Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

13. Thiền sư Hoài Hải (Bá Trượng)

03/09/201109:39(Xem: 2269)
13. Thiền sư Hoài Hải (Bá Trượng)

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 1

ĐỜI THỨ BA SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

13.THIỀN SƯ HOÀI HẢI
BáTrượng - (724 - 814)

Sưhọ Vương, quê ở Trường Lạc, Phước Châu. Lúc bé theo mẹđi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: Ðây làgì? Mẹ bảo: Phật. Sư nói: Hình dung không khác với người,con sau cũng sẽ làm Phật. Sư xuất gia lúc còn để chóp vàhằng chuyên cần tu học giới định tuệ.

Sau,Sư đến tham học với Mã Tổ (Ðạo Nhất) làm thị giả.Mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Sư vừa giở lồng bànra, Mã Tổ liền cầm nửa cái bánh chỉ chúng hỏi: "Ðây làgì?" Như thế mãi đến ba năm.

Mộthôm, Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trờibay qua.

MãTổ hỏi:- Ðó là cái gì?

Sưthưa:- Con vịt trời.

- Bayđi đâu?

- Bayqua.

MãTổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh.

MãTổ bảo:- Lại nói bay qua đi.

Ngaycâu ấy, Sư tỉnh ngộ.

Trởvề phòng thị giả, Sư khóc lóc rất thống thiết. Nhữngngười đồng phòng nghe, hỏi:

- Huynhnhớ cha mẹ phải chăng?

Sưđáp:- Không.

- Bịngười ta mắng chửi chăng?

- Không.

- Tạisao khóc?

- Lỗmũi tôi bị Hòa thượng kéo đau thấu xương.

- Cónhân duyên gì không khế hội?

- Huynhhỏi Hòa thượng đi.

Nhữngvị ấy đến hỏi Mã Tổ:

- Thịgiả Hải có nhân duyên gì chẳng khế hội ở trong phòng khóc,xin Hòa thượng vì chúng con nói.

MãTổ bảo:

- Yđã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.

Cácvị ấy về phòng hỏi:

- Hòathượng nói huynh đã hội, bảo chúng tôi về hỏi huynh.

Sưbèn cười hả! hả!

Cácvị ấy bảo:- Vừa rồi khóc, sao bây giờ cười?

Sưđáp:- Vừa rồi khóc, bây giờ cười.

Cácvị ấy mờ mịt không hiểu.

Hômsau, Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước racuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa, Sư theo sau đến phương trượng.

MãTổ hỏi:- Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?

Sưthưa:- Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.

- Hômqua ngươi để tâm chỗ nào?

- Chótmũi ngày nay lại chẳng đau.

- Ngươihiểu sâu việc hôm qua.

Sưlàm lễ, lui ra.

*

Ðứnghầu Mã Tổ, Sư thấy phất tử (đồ quét bụi) ở góc giường,bèn hỏi:

- Tứcđây dùng, lìa đây dùng?

MãTổ bảo:- Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người?

Sưcầm phất tử dựng đứng.

MãTổ hỏi:- Tức đây dùng, lìa đây dùng?

Sưđể phất tử lại chỗ cũ.

MãTổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếctai.

*

Sau,Sư về núi Ðại Hùng tại Hồng Châu. Ngọn núi này cao vótđến trăm trượng nên thời nhân gọi Sư là Bá Trượng. Bốnphương học giả đua nhau đến tham học rất đông. Trong sốhọc chúng có Thiền sư Hy Vận và Linh Hựu là hàng đầu.

Mộthôm, Sư bảo chúng:

- Phậtpháp không phải là việc nhỏ, Lão tăng xưa bị Mã Tổ mộtnạt đến ba ngày lỗ tai còn điếc.

HyVận nghe nói bất giác le lưỡi.

Sưbảo:- Con về sau thừa kế Mã Tổ chăng?

HyVận thưa:

- Không.Nay nhân Hòa thượng nhắc lại, con được thấy Mã Tổ đạicơ, đại dụng, nhưng vẫn không biết Mã Tổ. Nếu con thừakế Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con.

Sưbảo:

- Ðúngthế, đúng thế, thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức,thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Con hẳn có cáithấy vượt hơn thầy.

HyVận liền lễ bái.

*

Lạimột hôm, có vị Tăng vừa đi vừa khóc đi thẳng vào phápđường.

Sưhỏi:- Làm gì?

Tăngthưa:- Cha mẹ đồng thời chết, thỉnh Thầy chọn ngày.

Sưbảo:- Ngày mai đồng thời chôn.

*

Sưmỗi khi thượng đường dạy chúng có một ông già theo chúngnghe pháp. Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi.Sư hỏi:

- Ônglà người gì?

Ônggiàthưa:

- Conchẳng phải người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp,con làm Tăng ở núi này, nhân học trò hỏi: "người đạitu hành lại rơi vào nhân quả chăng", con đáp: "không rơi vàonhân quả". Do đó, đến năm trăm đời đọa làm thân chồn.Nay thỉnh Hòa thượng chuyển một câu nói để con thoát khỏithân chồn.

Sưbảo:- Ông hỏi đi.

Ônggià hỏi:- Người đại tu hành có rơi vào nhân quả chăng?

Sưđáp:- Không lầm nhân quả.

Ngaycâu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa:

- Conđã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấytheo lễ Tăng chết mà tống táng con.

Sưvào trong kêu duy-na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưađám một vị Tăng, đại chúng nhóm nhau bàn tán "đại chúngđều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tạisao có việc này?"

Saukhi cơm xong, Sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậykhơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêunhư vị Tăng.

*

Sưthượng đường dạy chúng:

- Linhquang chói sáng vượt khỏi căn trần, thể bày chân thườngkhông cuộc văn tự, tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành,chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.

Cóvị Tăng hỏi:- Thế nào là pháp yếu Ðại thừa đốn ngộ?

Sưđáp:

- Cácngươi trước dứt sạch các duyên, thôi hết muôn việc, tấtcả các pháp thiện cùng chẳng thiện, thế gian và xuất thếgian chớ ghi nhớ, chớ duyên niệm, buông bỏ hết khiến tâmtự tại. Tâm như cây đá không có phân biệt, không có chỗđi. Ðất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự hiện. Nhưmây tan thì trăng hiện. Chỉ dứt tất cả thứ vin theo, tìnhcảm tham sân ái thủ nhơ sạch đều hết. Ðối với ngũ dục,bát phong không bị thấy nghe hiểu biết ràng buộc, không bịcác cảnh làm mê hoặc, tự nhiên đầy đủ thần thông diệudụng, ấy là người giải thoát.

Ðốivới tất cả cảnh, tâm không yêu không loạn, không thu nhiếpkhông phân tán, thấu tất cả thanh sắc không bị dính ngại,gọi là Ðạo nhân.

Thiệnác phải quấy đều không dùng, không mến một pháp, cũngkhông bỏ một pháp, gọi là người Ðại thừa.

Khôngbị tất cả pháp thiện ác, không hữu, nhơ sạch, hữu vi,vô vi, thế gian, xuất thế gian, phước đức trí tuệ ràngbuộc, gọi là Phật tuệ.

Phảiquấy, tốt xấu, đúng lý phi lý, các tình cảm thấy biếthết sạch, không thể trói buộc, nơi nơi đều được tựtại, gọi là Bồ-tát mới phát tâm liền lên địa vị Phật.

Tănghỏi:- Ðối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?

Sưđáp:

- Tấtcả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳngnói phải quấy nhơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người,chỉ tự người hư vọng tính chấp, tạo bao nhiêu thứ hiểu,khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thứ yêu sợ.Cần phải nhận rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệmvọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biếttâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giảithoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đólà đạo tràng.

Lại,tánh sẵn có không thể gọi tên, xưa nay không phải phàm khôngphải thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải hữu không,cũng chẳng phải thiện ác, cùng các pháp nhiễm hợp nhau,gọi là người trời nhị thừa. Nếu tâm nhơ sạch hết, chẳngtrụ nơi ràng buộc chẳng trụ nơi giải thoát, không tấtcả tâm lượng hữu vi vô vi, phược thoát, ở nơi sanh tửtâm vẫn tự tại. Hoàn toàn không hòa hợp với uẩn, giới,sanh tử, các nhập, trần lao hư huyễn, siêu nhiên không nươngtựa, tất cả không ràng buộc, đi ở không ngại, qua lạitrong sanh tử như cửa mở.

Phàmngười học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ýkhông vừa ý, tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danhdự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức lợiích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mếnkhổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mạngsống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh; ngơ ngơ như ngu nhưđiếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham họcrộng biết nhiều, cầu phước cầu trí, đều là ở trongsanh tử, đối với lý đạo thật vô ích, lại bị gió hiểubiết thổi trôi giạt trở lại trong biển sanh tử.

Phậtlà người không cầu, có cầu tức trái lý, lý không cầunày nếu cầu liền mất. Nếu chấp không cầu, lại đồngcó cầu. Nếu chấp vô vi, lại đồng hữu vi. Cho nên kinh nói:"Không thủ pháp không thủ phi pháp, không thủ phi phi pháp."Lại nói: "Như Lai đã được pháp, pháp này không thật khônghư."

Nếungười hay một lúc tâm giống như cây đá, không bị ấm,giới, ngũ dục, bát phong thổi trôi giạt, liền đoạn đượcnhân sanh tử, đi đứng tự do, chẳng bị tất cả hữu vinhân quả ràng buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc. Khi khác,trở lại đem thân không phược làm lợi ích chúng sanh, lấytâm không phược ứng hợp tất cả tâm, dùng tuệ không phượccổi tất cả phược, cũng nói "hợp bệnh cho thuốc".

Tănghỏi:

- Nhưnay thọ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, lại làm đủcác việc thiện, như thế được giải thoát chăng?

Sưđáp:

- Ðượcít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa đượctất cả chỗ giải thoát.

Tănghỏi:

- Thếnào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?

Sưđáp:

- Chẳngcầu Phật, Pháp, Tăng, cho đến chẳng cầu phước trí trigiải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầulà phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đườngsợ địa ngục, trói buộc cổi mở không ngại, tức thântâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát.

Ngươichớ cho có ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâubiết môn giới định tuệ như hà sa, mà vô lậu giải thoáttoàn chưa dính một mảy.

Cốgắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờtai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảmtriền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không mộtnơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Ðến khi ấy, muốn nghiêmchỉnh tay chân cũng không thể kềm được, dù có phước trí,danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưamở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳngthấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác thảyhiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, sáu đạo năm uẩn thảybày hiện tiền. Trang sức nhà cửa ghe thuyền xe cộ đẹpđẽ hiển hách, đều từ tâm tham ái của mình hiện ra, tấtcả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tùy tâmtham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thọ sanh, hoàntoàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa địnhđược.

Tănghỏi:- Thế nào được phần tự do?

Sưđáp:

- Hiệnnay đối với ngũ dục bát phong lòng không lấy bỏ, xan thamtật đố tham ái ngã sở đều hết, nhơ sạch chẳng còn,như mặt trời mặt trăng trong hư không, không duyên mà chiếu.Tâm tâm như cây đá, niệm niệm như cứu lửa cháy đầu,cũng như con voi lớn qua sông vừa ùm xuống là đến bờ kia,không bị ngăn ngại. Người này không nhiếp thuộc về thiênđường hay địa ngục.

Phàmhọc kinh xem giáo lý, mỗi câu đều phải uyển chuyển xoayvề nơi mình, tất cả ngôn giáo chỉ làm sáng tỏ tánh giáchiện nay của mình. Chỉ không bị tất cả cảnh có, không...lôi là Ðạo sư của người; hay chiếu phá tất cả cảnhcó, không... là tuệ Kim Cang, tức có phần tự do tự tại.Nếu không như thế để hội đạo, dù có tụng được mườihai phần giáo cũng chỉ thành Tăng thượng mạn, lại là ngườichê bai Phật, không phải là người tu hành. Chỉ lìa tấtcả thanh sắc, cũng chẳng trụ nơi lìa, chẳng trụ nơi trigiải, là người tu hành.

Ðọckinh xem giáo lý, nếu chiếu theo thế gian là việc tốt, nếunhằm vào người minh lý thì thường đọc xem là kẻ bế tắc.Người thập địa vượt ra, không đi vào vòng sanh tử, nhưnggiáo lý Tam thừa để trị bệnh tham, sân... như hiện nay niệmniệm nếu có bệnh tham, sân... thì trước phải trị nó, chẳngcần tìm cầu câu nghĩa hiểu biết. Hiểu biết thuộc vềtham, tham thì trở thành bệnh. Như hiện nay chỉ lìa tất cảpháp có, không, cũng lìa cái lìa vượt ngoài ba câu (có, không,chẳng phải có chẳng phải không) tự nhiên cùng Phật khôngkhác. Ðã tự là Phật, lo gì Phật không hiểu ngôn ngữ. Chỉe không phải là Phật, bị các pháp có, không trói buộc chẳngđược tự do. Bởi lý chưa vững, trước có phước trí, bịphước trí chở đi, như người nghèo ở trong cảnh sang. Khôngbằng trước vững lý, sau mới có phước trí. Nếu cần phướctrí thì tạm thời làm được, nắm đất biến thành vàng,nắm vàng biến thành đất, biến nước biển thành tô-lạc,đập núi Tu-di thành bụi nhỏ, hốt nước bốn biển dồnvào một lỗ chân lông, nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa,nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Cuốccỏ chặt cây, khai mương đào đất, có tướng tội báo chăng?

Sưđáp:

- Khôngthể nói quyết định có tội, cũng không thể nói quyết địnhkhông tội, có tội không tội việc tại người đương thời.Nếu tham nhiễm tất cả pháp có, không... có tâm lấy bỏ,còn chưa vượt khỏi ba câu, người này nhất định nói cótội. Nếu vượt ngoài ba câu, tâm như hư không, cũng chẳngtưởng hư không, người này nhất định nói không tội.

Lạinữa, nếu tạo tội rồi, nói không thấy có tội thì thậtvô lý. Nếu không làm tội, mà nói có tội thì cũng vô lý.Như trong Luật, do mê giết người và chuyển tướng giết,còn không phạm tội sát. Huống là Thiền tông truyền traonhau tâm như hư không, không dừng ở một vật, cũng khôngcó tướng hư không, thì đem tội để ở chỗ nào?

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Thếnào là "hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh"?

Sưđáp:

- Từngười đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địangục là tình chấp phàm. Chỉ như hiện nay đối hai cảnhphàm, thánh có tâm nhiễm ái gọi là "hữu tình không Phậttánh". Hiện nay đối hai cảnh phàm, thánh và tất cả phápcó, không... trọn không có tâm lấy bỏ, cũng không cái hiểubiết không lấy bỏ, ấy là "vô tình có Phật tánh". Chỉkhông có tình ràng buộc, nên gọi vô tình. Không đồng vớiloài vô tình như: cây, đá, hư không, hoa vàng, trúc biếc,mà cho là có Phật tánh. Nếu nói loài vô tình ấy có Phậttánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký được thành Phật?Chỉ cái giác chiếu soi hiện nay không bị hữu tình thay đổi,dụ như trúc biếc, ứng cơ biết thời thiết dụ như hoa vàng.

Lại,nếu bước lên nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh,chưa bước lên nấc thang Phật thì hữu tình không Phật tánh.

*

Hằngngày làm công tác, Sư đều dẫn đầu trong chúng. Một hôm,chúng Tăng lén giấu dụng cụ không cho Sư làm, Sư tìm mãikhông được, bảo:

- Tôikhông có đức hạnh, đâu dám làm nhọc người. Sư nhịn ănhôm ấy, nên có câu "một ngày không làm, một ngày không ăn"(nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực).

Sưcó soạn bộ qui tắc trong nhà Thiền, lấy tên là "Bá TrượngThanh Qui". Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ chín(814 T.L.) ngày mười bảy tháng giêng, Sư qui tịch, thọ chínmươi lăm tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí Thiền sư, tháp hiệờại Bảo Thắng Luân.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn