ra khỏi sự kiềm tỏa của chúng để vượtlên trên thế giới và ra bên ngoài thế giới, giúp mình bước vào cấp bậc thứ nhấtcủa lãnh vực siêu-thế-tục. Người ta bảo rằng một người như thế là một thánh nhân(aryan) thuộc vào cấp bậc thứ nhất, một người vừa "bước vào dòng chảy",tức là lần đầu hội nhập vào con sông chảy xuôi về hướng Niết-bàn. Điều đó khôngcó nghĩa là đạt được cấp bậc ấy thì đương nhiên sẽ đạt đến Niết-bàn vào một ngàynào đó trong tương lai. Người ấy chỉ mới đạt được con sông chảy về hướng Niết-bàn,nhưng chưa phải là Niết-bàn, thế nhưng dòng nước ấy là một con sông chảy thẳngvào Niết-bàn, xuôi dòng về hướng Niết-bàn, tương tự một dòng nước của một con sôngđổ vào biển cả. Dù sao thì cũng phải còn nhiều thời gian cho một tâm thứcsau khi đã hội nhập được vào"dòng chảy" có thể đến được cõi Niết-bàn vào một ngày nào đó (xin chú ý cách dùng chữ trong câu này: tâm thứcđến được cõi Niết-bàn, không phải là một con ngườiđến được với Niết-bàn).

Bướcđược vào cấp bậc thứ hai của lãnh vực siêu-thế-tục chẳng những chỉ có nghĩa là đãloại bỏ được ba thứ gông cùm (cái ngã, sự nghi ngờ và dị đoan)như đã được trình bày trên đây, mà còn phải làm giảmbớt thêm một số thể dạng bám víu, thèm muốn và vô minh, giảm xuống đến độ có thểgiúp cho tâm thức vượt lên cao hơn nữa và nó chỉ còn bám víu rất ít vào sắc dục.Theo truyền thống thì người ta bảo rằng một người như thế chỉ còn quay lại thếgiới này thêm một lần nữa mà thôi, vì thế mà người ta gọi đấy là "Người chỉquay lại thêm một lần" bởi vì nơi người ấy chỉ còn rơi rớt lại một chút dấuvết thật nhỏ của sự bám víu vào thế giới này. Nếu người ấy phải quay trở lại thếgiới giác cảm của chúng sinh dưới thể dạng con người thì đấy cũng chỉ là một lầnsau cùng, bởi vì sự bám víu, ham muốn và vô minh dù vẫn còn đấy thế nhưng đã đượcgiảm thiểu rất nhiều.

Cấp bậcthứ ba là cấp bậc của những "Người không còn quay lại nữa". Vào cấp bậcnày thì ngoài một số ô nhiễm tâm thần mà vị thánh nhân (aryan) đã loại bỏ được hầu giúp họ trở thành "Người chỉ quay lạithêm một lần" trong cấp bậc trước đây thì còn có thêm hai thứ gông cùm khácnữa cần phải loại bỏ, đấy là gôm cùm thứ tư và gông cùm thứ năm. Gông cùm thứ tưlà sự ham muốn giác cảm, và gông cùm thứ năm là sự tiêu cực (đau buồn, phiền não - négativité / ill will). Đối với "Người bước được vào dòng chảy" cũngnhư "Người chỉ còn quay lại một lần" thì cả hai đều chưa hoàn toàn loạibỏ được sự ham muốn sắc dục: một vài vết tích nhỏ của sự thích thú trước các đốitượng quyến rũ vẫn còn lưu lại nơi họ, dù cho họ không còn tin vào cái ngã nữavà cũng đã loại bỏ được sự nghi ngờ và dị đoan. Tuy nhiên họ vẫn chưa hội đủ khảnăng để hoàn toàn từ bỏ được sự bám víu vào những gì mang tính cách lôi cuốn củagiác cảm, và một vài tàn tích vẫn còn sót lại. Trái lại, đối với một vị thánhnhân (aryan) thuộc vào cấp bậc thứba, tức không còn quay lại nữa, thì người này đã hoàn toàn loại bỏ được các thứấy, tuyệt nhiên không còn một dấu vết nào lưu lại. Đối với các thứ nọc độc manglại sự tiêu cực, gồm tất cả các thứ cảm tính của sự giận dữ và oán hận, thì ngườinày cũng đã tẩy xóa được gần hết trước đây khi còn trong cấp bậc của "Ngườichỉ còn quay lại một lần", khi bước sang cấp bậc thứ ba của "Người khôngcòn quay lại nữa" thì các tàn tích còn tồn lưu ấy cũng sẽ được tẩy xóa hết.Tóm lại là người này đã loại trừ được sự thèm muốn sắc dục và cả sự tiêu cực.

Sự ham muốn nhục dục hay sự bám víu vào giáccảmđã được trình bày trong chương thứ IV. Đấy là một thứ u mê dai dẳng, ănsâu vào tâm thức, tương tự như là một thành phần tạo ra chính tâm thức. Thật hếtsức khó cho một người bình thường hiểu được những thứ ấy là gì để mà loại bỏ nó.Tất cả, tuyệt đối tất cả, đều có thể trở thành đối tượng của sự ham muốn: màu sắc,hình tướng, âm thanh, mùi, vị, và các vật thể sờ mó được thuộc đủ thể loại, tấtcả đều là đối tượng của giác cảm (kâma -tham dục, ái dục, sắc dục). Thể dạng bám víu của tâm thức sẽ hiện ra dưới hìnhthức của sự thỏa mãn và chính đấy là sự ham muốn sắc dục (kâma-râga- désir sensuel / sensual desire / dục lạc. Sựham muốn nhục dục phát lộ từ tất cả sáu cơ quan giác cảm).

Nhữnggì mà chúng ta gọi là sự tiêu cựcthìđấy có nghĩa là phản ứng của tâm thức khi nó cảm thấy một sự bất toại nguyện.Khi nào có sự toại nguyện thì sẽ có sự thèm muốn sắc dục dục; khi nào có sự bấttoại nguyện thì sẽ có sự tiêu cực xảy ra. Tâm thức của hầu hết tất cả mọi con ngườiđều lệ thuộc vào hai thể dạng ấy. Ta cũng có thể phát lộ cảm tính tiêu cực cả đốivới các vật thể bất động, và nguy hiểm hơn nữa là ta cũng có thể trở nên bất mãnvới những gì mà chính ta sáng tạo ra, và đấy là những thứ được hình thành từ trongtâm thức của ta. Khi ta cảm thấy giận dữ và hận thù thì đấy có nghĩa là sự tiêucực đã được đẩy đi quá xa. Tất cả các vị thánh nhân (aryan) từ cấp bậc thấp chođến cấp bậc của những "Người không còn quay lại nữa", đều đã loại bỏđược những thứ ấy với mức độ tương quan với thể dạng của mình. Mức độ tiêu cựcmà vị thánh nhân (aryan) trong cấp bậcthứ ba phải loại bỏ chỉ còn là một thứ phản ứng thật tinh tế hiện ra trong tâmthức, tinh tế đến độ rất ít khi thoáng hiện ra bên ngoài. Nhất thiết đấy chỉ làmột sự bấn loạn nội tâm và hoàn toàn không hiện ra trên nét mặt, sự bấn loạn ấychỉ hiện ra bên trong như một sự bất toại nguyện, một sự bực dọc hay khó chịutrước một người nào đó hay một thứ gì đó không đáp ứng được sự mong đợi củamình. Hãy hình dung ra một con người đã hoàn toàn loại bỏ được sự tiêu cực thìta cũng sẽ hiểu ngay đấy là một con người ngoại lệ như thế nào, và đáng kínhnhư thế nào.

Nămthứ "gông cùm" mà chúng ta vừa trình bày trên đây đã được Đức Phậtxem là những gì phải loại bỏ trước tiên: tin vào một cái ngã, sự nghi ngờ, dịđoan, sự thèm muốn sắc dục, và sự tiêu cực. Các vị thánh nhân (aryan) trong cấp bậc thứ ba đều loại bỏhoàn toàn được tất cả những thứ này. Vì không còn vướng mắc trong sự thèm muốn sắcdục nữa nên các vị thánh nhân (aryan)trong cấp bậc thứ ba sẽ không còn bao giờ quay lại dưới thể dạng hiện hữu bằnggiác cảm nữa, do đó tên gọi của những vị này là những "Người không cònquay lại nữa". Duy nhất những gì còn tồn lưu nơi họ là sự chuyển động hướngvề phía trước, đưa đến thể dạng A-la-hán và cõi Niết-bàn, sự tồn lưu ấy thật tốithượng và không liên quan gì cả với sắc dục. Tóm lại đối với năm thứ chướng ngạithì chỉ có vị A-la-hán thuộc cấp thánh nhân (aryan) thứ tư là có thể loại trừ hoàn toàn mà thôi.

Gông cùmthứ sáu là sự bám víu vào những thứ thú vị liên quan đến các thể dạng của sự tậptrung hướng vào hình tướng (rûpa-râga).Các vị thánh nhân (aryan) thuộc vào ba cấp bậc đầu tiên chưa đủ khả năng loại bỏđược sự bám víu vào sự thích thú và tĩnh lặng liên quan đến sự tập trung thật sâuvề hình tướng, và họ chỉ có thể loại bỏ được hết những thứ này khi nào họ đạtđược cấp bậc cuối cùng là cấp bậc của vị A-la-hán. Thể dạng tập trung hoàn hảohàm chứa một hương vị ngất ngây mà người ta có thể mô tả như là một thứ tiền vịtrước khi đạt được Niết-bàn. Dù không phải là Niết-bàn đúng thật thế nhưng nó hàmchứa một hương vị nào đó. Trong những lúc mà sự tập trung trở nên thật hoàn hảothì các thứ ô nhiễm sẽ ngủ yên. Chúng không biến mất và sẽ hiển hiện trở lạikhi nào sự tập trung không còn giữ được nữa. Thật thế khi nào chúng còn ngủ yênthì tâm thức sẽ trở nên trống không, trong sáng, tự do và cảm nhận được hương vịcủa Niết-bàn. Chính vì thế mà thể dạng ấy có thể biến thành một thứ nguyên nhântạo ra sự bám víu.

Ô nhiễmtinh tế thứ bảy là sự bám víu vào các điều thú vị liên hệ đến sự tập trung vàocác đối tượng khác hơn là hình tướng (arûpa-râga- râga là thèm muốn, rûpa là hình tướng,arûpa là phi-hình-tướng).Sự ô nhiễm này cũng khá tương tự với thứ gông cùm thứ sáu thế nhưng thuộc vào mộtcấp bậc tinh tế hơn và nhẹ hơn. Sự tập trung vào một vật thể, chẳng hạn nhưkhông gian hay sự trống không, sẽ làm phát sinh ra một sự tĩnh lặng và thanh thảnsâu xa hơn so với sự tập trung vào một hình tướng, do đó cũng dễ khiến người hànhthiền bám víu hơn. Một vị A-la-hán đích thật không bao giờ còn để mình bị mê hoặcbởi thể dạng cảm nhận thú vị đó, hoặc dù bất cứ thứ gì khác, bởi vì vị này sẽ ýthức được ngay tính cách vô thường, sự bất toại nguyện và sự vắng mặt của cáingã của tất cả mọi sự cảm nhận. Có một số những người tu hành ẩn dật và nhữngngười tu hành thần bí sống trong rừng để luyện tập phép tập trung, thế nhưng họkhông hề ý thức được sự nguy hiểm (sự bám víu)ẩn nấp bên dưới các thể dạng cực lạc đó. Họ bị nhữngthứ ấy mê hoặc và bám víu vào hương vị do chúng mang lại, đấy cũng chẳng khác gìnhững người chưa thành thục bám víu vào các đối tượng giác cảm thế thôi. Chính vì lý do đó mà Đức Phật đã sử dụng cùngmột chữ "thèm muốn" trong cả hai trường hợp. Nếu bạn suy nghĩ kỹ vềnhững gì vừa được trình bày thì sẽ hiểu ngay được ý nghĩa và rồi bạn sẽ vô cùngngưỡng mộ và kính phục các chúng sinh mà người ta gọi là các vị thánh nhân (aryan).

Gôngcùm thứ tám trói buộc con người vào thế giới là một thứ cảm tính ưu việt(ưu thế, trội hơn người khác / awareness ofsuperiority)hoặc tự ti(thấp kém,mặc cảm / awareness of inferiority). Đấy là một thứ ảo giác cho rằngmình thuộc vào một cấp bậc nào đó (cao hơn hay thấp hơn)so với ngườikhác. Thí dụ như nghĩ rằng: "Tôi không giỏi bằng hắn / Tôi giỏi ngang hàngvới hắn / Tôi giỏi hơn hay cao siêu hơn hắn", tức có nghĩa là cảm thấy mìnhthấp kém hơn, ngang hàng hay trội hơn người khác. Phải cẩn thận, đấy không phảilà một cảm tính kiêu căng hay tự phụ gì cả, thế nhưng thật hết sức khó khăn đểcó thể tránh khỏi việc tự so sánh mình với người khác (một phản ứng tự nhiên). Thứ gôngcùm này được xếp vào hàng thứ tám, rất có thể là vì lý do rất khó loại bỏ được nó.Chỉ có các vị thánh nhân (aryan)trong cấp bậc cao nhất mới trừ khử được nó (có thể xemcảm tính tự nhiên về sự so sánh giữa mình và người khác là một sự biểu lộ vôcùng tinh tế và tự động của cái ngã hay "cái tôi"). So sánh tứclà một hình thức của sự bám víu. Khi nào tâm thức còn quan tâm đến cái tốt, cáixấu, còn ý thức về sự thấp kém, ưu việt hay ngang hàng so với người khác thì nhữngthứ ấy sẽ còn làm cho chính nó (tức là tâm thức)bị bấn loạn.Chỉ khi nào tâm thức vượt lên được cả cái tốt lẫn cái xấu thì khi ấy những ýnghĩ trên đây mới tự động biến mất được, nếu không thì thể dạng phúc hạnh và sựtĩnh lặng không thể nào hiển hiện ra với tâm thức được.

Gông cùm thứ chín là sự dao động(uddhacca - phóng dật), đấy là sự dao động của tâm thức,sự xao lãng, thiếu sự an bình và yên lặng. Thứ cảm tính đó phát sinh khi nào cómột cái gì đó hấp dẫn xảy ra. Tất cả chúng ta đều mang những sự thèm muốn dai dẳng,nhất là sự thèm muốn được có, được như thế, không muốn được có, không muốn đượcnhư thế này hay thế nọ. Nếu có một thứ gì truyền đến mắt, tai, mũi, lưỡi hay thânxác thì nó sẽ tìm thấy ngay một sự tương ứng với một trong những xu hướng có sẵncủa ta, và rất có thể tâm thức nhân đó cũng sẽ tạo ra ngay một phản ứng đối vớinó, tức là chấp nhận hay chống lại, và người ta gọi đấy là một sự vụ lợi (intérêt / interest). Nếu ta nhậnthấy đấy là một thứ gì mới lạ hay lạ lùng thì nhất định một sự bối rối sẽ xảyra, có nghĩa là một thứ hình thức tò mò nào đó vụt phát hiện, đấy chính là vì lýdo lúc nào cũng có thể xảy ra những thứ mà ta thèm muốn hoặc những thứ mà ta esợ, cho nên khiến ta phải luôn dè dặt là như thế (tức là tạora cho ta sự dao động thường xuyên). Đối vớinhững người bình thường thì tâm thức họ không đủ khả năng để cưỡng lại các loạiphản ứng tự nhiên, họ không thể nào tự ngăn chận không cho phép mình quan tâm đếntất cả mọi thứ đang hiển hiện ra. Nếu một đối tượng hiện ra và trùng hợp với mộttrong những thứ ham muốn sẵn có của ta thì sẽ rất khó cho ta cưỡng lại nó, vàta sẽ quan tâm đến nó đến một mức độ có thể khiến cho ta tự buộc mình vào với nó,ta cảm thấy vui mừng đến độ quên cả chính mình mà chỉ thấy có nó. Ngược lại nếuđấy là một vật thể mà ta không muốn thì tâm thức sẽ cảm thấy thờ ơ và sự ham muốnchấm dứt ngay. Đấy là bản chất của sự dao động.

Trong ba cấp bậc đầu tiên, vị thánhnhân (aryan) vẫn còn phát lộ sự tò mò(hiếu kỳ, ham hiểu biết), thế nhưngđối với vị A-la-hán thì sự tò mò ấy không còn nữa. Tâm thức của vị A-la-hán đãloại bỏ được bất cứ thứ gì: mọi sự sợ hãi, mọi hận thù, mọi sự lo buồn, ưu tư,nghi kỵ, ngờ vực và tất cả mọi sự ham muốn muốn được hiểu biết và muốn đượcnhìn thấy các vật thể. Tâm thức của vị ấy hoàn toàn được tự do. Không có gì cóthể khích động được nó, thu hút được nó, hoặc khiến cho nó phải phát lộ sự tò mò,đơn giản chỉ vì nó đã gạt bỏ được tính thiên vị (partiality- có thể hiểu như là một sự diễn đạt tự nhiên của tâm thức trước mọi sự vật). Nên chú ýlà sự hiện hữu hay sự phát sinh của thể dạng dao động trong bất cứ bối cảnh nàođều là hậu quả do một hình thức thèm muốn nào đó mang lại (dù đấy là sự ghét bỏ hay ưa thích), kể cả sự thèmmuốn muốn được hiểu biết. Khi nào loại bỏ được sự thèm muốn và cảm nhận được vôthường, sự vô ích (sự hão huyền, hư ảo, vô tích sự - inanité/ worthlessness)và vô-cá-tính (không mangtính cách cá thể - non-personnalité / nonselfhood)của bất cứsự vật nào, không còn bất cứ gì tỏ ra đáng để chiếm hữu, vì thế nên không còn cógì đáng để phải tò mò. Nếu sấm sét có giáng xuống chân của một vị A-la-hán thìvị ấy cũng không hay biết gì cả bởi vì vị ấy không còn biết sợ cái chết cũng khôngham muốn được sống, hay bất cứ thứ gì khác. Ngay cả trường hợp có một thứ gìnguy hiểm xảy đến hoặc có một khám phá lớn xảy ra trên thế giới thì ngườiA-la-hán cũng không tỏ lộ một chút tò mò nào bởi vì tất cả những thứ ấy khôngmang một ý nghĩa nào cả đối với vị ấy. Vị ấy không còn quan tâm đến là các thứ ấysẽ mang lại cho mình một cái gì cả bởi vì không có bất cứ thứ gì có thể cám dỗđược vị ấy hay gợi lên một sự tò mò nào cả. Tâm thức của vị ấy đạt được một sựtinh khiết và tĩnh lặng mà những người bình dị như chúng ta không thể nào hìnhdung ra được.

Gông cùm thứ mười và cũng là gông cùmcuối cùng là vô minh. Vô minh trongtrường hợp này sẽ bao gồm tất cả các thứ ô nhiễm mà trước đây chúng ta chưa có dịpđề cập đến. Thuật ngữ "vô minh" chỉ định một thể dạng vắng mặt của sựhiểu biết, và trong trường hợp này thì "sự hiểu biết" có nghĩa là sự"thấu triệt đích thật" hay "sự hiểu biết đúng". Tất nhiên làbất cứ người nào nếu muốn hiện hữu cũng cần phải có một sự hiểu biết, thế nhưngnếu sự hiểu biết ấy là sai, thì người ấy cũng không khá hơn gì một người không-hiểu-biết.Hầu hết tất cả mọi người đều phải chịu đựng một sự vô minh dai dẳng tức là mộtsự hiểu biết sai lầm; gần như hầu hết chúng ta đều chìm sâu trong tấm màn tăm tốicủa vô minh. Các câu hỏi quan trọng nhất cho con người có thể là: "Khổ đauđích thật là gì? Nguyên nhân đích thật nào đã đưa đến khổ đau? Sự giải thoát đíchthật khỏi khổ đau là gì? Và phương pháp đích thật nào giúp đạt được sự giải thoátkhỏi khổ đau?" (một cách trình bày khác của Tứ Diệu Đế). Những ai đạtđược một sự hiểu biết đích thật thì sẽ thoát khỏi vô minh, có nghĩa là người ấylà một người giác ngộ. Toàn bộ sự hiểu biết của nhân loại quả thật là vô tận thếnhưng Đức Phật đã trịnh trọng tuyên bố rằng hầu hết những sự hiểu biết ấy khôngcó gì là thiết thực cả. Sự Giác Ngộ của Đức Phật trái lại chỉ nêu lên những gìcần phải hiểu biết. Đức Phật hiểu biết tất cả những gì cần phải hiểu biết. Chữ"thông suốt" (toàn năng - omniscient / all-knowing)có nghĩa làbiết những gì cần phải biết và loại ra những gì không thiết yếu.

Vì vô minh nên nhiều người nhầm lẫnkhổ đau với thích thú, và chính vì thế mà họ cứ tiếp tục lặn ngụp trong đại dươngcủa khổ đau. Thay vì cố gắng tìm cách biến đổi cảnh huống của mình bằng các phươngtiện thích nghi thì họ lại tự đánh lừa mình bằng cách đổ lỗi cho ma quỷ, hay cácthiên nhân trên trời hay bất cứ thứ gì khác gây ra khổ đau và những điều bất hạnhcho họ. Cầu khẩn thần linh ma quỷ hay các thiên nhân trên trời là một sự biểu lộthuộc vào một cấp bậc thấp kém nhất của vô minh. Nếu muốn loại bỏ hoàn toàn khổđau thì chỉ có cách là loại bỏ sự ham muốn các thứ dục vọng, đấy là nguyên nhântrực tiếp mang lại khổ đau. Nếu xem thể dạng phúc hạnh phát sinh từ sự tĩnh lặnghay từ thể dạng phi-ý-thức do sự tập trung mang lại như là sự tắt nghỉ của khổ đauthì đấy là hoàn toàn sai. Ý nghĩ ấy rất phổ biến từ thời kỳ của Đức Phật và ngàynay vẫn còn tiếp tục. Một số học phái tư tưởng (schools ofthought)còn xem sắc dục như là một thứ dụng cụ để trừ khử khổđau, đến độ một số giáo phái chủ trương các phép tu tập đáng xấu hổ và tục tằn ấyđã phát sinh ngay cả trong chốn chùa chiền (thật ratrong lịch sử Phật Giáo cũng có một vài vị thầy không được hoàn toàn chân chínhvà cũng có một vài chi phái hiếm hoi không giữ được giới luật đoạn dục, tức chủtrương người tu hành có thể lập gia đình, kể cả trường hợp một số học phái xemhình ảnh dục tính như một đối tượng hay một phương tiện thiền định, thế nhưng tấtcả đều là những ngoại lệ. Dầu sao thì cũng không thể nào không bày tỏ sự thánphục và ngưỡng mộ trước sự bộc trực và thẳng thắn của vị đại sư Buddhadasa). Những ngườiấy tin một cách quả quyết rằng sắc dục là một nhân tố thiết yếu cho sự sống, mộtthứ thực phẩm tối cần thiết. Bốn thứ nhu cầu là thực phẩm, quần áo, nhà ở vàthuốc men đối với họ chưa đủ hay sao mà còn ghép thêm vào đấy sắc dục nữa.

Những ai không hề biết đến Con Đườngđưa đến sự tắt nghỉ của khổ đau là gì sẽ rất dễ phạm vào những hành động sai trái,bởi vì họ chỉ được thúc đẩy duy nhất bởi sự ham muốn, và nương tựa một cách thậtngây thơ vào những vật thể vật chất hoặc vào thần linh ma quỷ và các thiên nhântrên trời (sự tin tưởng dị đoan). Những ngườinhư thế, và cũng có thể đấy là những người Phật Giáo từ lúc mới sinh, tất cả đềucó thể đẩy sự sai lầm quá xa, lý do thật là đơn giản đấy chỉ vì sức mạnh của vôminh ngăn chận không cho họ hiểu được là Con Đường Của Tám Sự Thật Cao Quý (Bát Chánh Đạo)cũng đủ đểgiúp họ loại bỏ được khổ đau. Họ thích thắp hương và nến rồi xướng lên những lờiước nguyện hướng vào các nhân vật được xem là siêu nhiên.

Ai mà lại chẳng muốn đạt được sự hiểubiết, thế nhưng nếu sự "hiểu biết" đạt được là một thứ hiểu biết sailầm thì nếu càng hiểu biết thì lại càng lầm lẫn nhiều hơn, và nếu sự hiểu biếttrở nên quá nhiều thì sẽ hóa ra sự mù quáng. Chúng ta nên cẩn thận đối với chữ"Giác Ngộ" (bodhi - illumination / enlightenment - rọisáng, chiếu sáng). Chữ "ánh sáng" ở đây cũngcó thể có nghĩa là một tia loé phát lên từ vô minh làm cho mù lòa, đánh lừa mắtmình và mang lại cho mình một sự tự tin quá đáng. Bị chóa mắt bởi vô minh, takhông còn suy nghĩ đúng đắn được nữa và do đó sẽ không còn hội đủ được khả năngđể đánh bại vô minh. Ta đánh mất tất cả ngày giờ vào những việc tầm phào, vàonhững hành động vô bổ, không xứng đáng để quan tâm. Ta vui thích với sắc dục cứnhư thể đấy là một thứ gì thật tốt đẹp, thật thiết yếu cho con người, mà chúngta cần phải thụ hưởng trước khi chết. Chúng ta viện cớ sở dĩ mình hành động nhưthế là vì mỗi người có quyền có những lý tưởng khác nhau. Hy vọng được tái sinhlên thiên đường chẳng qua cũng chỉ vì lý do sắc dục mà thôi. Tất cả những sự bámvíu, nhất là đối với sắc dục, đều phát sinh từ vô minh khiến cho tâm thức bị tắcnghẻn và các lối thoát bị bít kín. Kinh sách thường ví vô minh như một chiếc vỏsò chụp lên thế gian, không cho chúng ta sinh nhìn thấy được ánh sáng.

Đức Phật xếp vô minh vào hàng thứ mườitrong danh sách mười thứ gông cùm. Khi một người đã trở thành A-la-hán, tức cấpbậc cao nhất của các thánh nhân (aryan)thì người ấy cũng loại bỏ được hoàn toàn năm thứ gông cùm hay nọc độc tâm thầncuối cùng. Người ấy loại bỏ được sự ham muốn các hình tướng, sự ham muốn các đốitượng khác hơn hình tướng, sự so sánh mình với người khác, sự dao động và vôminh (tất cả là năm thứ gông cùm). Bốn cấp bậcthánh nhân - gồm những "Người bướcvào được dòng chảy", những "Người chỉ còn quay lại một lần", những"Người không còn bao giờ quay lại nữa" và các vị "A-la-hán"- tất cả đều thuộc vào lãnh vực siêu-thế-tục. Lãnh vực này lại được phân chiathành chín thể dạng. Hai thể dạng thứ nhất thuộc cấp bậc của của những"Người bước vào dòng chảy" vì người này còn phải tiếp tục loại trừ nhữngthứ ô nhiễm gọi là "Con Đường giúpđưa vào dòng chảy", và khi nào trừ khử được các thứ ô nhiễm ấy thì sẽ đạtđược "Thể dạng quả đưa vào dòng chảy".Cũng tương tự như thế, hai thể dạng "Con Đường" và "quả" của"Người chỉ còn quay lại một lần", hai thể dạng "Con Đường"và "quả" của "Người không còn bao giờ quay lại nữa", và saucùng là hai thể dạng "Con Đường" và "quả" của bậc"A-la-hán". Bốn cặp song hành đó nếu đem cộng thêm vào đó thể dạng Niết-bànthì sẽ trở thành tất cả là chín thể dạng của lãnh vực siêu-thế-tục. Khi một ngườiđã tiếp xúc được với lãnh vực này sẽ nhận thấy khổ đau của mình dần dần suy giảmđi tương ứng với cấp bậc của mình, cho đến lúc hoàn toàn được giải thoát. Khi nàongười ấy cảm nhận được bản chất đích thật của mọi sự vật bằng một sự trong sángthật hoàn hảo khiến cho mình không còn phát lộ một sự ham muốn nào đối với bấtcứ một thứ gì nữa, thì có nghĩa là người ấy đã đạt được lãnh vực siêu-thế-tục:tức tâm thức của người ấy vượt lên trên thế giới. Sau khi đã hoàn toàn và tuyệtđối loại bỏ được tất cả những thứ ô nhiễm tâm thần thì tâm thức của người ấy cũngsẽ được giải thoát vĩnh viễn khỏi tất cả mọi thứ vật thể của thế giới mà trước đâymình từng yêu thích hay ghét bỏ chúng.

Niết-bàn là một thể dạng không thểso sánh được với bất cứ thứ gì, khác với tất cả các điều kiện con người. Thậtra thì nó cũng phủ định ngay cả các điều kiện con người. Nếu ta nhìn vào tất cảcác đặc tính của các điều kiện con người và của sự hiện hữu dưới hình thức hiệntượng và đem chúng ra để xóa bỏ thì ta sẽ có được Niết-bàn (một cách định nghĩa thật đơn giản về Niết-bàn, thế nhưnghết sức tuyệt vời trên tất cả mọi khía cạnh: khi xóa bỏđược tất cả các đặc tính của thế giới thì thế giới sẽ trở thành Niết-bàn. Có thể xem đấy là một công án cho Thiền học hay mộtchủ đề giúp cho phép thiền định phân giải).

Niết-bàn nằm ra bên ngoài ranh giới của khônggian và thời gian. Nó duy nhất và chẳng giống với bất cứ thứ gì trong thế giannày: đấy là sự dập tắt của điều kiện con người (con ngườivẫn "còn đó" chỉ có các điều kiện tạo ra nó - dưới hình thức hiện tượng- là phải dập tắt, tương tự như dập tắtngọn lửa tượng trưng cho những gì đang thiêu đốt con người). Đức Phật đãsử dụng phép ẩn dụ (métaphor)để gọi đấylà "thế giới mà nơi đó tất cả những gì tạo tác bằng điều kiện (trong bản dịch sang tiếng Pháp thì dùng chữ tạm bợ)đều chấm dứt"(sankhârâ-samatho - các chữ này rất quan trọng: chữa sankhârâhay samkhârâ có nghĩa là duy ý tức là tạo ra - fabricating - bằng tâm ý, kinhsách tiếng Việt dịch là hành tức là một hành động, thế nhưng phải hiểu đấy là mộthành động tâm thần; chữ samatho có nghĩa là sự yên lặng, lắng xuống, sự tắt nghỉ- quieting, calming). Đấy có nghĩa là một thể dạng tựdo, tự do ở đây có nghĩa là giải thoát được khỏi những thứ gông cùm. Thể dạng ấycũng tương tự như những gì mang lại từ sự chấm dứt của đau buồn, của mọi sựtranh đấu, của các vết thương và sự bất an, dù chúng phát sinh từ bất cứ mộtnguyên nhân nào. Đấy là bản chất của lãnh vực siêu-thế-tục, một thể dạng tối hậu,và đấy cũng là mục đích, là điểm đến cuối cùng của người Phật Giáo, là quả saucùng mà sự tu tập mang lại cho họ.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn