Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Từ quyển Bình phẩm về sống Tập 2

09/07/201100:31(Xem: 665)
Từ quyển Bình phẩm về sống Tập 2

J. KRISHNAMURTI
BÀN VỀ SỐNG VÀ CHẾT (ON LIVING and DYING)
Lời dịch: Ông Không 2009

Từ quyển Bình phẩm về sống
Tập 2

Sợ hãi chết

Trên mặt đất đỏ sậm trước ngôi nhà có vô số hoa loa kèn với nhụy vàng. Chúng có những cánh lớn màu hoa cà và một mùi hương thoang thoảng. Chúng sẽ trải ra trong suốt ban ngày, nhưng vào ban đêm chúng che kín mặt đất đỏ sậm. Dây của hoa bò lan tràn cứng cáp với những chiếc lá răng cưa lấp lánh trong ánh ban mai. Vài đứa trẻ vô ý chà đạp những bông hoa, và một người đàn ông vội vã chun vào chiếc xe hơi của ông ấy chẳng bao giờ thèm bận tâm liếc nhìn chúng. Một người qua đường hái một bông hoa, ngửi nó, và mang nó theo, để vất đi chốc lát sau. Một phụ nữ chắc là người giúp việc ra khỏi nhà, hái một bông hoa, và cắm nó trong mái tóc của cô ấy. Những bông hoa đó đẹp làm sao, và chúng cũng đang héo tàn mau lẹ làm sao dưới ánh mặt trời!

Tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi một loại sợ hãi nào đó. Khi còn là một đứa trẻ tôi rất nhút nhát, thẹn thùng, và nhạy cảm, và bây giờ tôi sợ hãi cả tuổi già lẫn chết. Tôi biết tất cả chúng ta đều phải chết, nhưng dường như chẳng lý luận nào làm vơi bớt đi sợ hãi này. Tôi đã gia nhập tổ chức nghiên cứu ngoại cảm (the Psychical Research Society), đã tham dự vài buổi cầu đồng, và đã đọc sách của những vị thầy vĩ đại giải thích chết như thế nào; nhưng sợ hãi về nó vẫn còn đó. Thậm chí tôi đã thử qua sự phân tích tâm lý, nhưng việc đó cũng chẳng giúp ích gì cả. Sợ hãi này đã trở thành một vấn đề nặng nề cho tôi; tôi thức giấc nửa đêm bởi những giấc mơ kinh hoàng, và tất cả chúng trong cách này hay cách khác đều liên quan đến chết. Tôi sợ hãi lạ lùng về bạo lực và chết. Chiến tranh là một ác mộng liên tục của tôi, và lúc này tôi thực sự rất bứt rứt. Nó không phải là một loạn thần kinh, nhưng tôi có thể hiểu rằng nó có lẽ trở thành một căn bệnh như thế. Tôi đã làm mọi việc có thể được để kiểm soát sợ hãi này; tôi đã cố gắng chạy trốn nó, nhưng khi chấm dứt sự chạy trốn của tôi tôi đã không thể tống khứ nó đi được. Tôi đã theo dõi vài bài giảng khá ngô nghê về chủ đề tái sanh, và trong chừng mực nào đó đã tìm hiểu triết lý của Phật giáo và Ấn độ giáo trình bày về nó. Nhưng tất cả việc này đã không giải đáp thỏa mãn, ít nhất đối với tôi. Tôi không phải sợ hãi hời hợt, nhưng có một sợ hãi về nó rất sâu thẳm.”

Bạn tiếp cận tương lai, ngày mai, chết như thế nào? Bạn đang cố gắng tìm ra sự thật của vấn đề, hay bạn đang tìm kiếm sự bảo đảm, một khẳng định gây thỏa mãn về vấn đề liệu có sự tiếp tục hay hủy diệt của tâm hồn lẫn thể xác? Bạn cần sự thật hay một trả lời an ủi?

“Khi ông đưa ra những câu hỏi như thế, tôi thực sự không hiểu tôi đang sợ hãi cái gì, nhưng sợ hãi không những hiện diện ở đó mà còn rất khẩn cấp.”

Vấn đề của bạn là gì? Bạn muốn được tự do khỏi sợ hãi, hay bạn đang tìm kiếm sự thật liên quan đến chết?

Ông có ý gì qua cụm từ sự thật liên quan đến chết?”

Chết là một sự kiện không thể tránh khỏi; dù bạn làm bất kỳ việc gì, chết không thể hủy bỏ, dứt khoát, và thực sự. Nhưng bạn muốn biết sự thật về cái gì vượt khỏi chết phải không?

Mọi sự việc tôi đã tìm hiểu và vài hiện tượng được cụ thể hóa mà tôi đã trông thấy tại những buổi cầu đồng khẳng định chắc chắn rằng có loại tiếp tục nào đó sau khi chết. Tư tưởng trong hình thức nào đó tiếp tục, mà chính ông đã xác nhận. Giống như việc phát ra những bài hát, những từ ngữ và những hình ảnh đòi hỏi một vật thâu nhận ở đầu bên kia, vì vậy tư tưởng mà tiếp tục sau khi chết cần có một dụng cụ qua đó nó có thể tự diễn tả. Dụng cụ có lẽ là một người đồng cốt hay tư tưởng có lẽ tự tạo hình hài qua một bộ dạng khác. Tất cả việc này đều khá rõ ràng và có thể được trải nghiệm lẫn hiểu rõ: nhưng mặc dù tôi đã đào sâu vấn đề này rất kỹ càng, vẫn còn có một sợ hãi vô cùng mà tôi nghĩ có liên quan đến chết.”

Chết là điều không thể tránh khỏi. Liên tục có thể được kết thúc, hay nó có thể được nuôi dưỡng và duy trì. Cái có tính liên tục không bao giờ có thể tự làm mới mẻ cho nó. Nó không bao giờ có thể là cái mới mẻ; nó không bao giờ có thể hiểu rõ cái không biết được. Liên tục là thời kỳ kéo dài liên tiếp, và cái liên tục không là cái không thời gian. Qua thời gian, thời kỳ liên tục, cái không thời gian không hiện diện. Phải có kết thúc cho cái mới mẻ hiện diện. Cái mới mẻ không ở trong sự liên tục của tư tưởng. Tư tưởng là chuyển động liên tục trong thời gian; chuyển động này không thể tự bao bọc trong nó một trạng thái tồn tại không thời gian. Tư tưởng được thành lập trên quá khứ; sự tồn tại của nó thuộc thời gian. Thời gian không chỉ là tuần tự theo đồng hồ nhưng nó cũng được hiểu như một chuyển động của quá khứ qua hiện tại đến tương lai; nó là chuyển động của ký ức, của từ ngữ, hình ảnh, biểu tượng, ghi lại, lặp lại. Tư tưởng, ký ức có tánh liên tục qua từ ngữ và lặp lại. Kết thúc của tư tưởng là khởi đầu của cái mới mẻ; chết của tư tưởng là sống vĩnh hằng. Phải có kết thúc liên tục cho cái mới mẻ hiện diện. Cái mới mẻ không có tánh liên tục; cái mới mẻ không bao giờ có thể ở trong lãnh vực của thời gian. Cái mới mẻ chỉ trong chết từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc. Phải có chết hàng ngày cho cái mới mẻ hiện diện. Kết thúc là khởi đầu, nhưng sợ hãi ngăn cản kết thúc.

Tôi biết tôi có sợ hãi, và tôi không biết cái gì vượt khỏi nó.”

Chúng ta có ý gì qua từ ngữ sợ hãi? Sợ hãi là gì? Sợ hãi không là một trừu tượng; nó không tồn tại độc lập, trong cô lập. Nó hiện diện chỉ trong liên hệ với cái gì đó. Trong qui trình của liên hệ sợ hãi tự thể hiện; không có sợ hãi tách rời liên hệ. Bây giờ bạn sợ hãi cái gì? Bạn nói rằng bạn sợ hãi chết. Chúng ta có ý gì qua từ ngữ chết? Mặc dù chúng ta có những lý thuyết, những giả thuyết, và có những sự kiện có thể quan sát được nào đó, chết vẫn còn là cái không biết được. Dù chúng ta có lẽ biết về nó nhiều chừng nào chăng nữa, chết không thể được mang vào lãnh vực của cái đã được biết; chúng ta tạo mọi điều kiện đáp ứng để níu kéo nó, nhưng nó không đồng ý. Liên kết là cái đã được biết, và cái không biết được không thể bị quyến rũ để trở thành thân thiết; thói quen không thể cám dỗ nó, vì vậy có sợ hãi.

Liệu cái đã được biết, cái trí có thể hiểu rõ hay ôm ấp cái không biết được? Bàn tay duỗi dài chỉ có thể thâu nhận cái có thể biết được; nó không thể nắm được cái không thể biết được. Ham muốn trải nghiệm là trao tặng sự liên tục cho tư tưởng; ham muốn trải nghiệm là trao tặng sức mạnh cho quá khứ; ham muốn trải nghiệm là giúp cho cái đã được biết. Bạn muốn trải nghiệm chết, đúng chứ? Mặc dù đang sống, bạn muốn biết chết là gì. Nhưng bạn không biết đang sống là gì phải không? Bạn chỉ biết sống như xung đột, hỗn loạn, thù địch, vui sướng qua nhanh và đau khổ. Nhưng đó là sống hay sao? Đấu tranh và đau khổ là sống à? Trong trạng thái mà chúng ta gọi là sống này chúng ta muốn trải nghiệm cái gì đó không ở trong lãnh vực hiểu biết riêng của chúng ta. Đau khổ này, đấu tranh này, hận thù mà bao bọc trong vui sướng, là điều gì chúng ta gọi là sống; và chúng ta muốn trải nghiệm cái gì đó đối nghịch điều chúng ta gọi là sống. Đối nghịch là sự tiếp tục của cái gì là, có lẽ được bổ sung. Nhưng chết không là đối nghịch. Nó là cái không biết được. Cái có thể biết được khao khát trải nghiệm chết, cái không biết được; nhưng, dù làm gì chăng nữa, nó không thể trải nghiệm chết. Vậy là nó bị sợ hãi; đó là như thế phải không?

Ông đã giải thích nó rõ ràng. Nếu tôi có thể biết hay trải nghiệm chết là gì trong khi sống, vậy là chắc chắn sợ hãi sẽ kết thúc.”

Bởi vì bạn không thể trải nghiệm chết, bạn sợ hãi nó. Liệu ý thức có thể trải nghiệm trạng thái đó mà không thể được đưa vào lãnh vực của ý thức? Cái có thể trải nghiệm được là sự chiếu rọi của ý thức, cái đã được biết. Cái đã được biết chỉ có thể trải nghiệm cái đã được biết; trải nghiệm luôn luôn ở trong lãnh vực của cái đã được biết; cái đã được biết không thể trải nghiệm cái gì vượt khỏi lãnh vực của nó. Đang trải nghiệm hoàn toàn khác hẳn trải nghiệm. Đang trải nghiệm không ở trong lãnh vực của người trải nghiệm. Nhưng khi đang trải nghiệm mờ dần, người trải nghiệm và vật được trải nghiệm hiện diện, và thế là đang trải nghiệm được đưa vào lãnh vực của ý thức. Người biết, người trải nghiệm, khao khát trạng thái đang trải nghiệm cái không biết được; và bởi vì người trải nghiệm, người biết, không thể thâm nhập trạng thái đang trải nghiệm, anh ấy bị sợ hãi. Anh ấy là sợ hãi, anh ấy không tách khỏi nó. Người trải nghiệm về sự sợ hãi không là một người quan sát về nó; anh ấy là chính sự sợ hãi, chính sự phát khởi của sợ hãi.

Ông có ý gì qua từ ngữ sợ hãi? Tôi biết tôi sợ hãi chết. Tôi không cảm thấy rằng tôi là sợ hãi, nhưng tôi sợ hãi về cái gì đó. Tôi sợ hãi và tách khỏi sự sợ hãi. Sợ hãi là một cảm giác riêng biệt hẳn cái “tôi” đang quan sát nó, đang phân tích nó. Tôi là người quan sát, và sợ hãi là vật được quan sát. Làm thế nào người quan sát và vật được quan sát có thể là một?”

Bạn nói rằng bạn là người quan sát và sự sợ hãi là vật được quan sát. Nhưng đó là như thế sao? Bạn là thực thể tách khỏi những phẩm chất của bạn sao? Bạn không giống hệt những phẩm chất của bạn à? Bạn không là những phẩm chất, những suy nghĩ của bạn, và vân vân? Bạn không tách khỏi những phẩm chất, những suy nghĩ của bạn. Bạn là những suy nghĩ của bạn. Tư tưởng tạo ra cái “bạn,” thực thể giả sử tách rời, nếu không có tư tưởng, người suy nghĩ không còn. Bởi vì nhìn thấy sự tạm thời của chính nó, tư tưởng sáng chế người suy nghĩ, cái vĩnh cửu, cái cố định; và sau đó người suy nghĩ trở thành người trải nghiệm, người phân tích, người quan sát tách khỏi cái ngắn ngủi. Tất cả chúng ta thèm khát loại vĩnh cửu nào đó, và bởi vì nhìn thấy sự tạm thời quanh quanh chúng ta, tư tưởng sáng chế người suy nghĩ, mà tưởng là vĩnh cửu. Sau đó người suy nghĩ tiến hành thiết lập những trạng thái vĩnh cửu cao hơn và khác hẳn: linh hồn, cái ngã, cái tôi cao hơn, và vân vân. Tư tưởng là nền tảng của toàn cấu trúc này. Nhưng đó là một vấn đề khác. Chúng ta quan tâm đến sợ hãi. Sợ hãi là gì? Chúng ta hãy xem thử nó là gì.

Bạn nói bạn sợ hãi chết. Bởi vì bạn không thể trải nghiệm nó, bạn sợ hãi nó. Chết là cái không biết được, và bạn sợ hãi cái không biết được. Đó là như thế phải không? Bây giờ, bạn có thể sợ hãi cái bạn không biết sao? Nếu cái gì đó không biết được đối với bạn, làm thế nào bạn có thể sợ hãi nó? Bạn thực sự không sợ hãi cái không biết được, chết, nhưng sợ hãi mất đi cái đã được biết, bởi vì việc đó có lẽ gây ra đau khổ, hay tước đoạt vui thú của bạn, thỏa mãn của bạn. Chính cái đã được biết gây ra sự sợ hãi, không phải cái không biết được. Làm thế nào cái không biết được có thể gây ra sự sợ hãi? Nó không thể đo lường dựa vào vui thú và đau khổ: nó là không biết được.

Sợ hãi không thể tồn tại một mình; nó xảy ra trong liên hệ với cái gì đó. Thực ra bạn sợ hãi cái không biết được khi liên quan đến chết, đúng chứ? Bởi vì bạn bấu víu cái không biết được, bấu víu một trải nghiệm, bạn sợ hãi tương lai có lẽ là gì. Nhưng “cái gì có lẽ là”, tương lai, chỉ là một phản ứng, một phỏng đoán, đối nghịch của cái gì là. Đây là như thế, phải không?

Điều đó có vẻ đúng.”

Và bạn biết cái gì là không? Bạn hiểu rõ nó chứ? Bạn đã mở cái tủ của cái đã được biết và nhìn nó chưa? Bạn cũng không sợ hãi cái gì bạn có lẽ khám phá ở đó sao? Bạn chưa từng tìm hiểu cái đã được biết, tìm hiểu cái gì bạn sở hữu à?

Không, tôi chưa từng. Tôi luôn luôn quen thuộc với cái đã được biết. Tôi đã chấp nhận quá khứ như người ta chấp nhận ánh sáng mặt trời hay mưa. Tôi chưa bao giờ suy xét về nó; người ta hầu như không ý thức được nó, bởi vì người ta là cái bóng của người ta. Lúc này bởi vì ông đề cập đến nó, tôi nghĩ rằng tôi cũng sợ hãi phải tìm ra cái gì có lẽ ở đó.”

Không phải hầu hết chúng ta đều sợ hãi phải nhìn thấy chính chúng ta hay sao? Chúng ta có lẽ phát giác những sự việc khó chịu, vì vậy tốt hơn chúng ta không nên nhìn thấy. Chúng ta thích không biết về cái gì là hơn. Chúng ta sợ hãi không những về cái gì có lẽ là trong tương lai mà còn về cái gì có lẽ là trong hiện tại. Chúng ta sợ hãi phải biết chính chúng ta như chúng ta là, và sự lẩn tránh cái gì là này đang làm cho chúng ta sợ hãi cái gì có lẽ là. Chúng ta tiếp cận cái tạm gọi là đã được biết bằng sợ hãi, và cũng thế với cái không biết được, chết. Lẩn tránh cái gì là là ham muốn cho sự thỏa mãn. Chúng ta đang tìm kiếm an toàn, liên tục đang đòi hỏi rằng sẽ không có phiền muộn. Và chính ham muốn không bị phiền muộn này làm cho chúng ta lẩn tránh cái gì là và sợ hãi cái gì có lẽ là. Sợ hãi là không biết cái gì là, và sống của chúng ta bị lãng phí trong một trạng thái sợ hãi liên tục.

Nhưng làm thế nào người ta có thể loại bỏ sợ hãi này?”

Muốn loại bỏ cái gì đó, bạn phải hiểu rõ nó. Liệu có sợ hãi, hay chỉ là ham muốn để không thấy? Chính ham muốn để không thấy mang lại sợ hãi; và khi bạn không muốn hiểu rõ ý nghĩa đầy đủ của cái gì là, sợ hãi hành động như một ngăn ngừa. Bạn có thể sống một cuộc sống thỏa mãn bằng cách cố ý lẩn tránh tìm hiểu cái gì là, và nhiều người làm việc này; nhưng họ không có hạnh phúc, cũng giống như những người tự làm khuây khỏa họ bằng sự tìm hiểu hời hợt. Chỉ những người nghiêm túc trong tìm hiểu của họ có thể ý thức được trạng thái hạnh phúc; cho riêng họ, một mình, có tự do khỏi sợ hãi.

Vậy thì làm thế nào người ta sẽ hiểu rõ cái gì là?”

Cái gì là sẽ được thấy trong cái gương của liên hệ, liên hệ với tất cả sự việc sự vật. Cái gì là không thể được hiểu rõ trong rút lui, trong cô lập; nó không thể được hiểu rõ nếu có người giải thích, người truyền đạt mà phủ nhận hay chấp nhận. Cái gì là có thể được hiểu rõ chỉ khi nào cái trí tuyệt đối thụ động, khi nó không đang vận hành trên cái gì là.

