Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

2. Năm Tội Vô Gián

03/05/201119:55(Xem: 3177)
2. Năm Tội Vô Gián

KINHLĂNG GIÀ
LĂNGGIÀA BẠT ĐA LA BỬU KINH
PhápSư Tam Tạng Ấn Độ Cầu Na Bạt Đà La dịch từ Phạn sangHán đời nhà Tống.
ViệtDịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

QUYỂNTHỨ BA

CHÁNHVĂN :

Khiấy, Đại Huệ bồ tát bạch Phật rằng :

- ThếTôn! Như Thế Tôn nói "Thiện nam, tín nữ hành nghiệp NgũVô Gián mà chẳng đọa địa ngục A Tỳ". Thế Tôn! Tại saothiện nam, tín nữ hành nghiệp Ngũ Vô Gián mà chẳng đọađịa ngục A Tỳ?

Phậtbảo Đại Huệ :

- Hãychú ý nghe và khéo ghi nhớ, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

ĐạiHuệ bồ tát bạch Phật rằng:

- Lànhthay thế Tôn! Cúi xin thọ giáo.

Phậtbảo Đại Huệ:

- Thếnào là nghiệp NGŨ VÔ GIÁN? Ấy là giết cha mẹ, hại La Hán,phá hòa hợp tăng, ác tâm làm thân Phật ra máu.

- ĐạiHuệ! Nói GIẾT CHA MẸ ở đây là ám chỉ hai thứ căn bảncủa sự thọ sanh, do tham ái làm mẹ, vô minh làm cha, đoạndứt hai thứ căn bản ấy, gọi là giết cha mẹ.

- Thếnào là HẠI LA HÁN? Dụ như con chuột bị độc chết, thìnhững tai hại do con chuột gây ra đều chẳng sanh khởi nữa,cũng như các pháp phiền não tập khí cứu cánh đoạn dứt,gọi là hại La Hán.

- Thếnào là PHÁ HÒA HƠ.P TĂNG? Là nói các tướng tập khí phiềnnão khác nhau của ngũ ấm hòa hợp tích tụ, tất cả đềuđược đoạn dứt, gọi là phá hòa hợp Tăng.

- Thếnào là ÁC TÂM LÀM THÂN PHẬT RA MÁU? Vì chẳng biết bản thểcủa bảy thứ thức là do tự tâm biến hiện, chẳng ngoàitự tướng cộng tướng, nay dùng ác tâm (tâm mãnh liệt) củaTam Vô Lậu giải thoát (Không, Vô tướng, Vô nguyện) đểđoạn dứt bảy thứ thức nơi tự tánh Phật, gọi là áctâm làm thân Phật ra máu. Nếu thiện nam, tín nữ hành nhữngviệc vô gián này, gọi là ngũ Vô Gián, cũng gọi là ĐẳngVô Gián.

- Lạinữa, Đại Huệ! Có pháp ngoài Ngũ Vô gián, nay ta sẽ thuyết,ngươi và các Đại bồ tát nghe nghĩa này rồi, nơi đời vịlai chẳng đọa ngu si.

- Thếnào là NGOÀI NGŨ VÔ GIÁN? Nghĩa là nếu người muốn chứngđắc pháp Ngũ Vô Gián kể trên, mà thực hành theo ba cửagiải thoát (Không, Vô tướng, Vô nguyện trong kinh Đại BátNhã) thì mỗi mỗi đều chẳng thể chứng đắc pháp Ngũ VôGián, như dùng cửa KHÔNG cũng chẳng thể chứng đắc, dùngcửa VÔ TƯỚNG cũng chẳng thể chứng đắc, dùng cửa VÔNGUYỆN cũng chẳng thể chứng đắc, nên nói ở ngoài NgũVô Gián.

- Ngoạitrừ pháp này ra, còn có các pháp, nhờ thần lực biến hóamà hiện Vô Gián. Như thần lực biến hóa của Thanh Văn, thầnlực biến hóa của Bồ Tát, thần lực biến hóa của NhưLai v.v... Đối với những kẻ tạo tội Vô Gián, vì sự sámhối tội lỗi và trừ nghi cho họ, cũng vì khuyến phát nhânlành cho họ, nên nhờ thần lực biến hóa mà hiện Vô Gián.Trừ khi người giác được tự tâm hiện lượng, lìa đượcvọng tưởng thân tài, lìa sự nhiếp thọ ngã và ngã sở,hoặc lúc gặp thiện tri thức khiến khai ngộ bản tâm thìmới được giải thoát sự sanh tử tương tục nơi các cõi,chứ chẳng phải trước kia đã tạo tội Vô gián mà chẳngbị đọa địa ngục Vô Gián vậy.

Lượcgiải :

"Bacửa Giải Thoát" tại sao chẳng thể chứng đắc pháp NgũVô Gián? Vì pháp đã Không, Vô tướng, Vô nguyện thì năngsở đều bặt, dĩ nhiên không có kẻ năng chứng để chứngcái pháp sở chứng, thì làm sao có sự chứng đắc ư?

Nóivề THẦN LỰC BIẾN HÓA, cũng như năm trăm vị Tỳ Kheo tronghội Linh Sơn, đã đắc bốn thứ thiền định và năm thứthần thông, nhưng chưa đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, nhờ sức thầnthông của Túc Mạng Trí, mỗi mỗi tự thấy quá khứ giếtcha hại mẹ và tạo nhiều tội nặng khác, nên trong tâm tựhoài nghi, do đó chẳng thể chứng nhập pháp thâm sâu. Chonên, Văn Thù bồ tát thừa oai thần Phật, bèn dùng tay cầmgươm bén bức bách Như Lai (dụ cho ác tâm làm thân Phật chảymáu, cũng là một phương tiện để độ năm trăm vị TỳKheo). Khi ấy, Thế Tôn bảo Văn Thù bồ tát rằng : ỏỏThôi,thôi! Chớ nên phản nghịch hại ta; Ta ắt sẽ bị hại, ấylà khéo bị hại. Tại sao? Vì Văn Thù bồ tát xưa nay đãchẳng có tướng nhân ngã. Chỉ vì trong tâm họ (năm trămvị Tỳ Kheo) thấy có nhân ngã, khi nội tâm sanh khởi ngã,thì sẽ bị hại (người tu ắt phải phá ngã chấp), nên gọilà hại ỏỏ. Khi ấy, năm trăm vị Tỳ Kheo tự ngộ bảntâm như mộng, như huyễn, nơi mộng huyễn chẳng có nhân ngã,cho đến chẳng có cái năng sanh, sở sanh của cha mẹ, do đó,năm trăm vị Tỳ Kheo đồng thanh tán thán rằng:

-Văn Thù bậc Đại Trí, thấu tận đáy các pháp, khéo dùngphương tiện bức bách Như Lai, thị hiện dùng gươm bén (nănghại) và thân Phật (sở hại) đều do tâm tạo, một tướngchẳng có hai, Vô Tướng ắt Vô Sở Sanh, thì làm sao có sựgiết hại kia!

Naynói thần lực biến hóa của Như Lai, là dùng phương tiệnkhiến những kẻ tạo tội Vô Gián đều được giải thoát,cũng chứng tỏ "Nhất thiết duy tâm tạo" vậy.

Lượcgiải hết

CHÁNHVĂN

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Thamái gọi là mẹ,

Vôminh gọi là cha.

"Thức"giác ngộ là Phật,

Phiềnnão là La Hán

Ngũấm gọi là Tăng,

Hànhvô gián đoạn ác.

Gọilà Ngũ Vô Gián,

Chẳngđọa ngục A Tỳ.

Khi ấy,Đại Huệ bồ tát lại bạch Phật rằng :

- ThếTôn! Cúi xin vì đại chúng giảng thuyết thế nào là tri giáccủa Phật?

Phậtbảo Đại Huệ :

- Giácđược nhân và pháp Vô Ngã, liễu tri hai chướng phiền nãovà sở tri, lìa hai thứ sanh tử phần đoạn và biến dịch,đoạn dứt hai thứ phiền não vô minh và ái nghiệp, ấy gọilà tri giác của Phật. Thanh Văn, Duyên Giác đắc được phápnày cũng gọi là Phật, do nhân

duyênnày Ta thuyết Nhất Thừa.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Khéobiết hai vô ngã

Haichướng phiền não dứt

Lìahẳn hai sinh tử

Gọilà tri giác Phật.

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Thế Tôn rằng :

-Cúi xin Phật thuyết tướng nhân duyên của tất cả các pháp,do giác đựơc tướng nhân duyên, khiến con và các Bồ Tátđược lìa tất cả tánh của vọng kiến hữu vô, chẳng vọngchấp các pháp tiệm sanh, hoặc đốn sanh, hoặc tiệm đốncộng sanh.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Tấtcả pháp có hai thứ duyên tướng, là ngoại duyên và nộiduyên. Ngoại Duyên là : Cục đất, cây cọc, bánh xe, sợidây, nước, gỗ, nhân công, các thứ phương tiện làm duyên,sanh ra cái bình như bình đất, còn các thứ tơ, lụa, látchiếu, giống mầm, tô lạc v.v... do ngoại duyên phương tiệnsanh ra cũng như thế. Ấy gọi là tướng Ngoại Duyên.

- Thếnào là Nội Duyên? Vì có vô minh ái nghiệp các pháp hòa hợpgọi là năng duyên, từ đó sanh khởi các pháp ấm, giới,nhập, gọi là sở duyên. Các pháp do tự tâm sở hiện vốnchẳng sai biệt, mà phàm phu vọng chấp, thành có sai biệt,ấy gọi là pháp Nội Duyên.

- ĐạiHuệ! Nói về Nhân gồm có sáu thứ, ấy là : Đương hữunhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Tác nhân, Hiển thị nhân,Đối đãi nhân.

1.Đương Hữu Nhân : Vì thức thứ tám từ vô thỉ đến nayhay làm nhân cho tất cả pháp, từ nhân sanh quả, bất khảtư nghì, đương lúc đó làm nhân, nên gọi là Đương HữuNhân.

2.Tương Tục Nhân : Vì bên trong nương thức thứ tám và thứcthứ sáu, phan duyên ngoại cảnh, từ đó pháp trong ngoài làmnhân sanh quả như ngũ ấm chủng tử v.v... do hiện hành huântập chủng tử, lại do chủng tử huân tập hiện hành, màquả nhiễm tịnh theo đó liên tục sanh khởi chẳng dừng,nên gọi là Tương Tục Nhân.

3.Tướng Nhân : Do cái đẳng Vô Gián Duyên ( duyên chẳng giánđoạn ) làm ra tướng Vô Gián, sanh ra quả tương tục. Nơitương tục có tướng Vô Gián đã lìa nơi nhân mà chưa đếnnơi quả, vì nó chẳng gián đoạn cho nên tương tục. Vì ởnơi chính giữa của nhân và quả mà có tướng,, nên gọilà Tướng Nhân.

4.Tác Nhân : Tức là tăng thượng duyên, ấy là tạo nghiệptăng thượng mà sanh ra quả, cũng như Chuyển Luân Vương, dothân thể chứng đắc Luân Vương làm bản nhân mà bánh xeThất Bửu từ hư không bay đến, ấy là sự tăng thượng.Vì cảnh chẳng thể sanh quả, phải nhờ tâm làm tăng thượng,Luân Vương mới có thể làm ra thắng nhân. Vì tâm làm tăngthượng duyên cho cảnh ( bánh xe bay ), nên gọi là Tác Nhân.

5.Hiển Thị Nhân : Sự vọng tưởng sanh rồi thì hiện cái tướngnăng tác, sở tác, như cây đèn chiếu soi hiển thị sắc tướngv. v... gọi là Hiển Thị Nhân.

6.Đối Đãi Nhân : Là lúc pháp diệt thì sự tương tục đoạnđứt, mà ngay đó tánh ''chẳng vọng tướng'' sanh khởi. ĐạiHuệ! Tự tướng vọng tưởng của phàm phu chẳng lần lượtsanh, chẳng cùng chúng sanh. Tại sao? Nếu cùng lúc sanh thìchẳng phân biệt được năng tác, sở tác, vì chẳng có tướngnhân. Nếu lần lượt sanh thì chẳng có tự tướng, cho nênchẳng thể có lần lượt sanh, như chẳng sanh con thì khôngđược gọi là cha. Đại Huệ! Vì cha với con làm nhân đốiđãi với nhau, không có cha thì không sanh được con, khôngcó con thì không được gọi là cha; cha con đối đãi nhau màsanh, nên gọi là Đối Đãi Nhân.

- ĐạiHuệ! nói tóm lại, các thứ tướng sanh đều do các thứ nhâncủa tự tánh vọng tưởng chấp tướng mà sanh. Vì tự tâmhiện ra thọ dụng mà có tự tướng, cộng tướng, ngoạitánh, phi tánh; thực ra Lần Lượt Sanh và Cùng Lúc Sanh haithứ đều chẳng thể sanh. Cho nên phải lìa hai thứ kiếnchấp đó.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tấtcả đều Vô sanh,

Cũngkhông nhân duyên diệt.

Ởnơi tướng sanh diệt,

Màkhởi nhân duyên tưởng.

Phápdiệt rồi lại sanh,

Donhân duyên tương tục.

Vìđoạn dứt si mê,

Củatất cả chúng sanh.

Nênthuyết pháp duyên khởi,

Cácpháp thật Vô Sanh.

Dotập khí mê hoặc,

Từđó hiện tam giới.

Duyênthật vốn Vô Sanh,

Lạicũng chẳng có diệt.

Tấtcả pháp hữu vi,

Nhưhoa đốm trên không.

Nếulìa bỏ kiến chấp,

Năngnhiếp và sở nhiếp.

Chẳngcó Vô nhân sanh,

Vàđã sanh, sẽ sanh.

Sựsanh vốn chẳng có,

Thảychỉ là ngôn thuyết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn