Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: Nguyên Tạng   

Sự thật về Tập (samudaya-satya)

19/02/201108:10(Xem: 4838)
Sự thật về Tập (samudaya-satya)

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

BỐNSỰ THẬT
(catur-vidhaṃsatyam)

II-SỰ THẬT VỀ TẬP (samudaya-satya):

Còngọi là nguyên nhân của khổ: Nhận thức đúng về tất cảnghiệp hoặc phiền não, chúng có khả năng nhóm họp tíchchứa quả khổ sinh tử ba cõi luân hồi. Sự thật về Tậplà sự thật chỉ cho quan hệ duyên khởi cùng căn nguyên nguồngốc mọi thứ khổ của chúng sanh ở trong thế gian này. Sựthật thứ hai là sự thật tập khởi về sự phát sinh haynguồn gốc của khổ (Dukkhasamudaya - ariyasacca). Định nghĩavề chân lý thứ hai, được đức Đạo sư giảng dạy chođồ chúng rải rác trong ba tạng giáo điển; trong giáo lýkhởi nguyên cũng như giáo lý phát triển sau này của các bộphái, trong đó có cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Chúng tatìm thấy sự thật này qua các văn bản được kết tập lạisau này. Trong rất nhiều bản kinh nguyên thủy cũng như pháttriển sau này đều ghi nhận ái (Skr. tṛṣṇā, priya; Pāli.Piya, taṇhā) là đầu mối trực tiếp phát sinh ra sự táisinh của tất cả chúng sanh trong ba cõi, sáu đường. Như trongkinh Tạp A-hàm 49, kinh số 1307, Đ. 2, tr. 259, đức Phật đãđịnh nghĩa về sự thật thứ hai đối với sắc tập khởi:“Thế nào là sắc tập khởi? là tham ái đối với hữu vivị lai câu hữu với tham, hỷ, mê đắm nơi này hay nơi kia.Đó gọi là sự tập khởi của thế giới.” Qua đó, tùythuộc vào căn cơ của tất cả chúng sinh trong ba cõi mà áiđược đức Đạo sư trình bày giảng dạy:

1-Đầu tiên ái là một chi trong mười hai chi được đức Phậtđề cập trong mười hai nhân duyên, chỉ cho lòng tham luyếnchấp trước đối với tất cả mọi sự vật trên đời nóichung; ngay đến vấn đề yêu-ghét cũng đều từ gốc ái màphát sinh, như Tăng-chi-bộ kinh đức Phật dạy: “Ái có thểsinh ra ái (yêu), cũng có thể sinh ra ghét; và ghét có thểsinh ra yêu, cũng có thể sinh ra ghét.” Do đó ở đây, áiphục vụ cho cả ba độc tham, sân, si, là nguyên nhân trựctiếp gây ra nghiệp nhân, khiến cho tất cả mọi chúng sanhluân hồi tái sinh trong ba cõi sáu đường theo chiều lưu chuyểncủa mười hai nhân duyên. Vì sự ham muốn, khao khát, thèmthuồng, xuất hiện dưới nhiều hình thức của ái, nên đãphát sinh không biết bao nhiêu hình thái khổ đau của sanh tử.Nhưng đấy chỉ là nguyên nhân trực tiếp chứ chưa phảilà nguyên nhân đầu tiên; vì theo Phật, mọi sự vật đềutương quan, tương liên phụ thuộc vào nhau, nên không có bấtcứ một nguyên nhân đầu tiên nào. Ngay cả ái được xemnhư nguyên nhân phát sinh hay nguồn gốc của đau khổ, nhưngnó cũng tùy thuộc vào một cái khác để phát sinh ra nó, đólà “thọ” (vedanā), và “thọ” muốn hiện hữu cũng phảitùy thuộc vào “xúc” (sparśa) và cứ thế nối tiếp nhautrên một vòng tròn mà thuật ngữ Phật học gọi là Duyênsinh (Skt: pratiya-samutpāda; Pāli: Paticca-samuppāda).

Tuyái, không phải là nguyên nhân đầu hay nguyên nhân duy nhấtcủa sự phát sinh ra khổ đau, nhưng nó là nguyên nhân trựctiếp và rõ ràng nhất mà chúng ta có thể nhận thấy trongchính cuộc sống của chúng ta, cũng chính là nguyên nhân chínhyếu và phổ quát nhất. Trong những nguyên bản Pāli tạng,và Hán tạng của Phạn văn định nghĩa về Tập bao gồm cảnhững xấu xa bất tịnh, và kể cả những gì tốt đẹp trongsạch cũng được thêm vào “ái” lúc nào cũng được nêura trước như trong Tăng-chi-bộ kinh đã dẫn ở trên. Tronggiới hạn bài này, ta chỉ cần nhớ rằng trọng tâm của“ái” này là ý niệm chấp thủ sai lầm về ngã và phápphát sinh vì vô minh nên chúng ta phải chịu lưu chuyển táisinh trong ba cõi sáu đường.

Vàcũng từ ái này chuyển sinh ra thân ái (pema), dục lạc (rati),dục ái (kāma) tùy theo các duyên quan hệ mà ái phát sinh. Nếuquan hệ tình cảm thương yêu theo thân tộc huyết thống đốivới cá nhân mỗi người thì gọi là ái; đối với tình cảmbạn bè thân hữu không phải là dòng họ bà con thì gọi làthân ái; đối với một ai đó mà mối quan hệ tình cảm yêuthương đặc biệt dẫn đến khoái lạc đam mê vật chấtthì gọi là dục lạc; đối với những khát khao mong muốnvề những khoái lạc giác quan nói chung trong tính quan hệ tìnhcảm thương yêu thì gọi là dục ái. Đó chính là những đầumối đưa đến sự tái sinh của mọi chúng sanh trong ba cõi.

2-Thứ hai ái là một trong chín kết (cửu kết) gọi là ái kết.Là kết đầu trong chín kết, hay còn gọi là tùy thuận kết.Theo định nghĩa trong Đại Tỳ-bà-sa luận thì: Ái kết chỉcho lòng tham của ba cõi; nhưng lòng tham của ba cõi ở trongchín kết gọi chung là ái kết, và trong sáu tùy miên thì tùymiên đầu là tham. Tùy miên được phân ra làm hai: dục thamtùy miên (chỉ cho dục giới) và hữu tham tùy miên (chỉ chosắc và vô sắc giới), nên còn gọi là bảy tùy miên. Nhưngtheo một số kinh khác thì thiết lập tam ái: Dục ái, sắcái và vô sắc ái. Vì vậy cho nên lòng tham của ba cõi gọichung là ái kết. Có kinh đức Phật còn dạy có ba ái nhưdục ái (kāma-tṛṣṇā) chỉ cho lòng khát khao ham muốn, chấpgiữ che dấu, tham đắm ái nhiễm trong cõi dục; hữu ái (bhava-tṛṣṇā)chỉ cho lòng khao khát ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắmái nhiễm các cõi sắc và vô sắc; và vô hữu ái (vibhava-tṛṣṇā)có nơi còn gọi là diệt ái chỉ cho lòng khát khao ham muốnpháp Niết-bàn chân không.

3-Thứ ba chỉ cho hai ái: không nhiễm ô và nhiễm ô. Tâm khôngnhiễm ô là chỉ cho yêu thích pháp, yêu mến thầy và cácbậc tôn trưởng, nơi mọi người đặt niềm tin vào đó đểmong cầu đưa đến an vui hạnh phúc; tâm nhiễm ô là chỉcho lòng ham thích vợ chồng con cái và các thứ dục lạc trênđời về tinh thần lẫn vật chất, mà chúng có thể kéo chúngta đi đến khổ đau sau đó.

Đólà ba sự thể hiện trong sự có mặt của ái trong cuộc sốngcủa chúng ta. Như vậy, từ “ái” không những chỉ bao gồmsự ham muốn, đam mê trói buộc nhau qua những khoái lạc giácquan, tài sản và thế lực thuộc về vật chất mà còn làsự ham muốn, ràng buộc về tinh thần với những tư tưởng,ý nghĩ, quan niệm, lý thuyết, khái niệm và sự tin tưởngvề những gì mà chúng ta ham muốn được sở hữu. Theo đứcPhật, tất cả mọi thứ rắc rối xung đột và tranh chấptrên thế gian đều xuất phát từ những sự va chạm vụnvặt trong gia đình giữa cá nhân với cá nhân, phát sinh từtự ái cá nhân cho đến tự ái tập thể về màu da, sắctộc, tôn giáo, ý thức hệ chính trị; theo đó những cuộckhủng bố lẫn nhau về cả hai mặt vật chất và tinh thầncùng những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các quốc gia vớinhau, đều phát sinh do lòng tự “ái” vị kỷ này. Tất cảmọi vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội đều bắt nguồntừ cội rễ do lòng tham vị kỷ mà ra. Và những thành tựucủa chúng về mặt vật chất có những tiến bộ vượt bực,nhưng bên cạnh đó chúng nảy sanh ra những tệ hại và bấtổn khác về tinh thần càng ngày càng trở nên sâu sắc hơn,trong những mưu đồ bất chính qua những thủ đoạn càng ngàycàng tinh vi về mọi mặt, chúng có thể giết người hàngloạt, có thể tiêu diệt mọi thứ trong nháy mắt. Những tựái cá nhân trước kia, bây giờ chúng núp dưới những chiêubài tự ái tập thể, để có thể nhân danh chân lý này, chânlý nọ mà thực hiện những cuộc chiến tranh, những cuộckhủng bố đẫm máu về vật chất, cũng như những khủngbố về tinh thần, làm cho con người không còn tự làm chủchính mình được nữa mà phải cúi đầu vâng dạ làm theonhững dục vọng điên cuồng của bọn ma đầu trục lợi.Chúng nuôi lớn những dục vọng cá nhân của chúng qua dụcvọng tập thể. Cho dù có những nhà đại chính khách muốndàn xếp những tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia vớicác quốc gia, nhưng họ chỉ đứng trên mặt hiện tượngmà giải quyết và dàn xếp thì những việc làm này cũng chỉđi phớt bên ngoài, trong lúc những di hại từ gốc rễ củachúng lại không giải quyết. Như đức Phật đã dạy Rattapàla:“Thế gian thiếu thốn, khát khao và bị nô lệ cho dục vọng.”(sđd,tr. 24)

Vậy,theo đức Phật, muốn giải quyết vấn đề này, là phảigiải quyết ngay gốc rễ của chúng đó, chính là lòng khátái dục vọng. Dầu cho vật chất của thế giới này tiệnnghi tiến bộ đi đến đâu đi nữa, nhưng so với lòng dụcvọng tham muốn khát khao, của con người vẫn không sao lấpđầy được, vì lòng tham này là lòng tham không đáy. Cũngdo điều này mà mọi vấn đề rắc rối luôn luôn hiện hữu,những giải quyết như vậy lúc nào cũng đi theo sau đuôi chúng.Thật ra vấn đề này, nhìn vào những hiện tượng bên ngoài,ai cũng có thể đánh giá được mọi tệ nạn xấu xa hiệnđã và đang tràn lan trên khắp thế giới. Chúng đều phátsinh từ lòng dục vọng ích kỷ mỗi người nói riêng và tậpthể nói chung, điều này ai cũng có thể hiểu được khôngkhó. Nhưng ở đây, làm sao lãnh hội được khát ái dục vọng,ham muốn ấy lại có thể phát sinh ra sự tái sinh luân hồivà giải quyết để chấm dứt nguồn gốc phát sinh ra chúng?Đây mới là vấn đề cốt lõi chính để chúng ta bàn vềchúng. Ở đây, chúng ta muốn bàn về chúng cần phải đềcập đến khía cạnh triết lý sâu xa của sự thật thứ hai,và chúng phải tương ứng với khía cạnh triết lý của sựthật thứ nhất. Đó là sự quan hệ giữa nhân (sự thậtthứ hai) và quả (sự thật thứ nhất) trong thuyết luân hồinghiệp báo. Vì ở đây, việc tái sinh của khát ái dục vọngđược bắt nguồn trực tiếp vào thức ăn nuôi dưỡng chúng,nên trong bốn loại thức ăn này, đoàn thực (kavaḍiṃkārāhāra)là loại thức ăn vật chất thông thường như chúng ta dùnghằng ngày; xúc thực (sparśākārāhāra), thức ăn có đượcnhờ sự tiếp xúc giữa các giác quan, kể cả ý thức vớingoại giới; Tư niệm thực (manaḥ-saṃcetanākārāhāra), vàThức thực (vijñānākārāhāra), ý chí hay ý muốn là thứcăn của tâm thức. Loại thức ăn thứ ba là loại thức ăntrực tiếp, chính là ý chí muốn sống, muốn tồn tại, táisinh, tương tục, tăng trưởng nuôi lớn kế tục khát ái dụcvọng đi vào tương lai của chúng ta, đó là Tư niệm thực.

Từý chí muốn sống, muốn hiện hữu, muốn tồn tại, muốntái sinh tương tục này, mà qua thân khẩu ý, khát ái dụcvọng đã tạo ra không biết bao nhiêu nghiệp thiện, ác (kusalàkusalakama).Nó cũng như ý chí (tư - cetàna), là nguyên nhân trực tiếptạo ra nghiệp nhân khổ trong quá khứ để trong hiện tạichúng ta nhận quả khổ của nhân quá khứ, và trong hiện tạichúng ta tạo nhân nghiệp cho quả khổ trong tương lai. Nhưđức Phật đã bảo chính ý chí là nghiệp, như chính đứcPhật đã dạy trong Hành uẩn ở trên đã định nghĩa. Nóiđến tư niệm thực vừa kể trên, đức Phật đã dạy: “Khingười ta hiểu tư niệm thực, người ta sẽ hiểu đượcba thứ ái.” (sđd, tr. 24) Qua đây, chúng ta nhận thấy nhữngtừ ngữ ái, ý chí, tư niệm, hay nghiệp, tất cả chúng đềuám chỉ cho cùng một thứ dục vọng, ý muốn hiện hữu, tồntại, tái sinh, trở thành, tăng trưởng, tích hợp, là nguyênnhân, là nguồn gốc trực tiếp phát sinh ra khổ đau. Chúngluôn hiện diện và được tìm thấy trong hành uẩn, một trongnăm uẩn hình thành sự hiện hữu của một hữu tình chúngsinh.

Vậyquả khổ của chúng ta trong hiện tại có được, chúng phátxuất từ nhân khổ đã tập khởi trong quá khứ, do chính chúngta tạo ra bởi những hành động chấp trước sai lầm. Chínhkhát ái dẫn dắt mà chúng ta đã tái sinh vào cuộc đời nàyđể thọ quả khổ do nhân sai lầm trước kia mang lại. Vậyviệc sinh ra trong hiện tại của chúng ta hay tái sinh trong tươnglai, chúng đã và đang mang mầm mống của đau khổ ngay trongbản chất của chính nó (đau khổ), và cũng chính trong mầmmống khổ đau được sinh ra này, chúng cũng đều thuộc vềbản chất của diệt, như chính đức Phật đã từng dạy:“Yam kinci samudaya dhammam sabbamtam nirodha dhammam - Bất cứ cáigì thuộc về bản chất của sinh đều cũng thuộc về bảnchất của diệt.” (sđd, tr. 25) Vì bản chất của khổ đaulà vô thường, vô ngã. Dù chúng có hiện hữu sinh ra đi nữa,thì sự hiện hữu phát sinh của chúng cũng chỉ là một sựhiện hữu do nhân duyên hòa hợp sinh ra. Vì vậy, chúng chỉlà một sự hiện hữu phát sinh giả hợp, không có thật.Chúng được sinh ra nhờ duyên thì chúng diệt đi cũng nhờduyên để diệt. Bất cứ một vật nào hiện hữu đượcnhờ sự sinh khởi của các duyên, thì chính ngay trong bảnchất của sự sinh khởi này đã có sẵn bản chất, mầm mốngcủa sự chấm dứt và hủy diệt. Như vậy, đau khổ có trongnó, bản chất phát sinh ra nó, và cũng có luôn trong nó bảnchất hủy diệt của nó. Theo đức Phật, chính điều nàycó được nên chúng ta mới có tu đạo, có đoạn trừ đểchấm dứt những thứ vô minh sai lầm mang lại khổ đau chochúng sinh. Và điều này chúng tôi sẽ trình bày lại trongsự thật thứ ba (nirodha-satya

Nhưtrên chúng ta đã đề cập đến ý chí có thể tạo ra nghiệpthiện hay ác tương đối. Và cũng từ đây phát sinh nghiệplực thiện thì sẽ tùy theo sức mạnh của nghiệp nhân thiệnmạnh hay yếu mà phát sinh thiện quả nhanh hay chậm, và nghiệplực ác phát sinh quả ác nhanh hay chậm, chúng tùy thuộc vàonăng lực này. Lòng tham dục, ý chí, nghiệp dù thiện hay ácđều có một năng lực đưa đến kết quả tùy thuộc vàođộ chín mùi của nhân nghiệp đã thuần thục hay chưa màthôi. Năng lực tiếp tục này chính là sức mạnh của nghiệp- tiếp tục trong chiều hướng thiện hay ác. Dù thiện hayác, nó đều là tương đối, đều ở trong vòng luân hồiba cõi sáu đường. Trong khi một vị A-la-hán, mặc dù có hànhđộng như chúng ta, những chúng sanh hữu tình, nhưng vẫn khôngtạo ra nghiệp nhân, để rồi nhận lấy nghiệp quả như mộtchúng sanh hữu tình; bởi vì vị ấy đã thoát khỏi ý tưởngsai lầm về ngã, và pháp, thoát khỏi lòng tham muốn tiếptục tái sinh và hiện hữu, nên thoát khỏi tất cả mọi sựtrói buộc bất tịnh nhiễm ô khác. Đối với vị ấy khôngcòn luân hồi tái sinh nữa.

Thuyếtluân hồi nghiệp báo lệ thuộc vào luật tắt nhân quả tronghành động và phản ứng có điều kiện. Chúng không dínhdáng can hệ gì đến ý tưởng công bằng hay thưởng phạtnhư quan niệm của một số tôn giáo nhất thần, cùng nhữnggiáo điều luân lý của một xã hội nào đó. Ở đây chỉcăn cứ vào hành động do ý muốn tạo ra để đưa đến kếtquả hay hậu quả tốt, xấu của nó mà đánh giá. Như vậy,việc nhận lãnh hậu quả này không phải do sự thưởng hayphạt của một bàn tay nào ngoài bàn tay chúng ta quyết địnhvề hậu quả của nó. Bởi vì những hậu quả tất yếu màmọi người đang gánh chịu là do những hành vi tạo tác trướckia của chúng ta đã tạo ra chúng, chứ không phải là sựcông bằng, hay thưởng phạt do một người nào hay một quyềnnăng nào ngồi phán xét hành vi của chúng ta, mà đó chínhlà bản chất nhân quả của riêng nó, và là luật lệ củachính nó. Khát ái, ý chí, sự ham muốn, dục vọng, lòng khaokhát hiện hữu, tiếp tục tăng trưởng, là một năng lựccó khả năng dời đổi toàn thể mọi đời sống cá nhânhay tập thể và ngay cả thế giới vũ trụ. Theo Phật giáo,sức mạnh này liên tục nối tiếp nhau như dòng chảy củathác nước, không dừng nghỉ, cho dù xác thân có bị biếnhoại theo duyên diệt qua hình thức chết đi nữa; nhưng chúnglại tiếp tục thể hiện trong một hình thức khác, để tiếptục phát khởi sự tái sinh mà chúng ta gọi là luân hồi bacõi sáu đường của dòng sống.

Mộtđứa trẻ được sinh ra, ban đầu mọi khả năng vật chất,tâm linh đều yếu ớt non kém, nhưng trong chúng đã có sẵntiềm năng để trở thành một người lớn đầy đủ vềvật chất cũng như tinh thần. Vì không có bất cứ một cáigì gọi là bất biến và vĩnh cửu nên một hữu thể hiệnhữu, luôn luôn được thay đổi theo thời gian để trưởngthành biến đổi và đưa đến hoại diệt, trong một khoảngthời gian nào đó chúng tự cho phép theo sức mạnh của sứcsống của một nghiệp lực. Bởi thế, vì hiển nhiên khôngcó cái gì trường cửu hay bất biến nên tự chúng cũng cóthể lưu chuyển trong luân hồi từ đời này đến một đờisau. Chúng là một chuỗi dài nối tiếp không gián đoạn, biếnđổi từ sát na này sang sát na khác. Sự chuyển dịch đógiống như một dòng thác tiếp nối nhau liên tục không giánđoạn, do sinh diệt biến đổi tạo ra xuyên suốt từ vô thỉcho đến vô chung, chuyển động xê dịch một vòng tròn mắtxích. Chúng không phải cùng là một giọt nước, nhưng chúngcũng không phải khác. Cũng vậy, một đứa trẻ lớn lên thànhmột người già tám, chín mươi tuổi, và hiện tại là mộtngười già chín mươi tuổi, trên mặt hình tướng dĩ nhiêncụ không phải là một đứa trẻ chín mươi năm về trướcnhưng cũng không thể bảo cụ là khác được. Cho nên mộtngười chết ở nơi này tái sinh nơi khác vào kiếp kế tiếpđương nhiên chúng ta không thể bảo người chết kia vớingười tái sinh ra lúc này và nơi đây là người đó được,nhưng ở đây chúng ta cũng không thể bảo là khác được.

Tómlại, qua những trình bày trên, Tập chính là ý chí muốn sống,tái sinh của một sinh mệnh như là một dòng chuỗi liên tục,lúc nhanh lúc chậm tùy theo sự chi phối sức mạnh của nghiệp,là hiện tượng sinh khởi: Niệm này có thì niệm kia có, niệmnày diệt đi thì nọ cũng diệt đi, và cứ như thế niệmniệm sinh diệt biến đổi liên tục không dừng như một vòngtròn lửa. Ban đầu là một đốm lửa và sau đốm lửa đầukhởi lên làm tiền đề quyết định cho đốm lửa kế tiếpvà cứ như thế trở thành một vòng tròn lửa liên tục khôngcó sự gián đoạn. Mỗi ý nghĩ của chúng ta cũng vậy, niệmnày khởi lên để quyết định cho niệm kế tiếp và nhưthế, sự sống đang hiện hữu như một dòng sống liên tục.Do đó, trong giáo lý của đức Đạo sư, vấn đề đời trước,đời sau không phải là một chuyện thần thoại huyền bígì cả. Đối với người Phật tử hiểu biết chân chánh,họ sẽ không bao giờ băn khoăn vấn đề này. Khi mà chúngsinh còn sự khát khao hiện hữu trở thành, còn khát ái, muốntái sinh thì vòng luân hồi vẫn tiếp tục. Chúng chỉ dừnglại khi nào sức mạnh dẫn dắt đó, sự khát ái, bị đoạntrừ nhờ vào trí huệ thấy rõ bộ mặt như thật của chínhmình, thì sự chi phối và bị lệ thuộc vào vòng sinh tửluân hồi sẽ không còn trói buộc được nữa.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/11/2022(Xem: 458)
Đức Phật thuyết giảng giáo nghĩa Đại thừa vì tám lý do, được nêu lên ở trong bài kệ của Đại thừa trang nghiêm kinh luận: "Bất ký diệc đồng hành Bất hành diệc thành tựu Thể, phi thể, năng trị Văn dị bát nhân thành". Bài kệ này nêu lên tám lý do, tám bằng chứng kinh điển Đại thừa là do đức Phật nói chứ không phải là ai khác. Hàng Thanh văn không đủ khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Hàng Duyên giác không có khả năng để nói đến kinh điển Đại thừa. Bồ tát cũng chưa đủ sự toàn giác để nói kinh điển Đại thừa. Còn đối với ngoại đạo thì đương nhiên không thể nói được một từ nào ở trong kinh điển Đại thừa. Có nhiều vị cố chấp, thiên kiến nói rằng kinh điển Đại thừa do ngoại đạo tuyên thuyết; nói như vậy là hồ đồ, không có luận cứ. Tu tập đến cỡ như hàng Thanh văn, hàng Duyên giác mà còn không nói được kinh điển Đại thừa thì làm gì cái đám ngoại đạo chấp ngã, chấp trước, chấp danh, chấp lợi mà nói được kinh điển Đại thừa. Cho nên nói kinh điển Đại thừa do ngoại đạo nói, đó
02/11/2022(Xem: 782)
Bấy giờ, tôi khoảng chín tuổi, một hôm đi xem đưa đám tang ông Võ Hờ trong xóm, thấy mọi người đi sau đám tang đều khóc nức nở và tức tối. Thấy họ khóc, tôi cũng khóc, nhưng bấy giờ tôi không biết tại sao tôi lại khóc như vậy.
31/10/2022(Xem: 563)
SOTAPATTI, quả vị Dự lưu, là cấp bậc đầu tiên trong bốn cấp bậc giác ngộ được đề cập trong Phật giáo Sơ kỳ. Tên gọi của quả vị nầy là từ ý nghĩa của một hành giả nhập vào dòng chảy không thối chuyển (sotāpanna, thánh Dự lưu) đưa đến giải thoát hoàn toàn. Dòng chảy nầy chính là đường thánh tám chi (Bát chi Thánh đạo, SN 55:5, kinh Sāriputta), là dòng sông hướng đến Niết-bàn cũng giống như sông Hằng chảy ra biển cả (SN 45:91, kinh Phương đông). Thời gian cần thiết để dòng sông nầy tiến đến mục tiêu tối hậu là tối đa bảy kiếp sống, không kiếp nào tái sinh trong cõi giới thấp hơn cõi người (SN 55:8, kinh Giảng đường bằng gạch).
29/10/2022(Xem: 1037)
Nhận tin nhắn trễ trên Viber sau khi đã ra khỏi nhà, và mãi đến trưa con mới trở về nên con chỉ nghe lại bài phỏng vấn này do TT Thích Nguyên Tạng có nhã ý cho chúng đệ tử học hỏi thêm giáo lý Phật Pháp trước khi Ngài trở về trú xứ Hoa Kỳ sau 3 tuần tham dự Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư và Lễ Mừng 32 năm Khai Sơn Tu Viện Quảng Đức, vào trước giờ có pháp thoại của Tổng Vụ Hoằng Pháp và Giáo Dục của Giáo Hội Úc Châu cùng ngày. Tuy nhiên với sự ngưỡng mộ của con đối với bậc cao tăng trí tuệ viên minh, diệu huyền thông đạt như Ngài, mà những lời Ngài trình bày qua những kinh nghiệm tu chứng hành trì, hạnh giải tương ưng thu thập được trong suốt hơn 46 năm qua đã khiến con phấn chấn tu tập hơn, hầu đạt được mục đích tối cao mà Đức Phật đã truyền trao nên con đã nghe lại đôi lần vào hôm nay để có thể uống được cam lồ qua những lời đáp trao đổi Phật Pháp. Thành kính tri ân TT Thích Nguyên Tạng và HT Thích Đồng Trí và kính xin phép cho con chia sẻ lại những gì con đã học được.
13/07/2022(Xem: 4144)
Phải nói là khi nhận được tin TT Giảng Sư Thích Nguyên Tạng sẽ có bài pháp thoại giảng tại Thiền Lâm Pháp Bảo hôm nay (12/7/2022) lại vừa nghe tin tức mưa lớn và lụt tràn về Sydney mấy ngày qua, thế mà khi nhìn vào màn ảnh livestream lại thấy khuôn viên thiền môn trang nghiêm thanh tịnh quá, dường như thời tiết khí hậu chẳng hề lay động đến nơi chốn này, nơi đang tập trung những người con cầu tiến muốn hướng về một mục đích mà Đức Phật hằng mong chúng ta đạt đến : Vô Sanh để thoát khỏi vòng sinh tử .
15/06/2022(Xem: 4108)
Tôi thật chưa tìm ra cuốn nào như cuốn này, tác giả viết từ những năm 50s, hữu duyên được dịch ra tiếng Việt vào những năm 80s… Tìm lại được bản thảo sau khoảng 33 năm (2021). Tốn thêm một năm hiệu đính trên đường ta bà, gọt dũa lại.
23/03/2022(Xem: 1587)
Tác ý là sự quyết định của tâm. Tác ý có thể xấu hay tốt, thiện hay bất thiện. Tác ý sanh lên trong lúc nào? Tác ý có thể sanh lên từ cảm giác nhưng cũng có thể sanh lên từ sự suy tưởng hay suy nghĩ của mình. Như vậy, làm thế nào để biết chắc chắn đó là tác ý? Tác ý là một cảm giác mạnh sinh khởi trong một con người. cảm giác mạnh này thôi thúc người đó phải hành động để giải quyết vấn đề. Cảm giác này được coi là tác ý vậy...
10/12/2021(Xem: 2592)
Trong một kiếp nhân gian, mọi chúng sinh đều khởi đầu từ sinh và kết thúc ở diệt. Có sinh, phải có diệt. Diệt là chấm dứt để trở về với cát bụi, khép kín một vòng sinh lão bệnh tử. Tứ là sự chết, sự kết thúc. Trong Kinh Tử Pháp ( Tạp A Hàm, quyển 6, số 121, 雜阿含經 第6卷,一二一,死法), Phật dạy các đệ tử chánh tư duy về vô thường trong sinh tử để không dính mắc, không chấp giữ mà đạt đến giác ngộ Niết Bàn.
27/11/2021(Xem: 1689)
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật học và văn học.
24/11/2021(Xem: 2104)
Tôi nhớ lại có lần Nữ cư sĩ Clair Brown, Giáo sư Tiến sĩ từ Trường đại học California – Berkeley (UC Berkeley) đã đề cập với tôi về một thứ gọi là “Kinh tế học đạo Phật” (Buddhist economics).
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Senior Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com ; http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com , tvquangduc@bigpond.com
KHÁCH VIẾNG THĂM
100,242,161