Không cực kỳ khó khăn để ở trong trạng thái tỉnh thức thụ động hay sao?”
Khó chứ, chừng nào còn có tư tưởng.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/04/201320:00(Xem: 4333)
Các nhà phân tích cho rằng trình duyệt Firefox do Ross tạo ra có tốc độ nhanh hơn, đa năng hơn và bảo vệ người dùng tốt hơn trước virus và phần mềm gián điệp so với Internet Explorer.
27/06/201721:31(Xem: 1422)
Khoảng 2.500 thành viên gia đình, bạn bè và người dân bang Ohio đã đến cầu nguyện trong đám tang Otto Warmbier, sinh viên Mỹ tử vong sau khi bị hôn mê trong nhà tù ở Triều Tiên. Hàng ngàn người tham dự đã xếp thành 2 hàng khi quan tài của Otto được đưa vào Trường Trung học Wyoming làm lễ tang. Đây là ngôi trường học cũ của Otto Warmbier hồi trung học.
08/04/201319:59(Xem: 4773)
Hôm Thứ Tư tuần qua, bệnh viện Alfred ở vùng South Melbourne đã rút ống tiếp tế thực phẩm và nước uống cho bà Maria Korp, 50 tuổi, theo lệnh của ông Julian Gardner, người được VCAT (Tòa án Hành chánh và Dân sự Victoria) cấp cho nhân quyền làm giám hộ (Public Advocate) bà Maria Korp từ hồi tháng 4 vừa qua.
12/02/201501:36(Xem: 5039)
Trong Kinh Bát Dương có nói rằng:”Sanh hữu hạn, tử bất kỳ”; nghĩa là: “sanh có thời gian, chết chẳng ai biết được”. Điều nầy có nghiã là: khi chúng ta được sanh ra trong cuộc đời nầy, cha mẹ, Bác sĩ có thể đóan chừng ngày tháng nào chúng ta ra đời. Vì họ là những chủ nhân của việc tạo dựng ra sanh mạng của chúng ta; nhưng sự chết, không ai có thể làm chủ được và không ai trong chúng ta, là những người thường, có thể biết trước được rằng: ngày giờ nào chúng ta phải ra đi khỏi trần thế nầy cả. Do vậy Đạo Phật gọi cuộc đời nầy là vô thường.
08/04/201319:58(Xem: 5603)
Sau khi Raymond Moody xuất bản quyển Life after life vào năm 1975, công chúng phương Tây ngày càng quan tâm đến kinh nghiệm cận tử (KNCT). Các tiến bộ không ngừng của kỹ thuật Y-sinh học đã làm hồi sinh nhiều người : trước đây đã được xem là đã chết lâm sàng. Hai phần ba số người này không nhớ gì cả.
04/08/201007:14(Xem: 1950)
Trong những lần trước, chúng ta đã tìm hiểu về đời sống bên kia cửa tử qua lời kể của những người đã chết rồi hồi sinh (Near death experience). Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu về những áp lực vật chất đối với những người vừa từ trần. Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cấi trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có l điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để thỏa mãn nên bị dục vọng hành hạ biến thành một loài quỷ đói. Theo các sách vở viết về thế giới bên kia thì đay là một cõi được cấu tạo bằng những chất liệu rất thanh và nhẹ so với nguyên tử cõi trần nên muốn sống một cách thảnh thơi, các vong linh khi qua đay phải biết loại bỏ đi những phần tử nặng trược tích tụ trong kiếp sống ở cõi trần như dục vọng, sự quyến luyến, lòng ham ăn uống hay đòi hỏi xác thịt.
12/11/201517:08(Xem: 5631)
Những năm trước, nhân đọc một bài pháp thoại, một vị Thiền sư hỏi những người đệ tử của mình, cuộc sống dài bao lâu? Có người bảo 100 năm, 75 năm, 50 năm, 25 năm, v.v... Nhưng câu trả lời của vị Thiền sư đó là: “Cuộc sống chỉ dài như một hơi thở”, vì nếu một hơi thở vào, mà không ra hoặc ngược lại, tức khắc chúng ta từ giã cuộc đời này. Tự nhiên, khi ngắm hoa Quỳnh nở rồi tàn trong một đêm trăng tròn Mười Sáu, chợt nhớ bài pháp thoại năm nao, tâm cảnh hữu tình mà sáng tác một bài thơ: Nếu cuộc sống dài như hơi thở, Ta làm gì giữa hơi thở trong ta?
28/06/201313:15(Xem: 4883)
HỎI: Bạn có tin tưởng tái sinh không? ĐÁP: Vâng, tôi tin. Nhưng, phải lâu lắm tôi mới đạt đến điểm này. Tin tưởng tái sinh không đến một cách ngay lập tức. Một số người có thể đến từ một truyền thống tin tưởng ở tái sinh như một phần trong nếp sống văn hóa. Đây là trường hợp trong nhiều quốc gia Á châu, và vì thế, vì người ta đã từng nghe về tái sinh từ khi họ còn là những thiếu niên, sự tin tưởng điều ấy trở thành một cách tự động. Tuy nhiên, những điều ấy đối với chúng ta từ những nền văn hóa Tây phương, nó dường như lạ lùng lúc ban đầu. Chúng ta thường không dễ bị thuyết phục trong vấn đề tái sinh ngay tức thì, với những cầu vồng và âm nhạc phía sau lưng và “Chúa nhân từ ơi! Bây giờ tôi tin!” Nó không thường hoạt động như thế.
01/07/201114:04(Xem: 2797)
Số đông quần chúng cần một thời gian dài mới quen thuộc với ý niệm về tái sinh. Tôi cũng đã trải qua nhiều giai đoạn trong tiến trình đưa đến sự xác tín vào tái sinh.
05/05/201113:44(Xem: 2156)
Cuối cùng thì một con đường vô thường này mỗi người chúng ta đều phải đối diện! Tuy nhiên, Phật A-di-đà đã từng phát đại nguyện muốn cứu độ tất cả chúng sanh niệm Phật.