Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

B. Chỉ Năm Pháp Tự Tánh, Vô Ngã, Giản Biệt Nhị Thừa Ngoại Đạo, Để Rõ Nhân Quả Của Chánh Pháp

24/10/201016:03(Xem: 3138)
B. Chỉ Năm Pháp Tự Tánh, Vô Ngã, Giản Biệt Nhị Thừa Ngoại Đạo, Để Rõ Nhân Quả Của Chánh Pháp

KINH LĂNG GIÀTÂM ẤN
Thiền Sư Hàm Thị Sớ Giải
Hoà Thượng Thích Thanh Từ Việt Dịch
Thiền Viện Thường Chiếu

B- Chỉ năm pháp, tự tánh, vô ngã,giản biệt nhị thừa ngoại đạo, để rõ nhân quả của chánh pháp.

a- Nói năm pháp
- ĐẠI HUỆ HỎI:
Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ biết chỗ tâm nghĩ của chúng đại Bồ-tát, tên kinhThánh Trí Sự Phân Biệt Tự Tánh, nương sức oai thần của tất cả Phật, bạch Phậtrằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói kinh Thánh Trí Sự Phân Biệt Tự Tánh là chỗ nươngcủa một trăm lẻ tám câu. Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác y đây phân biệt nóiđại Bồ-tát vào tự tướng, cộng tướng, tự tánh vọng tưởng. Do phân biệt nói tựtánh vọng tưởng thì hay khéo biết khắp quán sát nhân pháp vô ngã, trừ sạch vọngtưởng, soi sáng các địa, siêu việt tất cả Thanh Văn, Duyên giác và những cáivui thiền định của ngoại đạo. Quán sát cảnh giới sở hành bất khả tư nghì củaNhư Lai, quả quyết lìa bỏ năm pháp tự tánh. Pháp thân trí tuệ của chư Phật NhưLai khéo tự trang nghiêm. Khởi cảnh giới huyễn, lên tất cả cõi Phật, Thiên cungĐâu Suất cho đến thiên cung Sắc Cứu Kính, liền được pháp thân thường trụ của NhưLai.
Đây là hỏi tự tánh vọng tưởng, để hiển thánh trí, để phân biệt chấp tà.Bởi do mê tự tánh mà thành vọng tưởng, tức ở chỗ vốn không tự tha, một lúc liềncó tự tướng cộng tướng nhanh chóng hiện bày. Như nhãn thức ban đầu thấy sắcliền được tự tướng nhãn thức, vừa rơi vào phân biệt liền thành cộng tướng. Đâyđều là cảnh giới bất giác vọng tưởng. Tất cả Bồ-tát vào đây mà thị hiện các thứsai biệt đã có ở thế và xuất thế gian để kiến lập thành một trăm lẻ tám câu.Nếu giác vọng tưởng không khác tự tánh, đây là việc thánh trí, liền đạt tựtướng cộng tướng không thể được. Tất cả Bồ-tát cũng không bỏ các thứ sai biệtđã có ở thế và xuất thế gian mà được chỗ thầm bày của phi một trăm lẻ tám câu.Đó là lý do Như Lai phân biệt nói tự tánh vọng tưởng. Bởi phân biệt vọng tưởngnày không riêng có tự tánh. Thế mới biết, tự tánh vốn tự không nhân, tự tánhvốn tự không pháp. Không nhân không pháp nên hay trừ sạch vọng tưởng mà chẳngcần dụng công. Soi sáng các địa mà không ngại viên dung, vượt khỏi cái vuithiền định của phàm phu ngoại đạo, vào chỗ sở hành của Như Lai, danh tướng,vọng tưởng, y tha, biến kế liền đó chóng không, chánh trí, như như, viên thànhcũng không thật có. Pháp thân trí tuệ chư Phật Như Lai này từ tự tánh vọngtưởng mà phát minh tâm lượng. Có sự trang nghiêm đều là trang nghiêm tự tâm,liền chuyển cảnh giới vọng tưởng của tự tâm hiện ra. Hiện cõi nước như huyễnlên thiên cung như huyễn. Chẳng lìa tự tâm được pháp thân cứu kính thường trụNhư Lai.
- PHÁ NGOẠI ĐẠO VỌNG CHẤP CÓ,KHÔNG.
Phật bảo Đại Huệ: Có một thứ ngoại đạo khởi vọng tưởng chấp trước cókhông, nhân giác tri hết, tưởng như thỏ không sừng. Như thỏ không sừng, tất cảpháp cũng lại như vậy. Đại Huệ! Lại có ngoại đạo thấy chủng, cầu-na, cực vi,đà-la-phiêu, hình xứ, hoành pháp mỗi mỗi sai biệt. Thấy rồi, chấp trước thỏkhông sừng hoành pháp, khởi tưởng trâu có sừng. Đại Huệ! Kia rơi vào hai kiếnchấp, chẳng hiểu tâm lượng. Cảnh giới tự tâm vọng tưởng tăng trưởng, thân thọdụng kiến lập vọng tưởng căn lượng. Đại Huệ! Tất cả pháp tánh cũng lại như thế,lìa có, không, chẳng nên khởi tưởng. Đại Huệ! Nếu lại lìa có, không mà khởitưởng thỏ không sừng, ấy gọi là tưởng tà, vì kia quán nhân đối đãi. Thỏ khôngsừng chẳng nên khởi tưởng, cho đến vi trần, tánh phân biệt sự, thảy đều khôngthể được. Đại Huệ! Cảnh giới thánh ly, không nên khởi tưởng trâu có sừng.
Đây là chỉ rõ không đạt được tự tánh vọng tưởng, nên có ngoại đạo tàchấp. Vọng tưởng từ bất giác tâm lượng mà khởi. Tâm không phải tướng động dobất giác vọng sanh. Vọng sanh chẳng phải có, vọng diệt chẳng phải không. Có,không cả hai đều vọng, luống tăng thêm bất giác, chẳng phải cái gốc tâm lượng.Thế nên chẳng rõ tướng sanh, mới kẹt nơi vô minh, lầm chấp căn thân khí giới ắtrơi vào nhân thường. Dù có quán nhân hết, lại trôi vào đoạn diệt. Đây là thỏkhông sừng cùng với trâu có sừng, bởi vì đối đãi mà tưởng sanh. Tuy ở trongchánh pháp vẫn chưa dễ gì liền đó chóng lìa. Bởi tâm lượng bản hữu chưa trònthì mê tình bất giác khó hết. Biết rõ hiện tiền chẳng phải có, rỗng lặng chẳngphải không, mà đương niệm chưa tạm thấy, tưởng lặng lẽ vẫn thầm lớn. Nên nói“lìa có, không mà lại khởi tưởng thỏ không sừng”. Tóm lại quán không bởi vì kẹthữu. Đã tin rõ huyễn thì đâu cần lại không, có chẳng thể được thì không từ đâuđối đãi. Nên nói “cảnh giới thánh ly, cứu kính không nên khởi tưởng trâu cósừng”. Nhân giác tri hết, như Số luận sư tột tám muôn kiếp mờ mịtkhông biết. Xét biết các pháp trước mắt rốt cùng trở về hết sạch, đồng với sừngthỏ. Chữ chủng là bốn đại chủng. Cầu-na dịch là y. Đà-la-phiêu dịch là trần.Hoành pháp là các pháp sắp bày. Như Thuận thế sư thấy tứ đại chủng y cựcvi trần làm sanh nhân, bởi có các pháp sắp bày, mỗi mỗi sai biệt, cho nên chấpthỏ không sừng, mà khởi tưởng trâu có sừng.
Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Người được không vọng tưởng thấy tướngchẳng sanh rồi tùy đó suy nghĩ quán sát, chẳng sanh vọng tưởng nói là khôngchăng?
Người thấy tướng chẳng sanh, nghĩa là thấy sừng trâu không có thật, chẳngsanh tướng có, do đây so sánh chẳng khởi vọng tưởng. Đây là tột nhân chấp khôngcủa ngoại đạo, muốn Thế Tôn nói rõ đó.
Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải quán sát chẳng sanh vọng tưởng nói không. Vìcớ sao? Vì vọng tưởng nhân đó mà sanh. Y sừng kia sanh vọng tưởng, do y sừngsanh vọng tưởng, thế nên nói là y nhân. Vì lìa khác và chẳng khác, chẳng phảiquán sát chẳng sanh vọng tưởng nói là không sừng.
Việc ngoài thánh trí thấy có, thấy không đều là nhân vọng tưởng, nên phảilìa. Vọng tưởng y nơi sừng mà chấp có không, đây là do phân biệt có không làmnhân, nó không phải chánh nhân, khác cùng chẳng khác đều là hý luận. Y nơi sừngkhởi vọng tưởng có là chẳng khác, y nơi sừng khởi vọng tưởng không là khác, đềulà nhân vọng tưởng cả hai đều không thật. Thế nên người được thánh trí ắt khôngquán sát chẳng sanh vọng tưởng, nói không sừng vậy.
Đại Huệ! Nếu vọng tưởng khác với sừng thì không nhân sừng sanh. Nếu chẳngkhác thì nhân sừng sanh. Cho đến vi trần phân tích tìm cầu trọn không thể được.Vì không khác với sừng, kia cũng không tánh. Cả hai đều không tánh thì pháp gì?Cớ sao nói là không? Đại Huệ! Nếu là không thì không sừng. Quán là có nên nóithỏ không sừng, không nên khởi tưởng. Đại Huệ! Vì chẳng phải chánh nhân mà nóilà có, không, cả hai đều chẳng thành.
Đây là nhằm vào người chấp không, y nơi sừng làm sanh nhân. Nhiên hậu tìmcùng thì nhân chẳng thật, chỗ chấp thành rỗng, nên chẳng ưng khởi tưởng. Ý nóivọng tưởng đã khác với sừng thì lý ưng chẳng nhân nơi sừng vậy, nếu chẳng khácvới sừng tức là nhân nơi sừng. Nay chính nơi sừng phân tích đến vi trần khôngthể được thì chẳng khác với sừng này mà có tánh vẫn không thể định. Có đã phitánh thì, cái không kia cũng phi tánh, cả hai đều vô tánh thì thế gian vật gì,pháp gì mà có thể nói không. Thấy không mà nói không sừng, thấy có không phảithật mà nói không sừng, đây là có, không y nhân, chẳng nên khởi tưởng. Khôngphải chánh nhân là, không được thật tướng của các pháp, hai thuyết có không đềuthành hý luận.
Đại Huệ! Lại có các ngoại đạo chấp, chấp trước việc sắc, không, hình xứ,hoành pháp, không thể khéo biết chừng ngằn của hư không. Nói sắc lìa hư không,khởi kiến chấp vọng tưởng chừng ngằn.
Đây là kèm phá ngoại đạo chấp có, bèn gồm nói không nhân có đối đãi, nênphải lìa hết. Chấp trước sắc khác với không, nghĩa là tứ đại chủng và vi trầnhay sanh tất cả pháp. Do không khéo biết chừng ngằn sắc cùng hư không nên khởitất cả vọng tưởng.
Đại Huệ! Hư không là sắc, theo vào sắc chủng. Đại Huệ! Sắc là hư không,chỗ năng trì sở trì mà dựng lập tánh. Việc sắc không phân biệt nên biết. ĐạiHuệ! Khi tứ đại chủng sanh tự tướng mỗi thứ đều khác, cũng chẳng trụ nơi hưkhông, chẳng phải nó không hư không.
Theo vào sắc chủng, là thế gian không có một pháp nào lìa hư không màchẳng bị hư không chen vào. Năng trì là hư không năng trì. Sở trì là sắc sởtrì. Thế gian cũng không có một pháp chẳng được hư không sở trì. Đây là kiếnlập tự tánh sắc không, nên như thế mà biết. Nếu y sắc nên không, y không nênsắc, chỉ là kẻ phàm phu và ngoại đạo vọng kiến vậy. Nguyên nghĩa sắc không, domê chân thành thức, đồng thời liền hiện, không có trước sau, cũng không kiađây. Kinh Lăng nghiêm nói: “Hối muội làm không, kết không làm sắc”. Lại nói “Hưkhông sanh trong đại giác, như biển sanh hòn bọt, cõi nước vi trần hữu lậu, đềuy không sanh ra”. Nay chấp sắc chấp không đều là chừng ngằn trong mê, chẳng lìavọng tưởng. Giác ngộ tự tâm hiện, mới biết cảnh giới hiện ra đều đồng việctrong mộng. Hư không, căn thân, khí giới trong mộng bỗng nhiên hiện tiền, làsắc là không y nhiên phân biệt. Giác rồi sau mới biết là thức tưởng sanh ra,chẳng thể có không vậy. Tự tướng tứ đại chủng mỗi thứ khác nhau, tuy chẳng trụhư không mà sở nhập và sở trì không thể phân biệt được. Đây bởi chấp tứ đại vitrần là sanh nhân của các pháp, nên lại bày lời để hiểu đó vậy.
Như thế, Đại Huệ! Quán trâu có sừng nên thỏ không sừng. Đại Huệ! Lại sừngtrâu phân tích làm vi trần, lại phân biệt vi trần trong sát-na không dừng. Kiaquán cái gì mà nói không ư? Nếu nói quán các vật khác đó, pháp kia cũng vậy.
Trọn nói chấp không, cũng nhân chấp có đối đãi mà thành, chẳng phải tướngthật có thật không. Nếu chẳng phải nhân có chấp không, thì phân tích sừng trâuthành vi trần, lại phân tích vi trần cho đến sát-na chẳng dừng, sừng này đãkhông thì lấy cái gì so sánh quán để hiển tướng không. Cho nên, chấp tướng cómà tướng có không trụ thì nhân tướng có chấp tướng không, tướng có đã chẳng trụthì, tướng không đâu có chỗ hiển bày, cũng không năng trụ. Có không chẳng trụliền đó là cảnh giới gì? Quán các vật khác, là từ sừng trâu mà suy ra vậy.
Thế Tôn bảo Bồ-tát Đại Huệ: Phải lìa dị kiến vọng tưởng sừng thỏ, sừngtrâu, hư không, hình sắc. Đại Bồ-tát các ông, phải suy nghĩ tự tâm hiện vọngtưởng. Tùy vào tất cả cõi nước vì hàng Tối thắng tử dùng tự tâm hiện phươngtiện mà dạy bảo họ.
Đây kết nói phải lìa chấp vọng tưởng hai thứ có, không, mà quán thẳng duytâm. Bồ-tát nếu hay quán sát tự tâm hiện lượng, thấy tất cả cảnh giới vọngtưởng do tự tâm hiện ra, vì mê tâm làm thức nên đồng thời liền hiện, đều nhưhuyễn hóa. Liền đó chóng lìa tướng hữu vô sắc không v.v… nhiên hậu dùng thânnhư huyễn vào cõi nước như huyễn, vì tất cả phật tử lấy phương tiện như huyễn,nói tự tâm hiện lượng mà dạy bảo họ.
Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này, nói kệ rằng:
Sắc thảy và tâm không
Sắc thảy nuôi lớntâm
Thân thọ dụng an lập
Tàng thức hiện chúngsanh
Tâm, ý cùng với thức
Tự tánh pháp có năm
Vô ngã hai thứ tịnh
Nói rộng nói thế này:
Dài, ngắn, có, khôngthảy
Lần lượt lẫn nhausanh
Bởi không nên thành có
Do có nên thànhkhông
Vi trần việc phânbiệt
Chẳng khởi vọng tưởngsắc
Tâm lượng chỗ an lập
Ác kiến là chẳng ưa.
Phi cảnh giới giác tưởng
Thanh Văn cũng như thế
Chỗ nói của Cứu thế
Cảnh giới của tự giác.
Bài tụng này nói sắc v.v… nơi tâm vốn không có. Tâm nương sắc… nuôi dưỡngmà sanh. Song tâm đã không, sắc v.v… từ đâu mà có, căn thân khí giới hiện tiềnlàm chỗ cho tâm y? Bởi vì mê chân làm tàng thức, mới hiện ra tất cả kiến chấpcủa chúng sanh. Đã nhân mê mà hiện, nên Như Lai rộng nói tâm, ý, ý thức, nămpháp, ba tự tánh, hai thứ vô ngã, cũng là đến trong mê kia mà chỉ bày danhtướng, khiến biết chọn lựa. Chính như kiến chấp sắc v.v… dài, ngắn, có, khôngđối đãi nhau dựng lập, y không thấy có, y có thấy không, đều là việc trong mê,thảy đều không có tự tánh. Nếu đối với tất cả cảnh giới phân biệt mà chẳng khởitất cả phân biệt, chỉ trụ tự tâm hiện lượng. Đây là cảnh giới tự giác, Như Laicứu thế nói ra. Ác kiến chẳng ưa là, chẳng phải cảnh giới của phàm phu và Thanhvăn.
- CHỈ TRỪ SẠCH ĐỐN HAY TIỆM.
Bấy giờ, Bồ-tát Đại Huệ vì trừ sạch tự tâm hiện lưu, lại hỏi Như Lai,bạch Phật rằng: Thế Tôn! Làm sao trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cả chúngsanh, là đốn hay là tiệm?
Tự tâm hiện lưu, hiện là hiện hạnh, lưu là lưu chú, là tám thức hiện hạnhvà lưu chú. Trước đã rõ cảnh giới vọng tưởng tự tâm hiện ra. Ở đây nói ngườiđạt tự tâm hiện, có những hiện hạnh lưu chú làm phương tiện gì dạy khiến trừsạch là đốn hay là tiệm. Đây là nói ra chánh trí trong năm pháp.
Phật bảo Đại Huệ: Tiệm tịnh chẳng phải đốn. Như trái yêm-la, tiệm chínchẳng phải đốn; Như Lai trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lạinhư thế, tiệm tịnh chẳng phải đốn. Thí như thợ gốm làm các món đồ tiệm thànhchẳng phải đốn. Như Lai trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lạinhư thế, tiệm tịnh chẳng phải đốn. Thí như đại địa tiệm sanh muôn vật, chẳngphải đốn sanh. Như Lai trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lạinhư thế, tiệm tịnh chẳng phải đốn. Thí như người học âm nhạc, hội họa, các thứkỹ thuật tiệm thành chẳng phải đốn; Như Lai trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cảchúng sanh cũng lại như thế, tiệm tịnh chẳng phải đốn. Thí như gương sáng đốnhiện tất cả sắc tượng vô tướng, Như Lai trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cảchúng sanh cũng lại như thế, đốn hiện vô tướng không có cảnh giới thanh tịnhthật. Như vầng nhật nguyệt đốn chiếu hiển bày tất cả sắc tượng; Như Lai vì lìatập khí lỗi lầm tự tâm hiện của chúng sanh cũng như thế, đốn vì hiển bày cảnhgiới trí tối thắng bất khả tư nghì. Thí như tàng thức đốn phân biệt biết tự tâmhiện và cảnh giới thân an lập thọ dụng; những Y Phật kia cũng lại như thế, đốnthành thục cảnh giới chỗ ở của chúng sanh, đem người tu hành để yên nơi cõitrời Sắc Cứu Kính. Thí như Pháp thân Phật hiện ra Y Phật (Báo Phật) hào quangsáng suốt, tự giác thánh thú cũng lại như thế, kia đối với pháp tướng có tánh,không tánh, ác kiến, vọng tưởng chiếu soi khiến trừ diệt.
Đốn, nhằm vào lý đốn ngộ đốn tu. Gồm đốn gồm tiệm nhằm chung Phật vàchúng sanh. Trước mê chân thức, các tướng hư vọng, toàn thể đồng hiện chẳngtheo thứ lớp. Thế nên, ngộ vọng không có nhân, đốn thấy chân như tự tánh khôngcó tướng khởi diệt, các tâm hư vọng một lúc liền hết, cũng không có cấp bậc,đây là lý đốn ngộ đốn trừ. Kinh Hoa nghiêm về Thập trụ ở vị đầu dùng vô táctam-muội tự thể ứng chân khách trần phiền não toàn không thể tánh. Chỉ có chânthể dụng, không tham sân si, hồn nhiên là Phật, có thể gọi là đốn ngộ đốn tuvậy. Song hạnh, hướng, địa giai cấp rõ ràng, kinh Viên Giác hai mươi lăm luânmở rộng phương tiện, mà nói rằng: “Chỉ trừ người đốn giác, cùng pháp chẳng tùythuận”. Cho nên biết lý viên đốn Như Lai thấy rõ, căn dục của chúng sanh NhưLai cũng thấy rõ. Vì thế mà quyền thật gồm nêu, ba đời Như Lai đồng một phápthức. Nhưng xét về bản hoài của Phật chỉ đốn chớ không tiệm, cũng y cứ tự tâmhiện lượng không có các pháp giả dối, pháp nhĩ như thế. Kinh Lăng Nghiêm nói:“Giác mê thì mê diệt, giác chẳng sanh mê”. Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ có đạo Nhấtthừa, phân biệt nói thành ba”. Đây là ý chỉ nhất định vậy. Như thí dụ gươngsáng cùng vầng nhật nguyệt đốn hiện sắc tượng không tướng. Bởi gương cùng nhậtnguyệt có hai nghĩa không và minh, dụ Như Lai đốn chỉ bày trí tướng thanh tịnhbất tư nghì không thật có khiến chúng sanh biết tự tâm hiện lượng vốn tự khôngvà minh, vốn không ô nhiễm, đồng thời đốn lìa tập khí lỗi lầm, chẳng do tiệmdẹp vậy. Liền dùng tàng thức đốn phân biệt biết căn thân khí giới do tự tâmhiện ra để ví dụ. Đây tức là nhật dụng của chúng sanh tâm biết hiện ra, vốn tựcó trí dụng thanh tịnh như thế, một lúc chiếu liễu không có trước sau. Cho nêny Phật Như Lai ở cõi trời Sắc Cứu Kính đốn vì tất cả chúng sanh căn cơ thuầnthục chẳng phiền dùng phương tiện. Lại lấy Pháp thân Phật hiện ra Y Phật (báothân) làm dụ, đây là đến nghiệp dụng bất tư nghì của Như Lai, hào quang chiếusáng. Khiến chứng tự giác thánh trí, là biết tự pháp thể hào quang chiếu sáng,đốn lìa tất cả ác kiến có, không, cũng không có sai biệt. Tóm lại, tánh thể thìsáng suốt, dụng có phân mê ngộ. Mê thì căn thân (chúng sanh) khí giới (thếgiới) bỗng nhiên hiện tiền, không có cấp bậc. Ngộ thì Pháp thân, Báo thân, Hóathân, cõi nước rất là đẹp đẽ, há nhờ tu ư? Chuyển mê làm ngộ thật có nhiều môn.Tức ngộ tức mê trọn không nói dạy. Do tiệm vào đốn cũng là việc bất đắc dĩ củaNhư Lai.
- CHỈ BA PHẬT NÓI TRÍ, NHƯ SAIBIỆT.
Này Đại Huệ! Pháp, Y Phật nói tất cả pháp vào tự tướng cộng tướng lànhân tập khí tự tâm hiện, là nhân vọng tưởng tự tánh chấp trước tương tục, cácthứ chẳng thật như huyễn, các thứ chấp trước không thể được.
Hiện tiền các pháp tự tướng, cộng tướng đều nhân tập khí chủng tử của tựtâm hiện ra, hay khởi hiện hạnh vọng tưởng tương tục chấp trước. Y tha chủng tửhiện ra các thứ như huyễn, vọng chấp hiện hạnh sở chấp các thứ không thể được.Đây là duyên khởi vô sanh, do mê được giác ngộ. Làm thanh tịnh cõi Phật, thànhtựu chúng sanh là những lời dạy của Y Phật (Báo thân). Phàm Pháp Phật là tự tánhthanh tịnh giác. Tự tánh thanh tịnh giác này chúng sanh cùng Phật đều có đủ, mêthì toàn mê, ngộ thì toàn ngộ, chẳng do tri kiến chẳng nhờ công huân, tự tánhthiên nhiên vậy. Y Phật tức là Bát-nhã do Pháp thân lưu xuất. Vốn từ tự tánhsanh, lại chiếu nơi tự tánh, trang nghiêm thân độ gọi là Báo thân. Hóa Phật làtùy loại ứng hóa, khắp vào tất cả chỗ. Tự tánh thường tịch quang độ, là tự thọdụng, chẳng phải chỗ người khác biết được. Báo Phật tha thọ dụng độ, cùngBồ-tát Thập địa chung. Thánh phàm đồng cư tức là Hóa Phật độ, tùy loạiđều nhập, chỗ thấy mỗi loài đều khác. Pháp thân Phật nói ra là tự tánh khôngnương. Y Phật (Báo Phật) nói ra là duyên khởi vô tánh. Hóa Phật tùy chỗ muốn,xem xét căn cơ, nói không có nhất định. Song cũng ước lược lý nên lẫn thông,Pháp cùng Báo, Hóa chẳng phải ba chẳng phải một. Thân, độ lẽ như vậy, thuyếtpháp cũng như thế. Về nhân quả cõi trời cõi người cũng có lý vô thượng chánhchân. Kinh Niết-bàn nói: “Có khi Như Lai nói về thế đế, mà người cho là đệ nhấtnghĩa đế, có khi Như Lai nói đệ nhất nghĩa đế mà người cho là thế đế”. Lại tứđế, tam thừa chung quán, đều không có nhất định.
Lại nữa, Đại Huệ! Chấp trước duyên khởi tự tánh, sanh tướng vọng tưởng tựtánh. Đại Huệ! Thí như các nhà huyễn thuật nương cỏ cây ngói gạch tạo ra cácthứ huyễn hóa. Khởi tất cả chúng sanh, bao nhiêu hình sắc, khởi các thứ vọngtưởng. Các vọng tưởng kia cũng không chân thật.
Y duyên khởi tự tánh, khởi vọng tưởng tự tánh. Như nhà huyễn thuật y cỏcây ngói gạch v.v… hóa ra các hình sắc. Khởi các vọng tưởng, duyên khởi đãhuyễn thì vọng tưởng thành dối.
Như thế, Đại Huệ! Y duyên khởi tự tánh, khởi vọng tưởng tự tánh, các thứtâm vọng tưởng, các thứ tướng hành sự và tướng vọng tưởng, chấp trước tập khívọng tưởng, ấy là tướng vọng tưởng tự tánh sanh. Đại Huệ! Ấy gọi là Y Phậtthuyết pháp.
Y duyên khởi này mà tánh vọng chấp hiện. Đây là chỉ lý do sanh vọng tưởngở trước mắt. Song xét về ban đầu, trước y tập khí từ vô thủy, duyên khởi hiệnra. Nên nói là “các thứ tâm vọng tưởng, các thứ tướng hành sự, tướng vọngtưởng”. Duyên khởi đã hiện lại hay dẫn phát tập khí, vọng tưởng tiếp nối. Chonên nói “chấp trước tập khí vọng tưởng”. Đâu biết tập khí thảy do bất giác,duyên khởi này liền đó vô sanh. Rõ cảnh duy tâm, vọng tưởng không chỗ gá, từBáo Phật nói.
Đại Huệ! Pháp Phật lìa tướng tâm tự tánh, tự giác cảnh giới sở duyên củathánh, dựng lập tạo tác.
Lìa tướng tâm tự tánh, là lìa tự tâm tương ưng với pháp tướng. Tướng tâmđã lìa thì giác thể liền hiện, không chủ, không y, chẳng phải tâm chẳng phảicảnh. Chỗ ngôn ngữ suy nghĩ dứt bặt, chỉ người chứng mới biết, đây là Pháp Phậtnói vậy.
Đại Huệ! Hóa Phật nói thí, giới, nhẫn, tinh tấn, thiền định và tâm trítuệ, lìa ấm giới nhập, giải thoát thức tướng, phân biệt quán sát dựng lập, vượthẳn kiến chấp ngoại đạo và kiến chấp Vô sắc.
Sáu pháp ba-la-mật dạy bảo Bồ-tát, lìa ấm giới nhập được môn giải thoát,ắt là nói chung của tam thừa, đều phân biệt thức tướng, dựng lập tự thông,chẳng đồng với ngoại đạo nhận thức làm tâm, khởi chấp Vô sắc giới về thức tưởng.
Đại Huệ! Lại Pháp thân Phật, lìa phan duyên, phan duyên lìa, tất cả tướngcăn lượng sở tác diệt, chẳng phải các phàm phu Thanh văn, Duyên giác và ngoạiđạo chấp trước ngã tướng và cảnh giới sở chấp. Tự giác thánh cứu kính sai biệttướng dựng lập. Thế nên, Đại Huệ! Tự giác thánh cứu kính sai biệt tướng, phảisiêng tu học, tự tâm hiện kiến chấp nên phải trừ diệt.
Lìa phan duyên, là lìa sở phan duyên; phan duyên lìa, là không có ngườilìa phan duyên. Năng sở đã lìa, thì tất cả căn lượng sở tác thảy diệt. Đây làtướng tự tâm hiện lượng cứu kính, chẳng đồng với phàm ngu ngoại đạo cảnh giớingã tướng chấp trước. Tự tâm hiện kiến, là tướng tự tâm hiện ra, dùng tâm kiếntâm thì giác biến thành cảnh. Đây là tướng ngã, nên nói sai biệt cần phải trừdiệt. Lại bảo Pháp thân Phật nói, tự thể hợp chân, chẳng phải cảnh giới của Báothân, Hóa thân Phật vậy.
- BIỆN VỀ NHỊ THỪA TỰ GIÁC THÁNHSAI BIỆT.

Lại nữa, Đại Huệ! Có hai hạng Thanh văn thừa chung phân biệt tướng. Nghĩalà được tướng tự giác thánh sai biệt, và tướng tánh vọng tưởng tự tánh chấptrước. Thế nào là Thanh văn được tướng tự giác thánh sai biệt? Nghĩa là đốicảnh giới vô thường, khổ, không, vô ngã được chân đế lìa dục tịch diệt, dứt ấm,giới, nhập, tự tướng, cộng tướng, không hoại tướng bên ngoài mà biết như thật.Tâm được dừng lặng, tâm dừng lặng rồi được thiền định, giải thoát, tam-muội đạoquả chánh thọ giải thoát chẳng lìa tập khí bất tư nghì biến dịch tử, được tựgiác thánh lạc trụ Thanh văn. Ấy gọi là được tướng tự giác thánh sai biệt Thanhvăn.
Đây là phân biệt hai hạng Thanh văn. Một, nhân chỗ sở đắc mà tiến lên;hai, chỉ pháp chấp kia mà chuyển, thảy vì Bồ-tát răn dạy. Sở đắc là được tựgiác thánh trí. Hàng Thanh văn này ban đầu quán khổ, không, vô ngã, trụ nơichân đế, do sức lìa dục vắng lặng hay dứt ấm, giới, nhập, tự tướng, cộng tướng,chẳng hoại tướng bên ngoài mà biết như thật. Chẳng hoại tướng là, chân như thậttướng của tất cả pháp. Biết như thật là, như thật tướng mà biết, không có thấynghe khác, nên nói là chân đế. Do tâm này được dừng lặng nên trụ cái vui thiềnđịnh giải thoát, bèn thành sai biệt. Tập khí là, tập khí từ vô thủy. Tập khínày chưa lìa thì không thể liền đó đảm đang được tám thức. Vẫn nhờ thiền tịchmà đổi thô thành diệu, ngoài tâm còn pháp chưa quên. Nhị thừa không thấy Phậttánh. Bồ-tát Thập trụ thấy Phật tánh một ít phần. Nghĩa là Nhị thừa định nhiềutuệ ít, tuy được tự giác thánh trí mà không biết trí thể vốn lặng, vọng thấycái vui lặng lẽ. Bị cái lặng lẽ làm chướng, nên nói chẳng thấy. Bồ-tátThập trụ tuệ nhiều định ít, bởi ban đầu thấy tự giác thánh trí, trí tướng minhliễu, nơi trí thể vốn lặng lẽ chưa được tròn suốt, nên nói thấy ít phần. Chẳngphải nói ngoài thánh trí, lại phải nhờ thiền tịch dùng để quân bình. Song đâylà thông hay biệt? Nếu đứng về Hoa Nghiêm Viên tông thì vị đầu trong Thập trụ,cùng Phật không khác, nên lý ưng thấy rõ ràng. Đây là chỗ sai biệt vi tế phảinên xét kỹ. Văn sau thiết tha răn Bồ-tát chớ trụ cái vui tự giác thánh trí củaThanh văn, chính nói ý này vậy.
Đại Huệ! Đại Bồ-tát được tự giác thánh sai biệt lạc trụ, chẳng phải diệtmôn lạc. Chính khi thọ lạc vẫn đoái hoài thương xót chúng sanh và nhớ bảnnguyện, không khởi chứng. Đại Huệ! Ấy gọi là Thanh văn được tự giác thánh saibiệt tướng lạc, đại Bồ-tát đối với kia được tự giác thánh sai biệt tướng lạc,chẳng nên tu học.
Đây là Thanh văn tự giác sai biệt tướng tất cả tịch lạc, Bồ-tát cũng có,song do bản nguyện phát khởi mà không thủ chứng. Phật răn Bồ-tát chẳng nên tuhọc, là vì Bồ-tát nhập tự giác sai biệt tướng lạc, dễ bị chìm lịm nơi ấy.
Đại Huệ! Thế nào là Thanh văn tướng tánh vọng tưởng tự tánh chấp trước?Nghĩa là đại chủng xanh vàng đỏ trắng, cứng ướt ấm động, chẳng phải tạo tác màsanh, tự tướng, cộng tướng, Tiên Thắng (Phật) khéo nói. Thấy rồi, nơi kia khởitự tánh vọng tưởng. Đại Bồ-tát đối với kia nên biết nên xả, tùy nhập pháp vôngã tướng, diệt nhân vô ngã tướng và kiến, thứ lớp các địa tiếp nối dựng lập.Ấy gọi là các Thanh văn tướng tánh vọng tưởng tự tánh chấp trước.
Tánh vọng tưởng tự tánh chấp trước là, chấp có pháp tự tánh mà khởi chấptrước. Thanh văn tuy biết đại chủng xanh vàng đỏ trắng các pháp, chẳng phải cótác giả, không đồng với ngoại đạo tà kiến. Nhưng thấy Phật trước phân biệt cácpháp tự tướng cộng tướng, tất cả kinh điển nói cho là thật có, bèn thành phápchấp. Cho nên Bồ-tát đối chỗ này phải lìa nhân vô ngã tướng vào pháp vô ngã,thứ lớp tiến lên các địa.
-BIỆN ĐẠT ĐƯỢC THÁNH TRÍ THƯỜNGBẤT TƯ NGHÌ.

Khi ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật : Thế Tôn! Thế Tôn nói cảnh giớithường bất tư nghì tự giác thánh thú và cảnh giới đệ nhất nghĩa. Thế Tôn! Chẳngphải các ngoại đạo nói nhân duyên thường bất tư nghì ư?
Đây là đem tự giác thánh thú đệ nhất nghĩa thường bất tư nghì, cùng vớingoại đạo thường bất tư nghì có tác giả, muốn Phật giải thích sự sai biệt củahai bên.
Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải ngoại đạo có nhân duyên mà được thường bấttư nghì. Vì cớ sao? Vì ngoại đạo thường bất tư nghì không nhân tự tướng thành.Nếu thường bất tư nghì không nhân tự tướng thành thì nhân đâu hiển bày thườngbất tư nghì? Lại nữa, Đại Huệ! Bất tư nghì nếu nhân tự tướng thành thì tất phảithường. Bởi vì tác giả làm nhân tướng nên thường bất tư nghì chẳng thành.
Như Lai bất tư nghì nhân tự tướng thành, cho nên thường. Tự tướng là tựtâm hiện lượng. Tự tâm hiện lượng này, tuy ở vị mê mà vẫn chẳng đoạn, chỉ vìkhách trần che lấp, tạm thời bất giác, nếu giác tức là thường trụ. Chẳng đồngtác giả do vọng chấp mà có. Đây là không phải do thật nhân không có chỗ hiểnbày, cho nên thường bất tư nghì chẳng thành.
Đại Huệ! Đệ nhất nghĩa thường bất tư nghì của ta, đệ nhất nghĩa nhântướng thành, lìa tánh phi tánh, được tự giác tướng, nên có tướng. Đệ nhất nghĩatrí nhân, nên có nhân. Vì lìa tánh phi tánh, thí như vô tác hư không, Niết-bàn,diệt tận, nên thường. Như thế, Đại Huệ! Chẳng đồng với luận thường bất tư nghìcủa ngoại đạo. Như thế, Đại Huệ! Thường bất tư nghì này chư Như Lai tự giácthánh trí nhận được. Như thế, nên thường bất tư nghì tự giác thánh trí nhậnđược, nên phải tu học.
Đây là hiển bày đệ nhất nghĩa nhân tướng để thấy khác với ngoại đạo. Lìatánh phi tánh là, lìa tướng có và không. Được tự giác tướng, tự giác là bảngiác, tướng là thể tướng. Cho nên có tướng là, bản giác này thật có thể tướng,chẳng phải là hư vọng. Đệ nhất nghĩa trí, tức là trí thủy giác. Do bản giác cóthủy giác, do thủy giác biết bản giác, bản giác và thủy giác hiệp một, che trùmtương ưng, lấy đó làm nhân, là đệ nhất nghĩa trí nhân, lìa tất cả lỗi có,không… Như ba thứ vô vi là pháp chân tịch diệt, không có hý luận, nên lấy đólàm thí dụ. Thường bất tư nghì này chẳng đồng với ngoại đạo. Chư Như Lai tựgiác thánh trí nhận được, nên phải tu học.
Lại nữa, Đại Huệ! Thường bất tư nghì của ngoại đạo là vô thường tánh, vìdị tướng nhân; chẳng phải sức tự tác nhân tướng, nên thường. Lại nữa, ĐạiHuệ! Thường bất tư nghì của các ngoại đạo, đối sở tác tánh phi tánh vô thường,thấy rồi suy nghĩ chấp là thường.
Đây nói ra thường bất tư nghì của ngoại đạo là vọng tưởng chấp. Nghĩa làthường bất tư nghì của ngoại đạo là vô thường dị tướng mà chấp là thường, chẳngphải thật có tự tánh nói là thường. Sao nói vô thường dị tướng chấp là thường?Bởi vì ngoại đạo thấy tất cả việc làm ra thuộc hai tướng có, không vô thườngrồi, liền nơi đây tạo ra cảnh giới bất tư nghì suy nghĩ chấp là thường. Đây làvọng tưởng nhân, chẳng phải chân nhân.
Đại Huệ! Ta cũng dùng nhân duyên như thế, việc làm ra tánh phi tánh vôthường, thấy rồi tự giác cảnh giới thánh, nói kia thường không nhân. Đại Huệ!Nếu các ngoại đạo nhân tướng thành thường bất tư nghì, nhân tự tướng là tánhphi tánh đồng với sừng thỏ. Thường bất tư nghì này chỉ là ngôn thuyết vọngtưởng. Các bọn ngoại đạo có lỗi như thế. Vì cớ sao? Vì chỉ có ngôn thuyết vọngtưởng đồng với sừng thỏ, tự nhân tướng chẳng có phần.
Như Lai cũng đối với việc làm ra hai tướng có, không, thấy vô thường rồi,nhưng chẳng ở nơi đây khởi chấp thường bất tư nghì. Vì có tự giác cảnh giớithánh, vượt ngoài suy nghĩ ngôn thuyết, nên nói kia thường vô nhân. Ngoại đạochấp thường tự tướng chẳng thật, đồng với sừng thỏ, chỉ có ngôn thuyết, nên nóitự nhân tướng chẳng có phần. Nghĩa là Như Lai tự giác nhân tướng, chẳng phải họcó phần.
Đại Huệ! Thường bất tư nghì của ta vì nhân tự giác được tướng, lìa tánhsở tác và phi tánh, nên thường; chẳng phải ngoại đạo tánh phi tánh vô thườngsuy nghĩ chấp là thường. Đại Huệ! Nếu ngoại đạo tánh phi tánh vô thường mà suynghĩ chấp là thường, họ không biết được tướng thường bất tư nghì tự nhân. Họcùng cảnh giới tự giác thánh trí cách xa nhau, nên không ưng nói.
Đây lại nói rõ Như Lai thường bất tư nghì do tự giác thánh trí làm nhân,chẳng phải dùng việc làm ra bên ngoài hai tướng có không vô thường chấp thườnglàm nhân. Ngoại đạo chẳng biết nhân tướng tự giác, nên chẳng ngay nơi nhântướng tự giác ở trong tự chứng nhận, mà chấp trước nhân bên ngoài, đây là lý docách nhau rất xa.
- BIỆN NHỊ THỪA BỎ VỌNG CẦU CHÂN.
Lại nữa, Đại Huệ! Các Thanh văn sợ sanh tử vọng tưởng khổ mà cầuNiết-bàn. Chẳng biết sanh tử Niết-bàn sai biệt tất cả tánh, vọng tưởng phitánh. Sau rồi cảnh giới các căn thôi dứt, khởi tưởng Niết-bàn. Chẳng phải nơitự giác thánh trí thú, tàng thức chuyển. Thế nên phàm ngu nói có ba thừa, nóitâm lượng thú hướng không thật có. Thế nên, Đại Huệ! Kia chẳng biết quá khứ vịlai hiện tại đều là cảnh giới tự tâm hiện của chư Như Lai, chấp trước cảnh giớingoài tâm hiện, vòng sanh tử thường xoay.
Đây lại do Thanh văn chấp có Niết-bàn, để rõ những cái thấy ngoài tâm đềulà vọng tưởng. Thanh văn sợ sanh tử vọng tưởng mà cầu Niết-bàn, chẳng biết sanhtử Niết-bàn tánh nó không hai. Thấy có sai biệt, đều là vọng tưởng chấp, chẳngphải thật tánh. Nghĩa là rõ tam giới sanh nhân, căn cảnh vị lai thôi dứt, khởitưởng Niết-bàn. Chẳng phải chứng đến chỗ tự giác thánh trí, chuyển tàng thứclàm Niết-bàn. Đây là phàm ngu chỉ nói ba thừa mà chẳng nói duy tâm tịch diệt.Chẳng biết quá khứ vị lai hiện tại đều là Như Lai tự tâm hiện ra, cho là cócảnh giới ngoài tâm, vọng sanh thủ xả, vẫn thuộc luân chuyển sanh tử.
Lại nữa, Đại Huệ! Tất cả pháp chẳng sanh, là quá khứ vị lai hiện tại chưPhật nói ra. Vì cớ sao? Vì tự tâm hiện tánh phi tánh, lìa hữu phi hữu mà sanh.Đại Huệ! Tất cả tánh chẳng sanh, tất cả pháp như sừng thỏ, ngựa v.v… vì phàmphu ngu si chẳng giác tự tánh vọng tưởng nên vọng tưởng. Đại Huệ! Tất cả phápchẳng sanh, cảnh giới tự giác thánh trí thú, tất cả tánh tự tánh tướng chẳngsanh. Chẳng phải hai cảnh giới vọng tưởng của ngu phu kia, tự tánh thân tàidựng lập thú tự tánh tướng. Đại Huệ! Tàng thức tướng năng nhiếp sở nhiếpchuyển. Ngu phu rơi vào hai kiến chấp sanh, trụ, diệt, hy vọng tất cả tánh sanh,hữu và phi hữu vọng tưởng sanh, chẳng phải thánh hiền… Đại Huệ! Đối với kia nênphải tu học.
Lại nêu lên tất cả pháp chẳng sanh để chỉ bày yếu chỉ tự giác cùng tột.Đây là ba đời chư Phật nói ra. Pháp do tâm hiện nên pháp không tự tánh. Phápkhông tự tánh thì không rơi vào có, không. Chẳng rơi vào có, không thì sanhtánh trước mắt ví như sừng thỏ. Chỉ theo vọng tưởng nên tất cả tánh có. Nếutheo tự giác thì tất cả pháp không. Y nơi căn thân (chúng sanh) khí giới (thếgiới) mà khởi hy vọng năng sở hữu vô, đều là ngu si chấp, chẳng phải thánhhiền. Mới biết theo tàng thức trôi lăn thì có không trong mộng rõ ràng. Đạtcảnh giới thánh trí thì năng sở trong gương liền không. Cởi chúng mê nơi tựgiác, hội muôn pháp về một tâm. Cho nên hay lìa được tự tánh lông rùa, dứt sanhnhân của sừng thỏ. Đây là chỗ phàm thánh phân chia, do giác mê mà khu biệt.
- CHỈ RA CHỦNG TÁNH VỌNG TƯỞNGTRÍ, NHƯ SAI BIỆT.

Lại nữa, Đại Huệ! Có năm vô gián chủng tánh. Thế nào là năm? Nghĩa làThanh văn thừa vô gián chủng tánh, Duyên giác thừa vô gián chủng tánh, Như Laithừa vô gián chủng tánh, bất định chủng tánh, các biệt chủng tánh.
Dựng lập chủng tánh để tột chỗ sai biệt của thánh trí, đều có thể chuyểnlàm cứu kính. Vô gián là pháp tánh không gián đoạn, mà chủng tử và hiệnhạnh mỗi loại có khác. Do chủng tử vô thủy huân cùng hiện hạnh tạo tập mà thànhchủng tánh. Chủng là chủng loại, một loại có đồng và biệt. Tánh là giúp chotánh, y nơi chủng mà trụ, nên nói “tập dữ tánh thành”. Năm chủng tuy khác màđồng một pháp tánh. Kinh Niết-bàn nói “Xiển-đề đều có Phật tánh, nếu hay phátlòng tin thì không gọi là xiển-đề”.
Thế nào là biết Thanh văn thừa vô gián chủng tánh? Nếu khi nghe nói đượcấm giới nhập tự tánh cộng tướng đoạn liền biết, toàn thân lông dựng lên, an ổnvui mừng và ưa tu tướng trí, chẳng tu tướng duyên khởi phát ngộ, ấy gọi làThanh văn thừa vô gián chủng tánh. Thanh văn vô gián thấy đệ bát địa, khởiphiền não đã dứt, còn tập phiền não chưa dứt, không qua khỏi được bất tư nghìbiến dịch tử, đã qua phần đoạn tử. Khi ấy như sư tử rống nói “Ta sanh đã hết,phạm hạnh đã xong, chẳng thọ thân sau, biết như thật, tu tập nhân vô ngã, chođến được giác, nhập Niết-bàn”.
Đoạn liền biết là, đoạn ấm giới nhập tự tướng cộng tướng liền được chứngbiết. Ưa tu tập tướng trí là, nơi tướng thế gian tu trí giải thoát, nơi tướngxuất thế gian tu trí thiền định. Duyên khởi phát ngộ là, quán duyên khởi vôsanh mà ngộ. Vô gián Thanh văn thấy đệ bát địa, kinh Hoa Nghiêm nói “Bát địachứng ngã không chân như, chẳng khởi diệt định, mười phương Như Lai đồng âmkhuyến phát, bảo : Tam-muội của ông Nhị thừa cũng được”. Cho nên vô gián Thanhvăn thấy chỗ chứng của mình đồng với đây vậy. Khởi phiền não là, hiện hạnh. Tậpphiền não là, chủng tử. Nhị thừa đoạn hiện hạnh mà chẳng đoạn chủng tử. Qua phầnđoạn tử, chưa qua biến dịch tử. Nhân vô ngã là, nhân tướng của Nhị thừa. NhậpNiết-bàn là, quả tướng của Nhị thừa.
Đại Huệ! Các biệt vô gián là, ngã nhân chúng sanh thọ mạng trưởng dưỡngsĩ phu. Các chúng sanh kia khởi giác như thế cầu vào Niết-bàn. Lại có ngoại đạokhác nói thảy do tác giả, thấy tất cả tánh rồi, nói đây là vào Niết-bàn. Khởigiác như thế, đối với pháp vô ngã thấy họ vô phần, họ không có giải thoát. ĐạiHuệ! Đây là chư Thanh văn thừa vô gián ngoại đạo chủng tánh, chẳng xuất màtưởng là xuất. Vì chuyển ác kiến cho những người này nên phải tu học.
Các biệt này tức ở sau nói nhất-xiển-đề. Hiểu biết ngã nhân thọ mạng v.v…là, nhận tướng ngã trong năm uẩn. Tác giả là, riêng có tác giả làm sanh nhân,tức là dị nhân. Ngoại đạo này chẳng biết duy tâm, vọng cho có cảnh bị biết.Phàm ngoài tâm mà thấy có Niết-bàn thì cùng chánh pháp xa nhau, đều gọi làxiển-đề, đối với pháp vô ngã họ không phần. Thế nên biết, Thanh văn cùng ngoạiđạo đều chẳng phải giải thoát mà khởi tưởng giải thoát. Cho nên nói chẳng xuấtmà tưởng là xuất. Cần chuyển tà kiến kia nên phải tu học.
Đại Huệ! Duyên giác thừa vô gián chủng tánh, nếu nghe nói mỗi cái duyênkhác vô gián, toàn thân lông dựng lên, rơi lệ dầm dề, duyên chẳng gần nhau, cóchỗ chẳng chấp các thứ tự thân, các thứ thần thông, hoặc ly hoặc hiệp, các thứbiến hóa. Khi nghe nói lời ấy, tâm họ tùy nhập. Nếu biết họ là Duyên giác thừavô gián chủng tánh rồi, tùy thuận vì họ nói Duyên giác thừa. Ấy gọi là tướngDuyên giác thừa vô gián chủng tánh.
Duyên giác quán mười hai nhân duyên mà được đạo. Mười hai nhân duyên bađời xoay quanh, nên nói vô gián. Duyên chẳng gần nhau có chỗ chẳng chấp, đâynói họ tin chắc rất thâm thiết. Duyên giác độ sanh phần nhiều dùng sức thầnthông, chẳng dùng lời nói. Đây là đối trị cảnh giới chúng sanh, mà chẳng phảichính là cảnh giới chúng sanh, lấy làm cảnh giới bất tư nghì, đó là lý do cùngđại thừa sai biệt.
Đại Huệ! Như Lai thừa vô gián chủng tánh kia có bốn thứ: 1) Tự tánh phápvô gián chủng tánh, 2) Ly tự tánh pháp vô gián chủng tánh, 3) Đắc tự giác thánhvô gián chủng tánh, 4) Ngoại sát thù thắng vô gián chủng tánh. Đại Huệ! Nếungười nghe bốn việc này, khi nói mỗi thứ, và khi nói tự tâm hiện thân tài kiếnlập cảnh giới bất tư nghì, tâm không kinh sợ, ấy gọi là tướng Như Lai thừa vôgián chủng tánh.
Tự tánh pháp là, pháp thân Như Lai. Ly tự tánh pháp là, giải thoát NhưLai. Tự giác tánh là, Bát-nhã trí Như Lai. Ngoại sát thù thắng là, hóa thân; cóđại hóa và tùy loại hóa, mỗi thứ có hiện cõi nước. Như Lai tự giác thánh tríchứng được, thấy tự tâm hiện ra tất cả chúng sanh thế giới, lìa ngôn ngữ và suynghĩ, bất khả tư nghì, nghe lời này mà chẳng sanh kinh sợ thì biết kẻ ấy làpháp khí Phật thừa.
Đại Huệ! Bất định chủng tánh là, khi nói ba chủng tánh kia, tùy nghe nóimà vào, tùy kia mà thành. Đại Huệ! Đây là sơ trị địa, là chủng tánh kiến lập,vì tiến lên vào vô sở hữu địa, tạo ra kiến lập ấy. Kia tự giác tàng, tự phiềnnão tập sạch, thấy pháp vô ngã, được tam-muội ưa trụ Thanh văn, sẽ được thântối thắng Như Lai.
Bất định là, trước kia không có chủng tập các thừa, cho nên hay tùy nóimà vào. Nói chủng tánh sai biệt vốn vì người mới vào Bồ-tát địa, khuyên họ tiếnlên cứu kính, chẳng để họ rơi vào quyền tiểu, mà lại khuyến dụ quyền tiểu pháttâm đại thừa. Chẳng phải bảo chủng tánh quyết không thể dời đổi vậy. Tàng tứclà tàng thức. Nghĩa là hay chứng biết thức thứ tám là Như Lai tàng thì, khiphiền não tập kia được sạch tự nhiên thấy được pháp vô ngã, tuy ưa trụ tam-muộicủa Thanh văn, đều có thể được thân tối thắng Như Lai.
Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này, nói kệ:
Quả Tu-đà-bàn-na
Vãng lai và Bất hoàn
Đến đượcA-la-hán
Ấy thảy tâm hoặc loạn.
Tu-đà-bàn-na dịch là nhập lưu, sơ quả mới vào dòng thánh. Vãng lai là nhịquả, tư hoặc chưa hết lại phải một phen qua cõi trời, một lần trở lại nhân gianmới vào Niết-bàn. Bất hoàn là tam quả, chín phẩm tư hoặc đã hết, lại chẳng trởlại Dục giới. A-la-hán dịch là Vô học, là quả thứ tư, bốn trí đã tròn không cònpháp gì phải học. Những vị này đều sợ sanh tử khổ mà cầu Niết-bàn, ái tập chưahết nên nói là hoặc loạn.
Tam thừa cùng Nhấtthừa
Phi thừa ta đã nói
Ngu phu ít trítuệ
Chưthánh xa lìa tịch.
Tam thừa là, Thanh văn, Duyên giác, bất định. Nhất thừa là, Như Lai thừa.Phi thừa là, các biệt, thảy vì ngu phu ít trí. Chưthánh lìa tịch muốn kia chóng xảsai biệt vậy.
Pháp môn đệ nhấtnghĩa
Xa lìa nơi nhị giáo
Trụ nơi vô sởhữu
Sao dựng lập ba thừa.
Pháp đệ nhất nghĩa, duy một chân thật không có hai và ba. Tức nơi tự tánhkhông sự, nên nói trụ nơi vô sở hữu.
Chưthiền vô lượng thảy
Vô sắc tam-ma-đề
Thọ tưởng đều tịchdiệt
Cũng không có tâm lượng.
Chư thiền là tứ thiền. Vô lượng là tứ vôlượng tâm. Vô sắc là Vô sắc định. Tam-ma-đề là đẳng trì tam-muội. Diệt thọtưởng là Vô tưởng cùng Diệt tận định. Đây riêng bày duy tâm, nên nói tất cả đềukhông.
- CHỈ VỌNG TƯỞNG, TRÍ, NHƯ BÌNHĐẲNG ĐỂ HIỂN BÀY XIỂN-ĐỀ PHẬT TÁNH CHẲNG ĐOẠN.
Đại Huệ! Nhất-xiển-đề kia, phi nhất-xiển-đề, thế gian giải thoát aichuyển? Đại Huệ! Nhất-xiển-đề có hai thứ:
1) Bỏ tất cả thiện căn và nơi vô thủy chúng sanh phát nguyện. Thế nào bỏtất cả thiện căn? Nghĩa là chê bai Bồ-tát tạng và nói lời ác “Đây không phảinói theo kinh điển giải thoát” vì bỏ tất cả thiện căn nên không được vàoNiết-bàn.
Xiển-đề này tức là các biệt chủng tánh ở trước. Nói xiển-đề mà kèm nóiBồ-tát phương tiện, là khiến biết Bồ-tát thương xót chúng sanh tùy loại mà hiệnđể nhiếp hóa người đồng sự. Thế gian giải thoát ai chuyển, là không cóNiết-bàn. Đây là chỉ chung cho hai thứ, căn cứ theo duy tâm mà nói, nên đều có thểnói: Phi nhất-xiển-đề. Nếu phân biệt hai thứ thì bỏ tất cả thiện căn là khôngtin tự tâm. Chê bai Bồ-tát tạng là trái với thành Niết-bàn. Thương xót chúngsanh phát nguyện chẳng nhập, là vì thâm đạt tự tâm chớ không phải không tánhNiết-bàn, chẳng khá nói lẫn lộn.
2) Bồ-tát vì tự nguyện phương tiện xưa, chẳng phải chẳng vào Niết-bàn, vìtất cả chúng sanh mà vào Niết-bàn. Đại Huệ! Kia vào Niết-bàn, ấy gọi là chẳngvào pháp tướng Niết-bàn. Đây cũng đến cõinhất-xiển-đề.
Đây là thương xót chúng sanh chẳng vào Niết-bàn, vì tự nguyện phươngtiện. Chẳng phải chẳng vào Niết-bàn, là thấy chúng sanh đã vào Niết-bàn, vìkhông giác biết luống chịu luân chuyển. Vì thương xót họ mà chẳng khởi chứng,ấy cũng đến cõi nhất-xiển-đề.
Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Trong đây vì sao cứu kính chẳng vào Niết-bàn?Phật bảo Đại Huệ: Bồ-tát nhất-xiển-đề, biết tất cả pháp xưa nay đã vào Niết-bàncứu kính chẳng vào Niết-bàn, mà chẳng phải như nhất-xiển-đề bỏ tất cả thiệncăn. Đại Huệ! Nhất-xiển-đề bỏ tất cả thiện căn, lại nhờ thần lực Như Lai,có khi thiện căn sanh. Vì cớ sao? Vì Như Lai chẳng bỏ tất cả chúng sanh. Vì lẽđó, Bồ-tát nhất-xiển-đề chẳng vào Niết-bàn.
Tất cả pháp xưa nay đã Niết-bàn cứu kính chẳng vào Niết-bàn là, các phápnhư như, không có tướng mình người, không có tướng ngôn thuyết. Chứng tự giácthánh thú là, thấy tự tâm hiện ra thân tài kiến lập, thảy là cảnh giới bất khảtư nghì. Nhưng cảnh giới này mỗi người đầy đủ, chỉ do bất giác không thể chứngbiết, bèn thành thế đế lưu bố. Cho nên nhất-xiển-đề bỏ tất cả thiện căn, dothần lực Như Lai có khi thiện căn sanh. Đây tuy là bổn nguyện của Như Lai, cũngdo Phật tánh chẳng dứt, trong ngoài huân phát, thật có nhân duyên. Bồ-tátxiển-đề do đó chẳng vào Niết-bàn.
b-Nói về ba tự tánh.
Lại nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát phải rành về ba tự tánh. Thế nào là ba tựtánh? Nghĩa là vọng tưởng tự tánh, duyên khởi tự tánh, thành tự tánh.
Đây là đáp câu hỏi về ba tự tánh. Tự tánh cũng nói là thể tánh. Khéo biếtba thứ thể tánh, liền hay từ duyên khởi đạt được biến kế, trở về viên thành,chỉ một sát-na.
Đại Huệ! Vọng tưởng tự tánh từ tướng sanh. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn!Tại sao vọng tưởng tự tánh từ tướng sanh? Phật bảo Đại Huệ: Tướng duyên khởi tựtánh sự tướng, tướng hành hiển hiện sự tướng, chấp trước có hai thứ vọng tưởngtự tánh. Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác kiến lập: Danh tướng chấp trướctướng, sự tướng chấp trước tướng. Danh tướng chấp trước tướng là, nói chấptrước các pháp trong ngoài. Sự tướng chấp trước tướng tức là, kia chấp trước tựtướng cộng tướng trong ngoài như thế. Ấy gọi là hai thứ tướng vọng tưởng tựtánh. Hoặc y hoặc duyên sanh, ấy là duyên khởi.
Vọng tưởng tự tánh từ tướng sanh. Tướng này là hai thứ tướng duyên khởi,tức là danh tướng của năm pháp. Tự tánh sự là danh. Hành hiển sự là tướng. Nhưnhân bình được tên bình, nhân trong bình trống chứa nước được tướng cái bình.Do đây khởi chấp trước tên bình tướng bình, hai thứ vọng tưởng. Ấy gọi là haithứ vọng tưởng tự tánh tướng. Pháp trong ngoài, tức là trong uẩn và ngoài uẩntất cả căn trần, nên nói chấp danh. Pháp tự tướng cộng tướng trong ngoài, gọilà chấp tướng. Đâu biết chấp trước chưa sanh, danh tướng do ai lập? Suy haitướng duyên khởi không nhân, ngộ tự tánh vọng tưởng là do chấp thì đạt được nhưnhư, thành tựu trí viên thành nào đợi gì khác.
Thế nào là thành tự tánh? Nghĩa là lìa vọng tưởng danh, tướng và sựtướng, thánh trí đã được và tự giác thánh trí thú cảnh giới sở hành. Ấy gọi làthành tự tánh Như Lai tàng tâm.
Đây nói thành tự tánh, cũng chẳng vượt ngoài đạt được danh tướng là nhưnhư, rõ vọng tưởng là chánh trí. Thánh trí đã được là chánh trí. Tự giác thánhtrí thú cảnh giới sở hành là như như. Nghĩa là lìa danh tướng vọng tưởng, dotrí nhập như, bản giác thủy giác hiệp một, ấy gọi là thành tự tánh Như Lai tàng tâm.
Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nói kệ rằng:
Danh tướng giác tưởng
Tự tánh hai tướng
Chánh trí như như
Ấy là thành tướng.
Đại Huệ! Ấy gọi là kinh Quán Sát Ngũ Pháp Tự Tánh Tướng, tự giác thánhtrí đến cảnh giới sở hành. Các ông những đại Bồ-tát nên phải tu học.
Nhân quán sát năm pháp mà được cảnh giới thật tướng của ba tự tánh. Đâyphi tự giác thánh trí không thể chứng biết, viên thành hạnh kia. Đây là chỗthánh lạc hạnh. Bồ-tát phải nên tu học.
c- Nói về hai vô ngã.
- NÓI VỀ NHÂN VÔ NGÃ.

Lại nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát phải khéo quán hai thứ tướng vô ngã. Thế nàolà hai tướng vô ngã? Là nhân vô ngã và pháp vô ngã. Thế nào là nhân vô ngã? Làlìa ngã và ngã sở, ấm giới nhập họp, vô minh nghiệp ái sanh. Nhãn sắc v.v…nhiếp thọ chấp trước sanh thức, tất cả các căn tự tâm hiện. Thế giới chúng sanhlà tướng tự vọng tưởng của tàng thức thành lập hiển bày. Như dòng sông, nhưchủng tử, như đèn, như gió, như mây, sát-na lần lượt hoại. Thô động như khỉ vượn,ưa chỗ bất tịnh như ruồi lằng, không nhàm chán như gió thổi lửa. Nhân tập khíhư ngụy từ vô thủy như bánh xe đạp nước. Sanh tử lăn lộn trong các cõi, thọ cácthứ thân sắc. Như huyễn thuật, thần chú, máy động hình đi. Khéo biết tướng kiagọi là trí nhân vô ngã.
Đây là đáp câu hỏi về nhân vô ngã. Bởi chấp ấm giới nhập họp thật có ngãsở, thành tướng nhân ngã. Nếu lìa ngã và ngã sở thì ấm giới nhập liền đó khôngnhân (người). Vô minh nghiệp ái sanh, đây là nói chỗ sanh khởi ban đầu của ấmgiới nhập. Bèn có nhãn v.v… các thức, nhiếp thọ tất cả sắc v.v… Song tất cảchúng sanh thế giới đều tự tâm hiện, do tàng thức hư vọng lập bày, chẳng cóthật thể. Dòng sông v.v… năm dụ để nói sát-na biến hoại. Khỉ vượn v.v… ba dụ đểnói mê lầm cuồng vọng. Do cái hư ngụy từ vô thủy này mà luân chuyển sanh tử,như bánh xe đạp nước xoay vần chẳng dừng. Lại nói thân sắc như huyễn thuật,thần chú, máy động hình đi, là nói trong thân năm uẩn thật không có chủ tể. Nhịthừa tuy biết lìa ngã ngã sở chứng nhân vô ngã, mà chẳng biết do tàng thức lậpbày, đều là tự tâm hiện, nên không thể ngay đây mà phát minh cảnh giới bất tưnghì. Nhân vô ngã này chính là đệ nhất nghĩa trí nhận được.
- NÓI VỀ PHÁP VÔ NGÃ.
Thế nào là pháp vô ngã trí? Nghĩa là giác ấm giới nhập tướng vọngtưởng tự tánh. Như ấm giới nhập lìa ngã và ngã sở. Ấm giới nhập chứa nhóm, nhânnghiệp ái ràng buộc, lần luợt duyên nhau sanh, không diêu động, các pháp cũngvậy. Lìa tướng vọng tưởng, sức vọng tưởng tự tướng cộng tướng chẳng thật. Đâylà phàm phu sanh, chẳng phải thánh hiền. Vì tâm, ý, ý thức, năm pháp, ba tựtánh lìa. Đại Huệ! Đại Bồ-tát phải khéo phân biệt tất cả pháp vô ngã.
Pháp ấm giới nhập vốn không tự tánh, do tướng vọng tưởng mà làm tự tánh.Chính nơi đây giác biết liền lìa ngã sở. Đã có vô mimh phát nghiệp, ái thủ tiếpnối, lần lượt duyên sanh mà lý bản trụ (chân tánh) vẫn không diêu động. Mớibiết tất cả các pháp tự tướng cộng tướng đều lìa. Bởi do vọng tưởng hư ngụyvọng thấy có tướng làm tăng trưởng sức vọng, phàm phu mê chấp chẳng đạt đượcnguồn cội pháp. Chân như không tánh, tâm pháp đồng nguồn, bờ cõi vọng phânkhông thể gạn cùng. Nếu đạt vọng tưởng do nơi bất giác, mới rõ muôn pháp cứukính như như. Tâm, ý, ý thức bất giác như không hoa đâu cần trừ dẹp. Năm phápba tánh như như, thể lặng lẽ nào nhọc chuyển biến. Phàm phu vọng có, Nhị thừaphân tích thành không, đều thành pháp chướng. Đây vẫn chẳng nói không ấm giớinhập, mà nói như ấm giới nhập. Về tự tâm hiện lượng không thể dùng trí mà biết.
Khéo rành pháp vô ngã, đại Bồ-tát chẳng bao lâu sẽ được sơ địa. Bồ-tát vôsở hữu quán tướng địa, quán sát khai giác Hoan Hỷ, thứ lớp tiến lên vượt đếntướng cửu địa, được Pháp Vân địa. Nơi kia dựng lập vô lượng bảo trang nghiêm,hoa sen báu lớn, voi chúa, cung điện báu lớn, cảnh giới huyễn tự tánh do tu tậpsanh. Ngồi nơi kia đồng một loại với các vị Tối thắng tử, quyến thuộc vâyquanh. Từ tất cả cõi Phật đến, Phật lấy tay làm phép quán đảnh, như thái tử convua Chuyển luân làm phép quán đảnh. Vượt địa vị phật tử, đến tự giác thánh trípháp thú, sẽ được pháp thân tự tại Như Lai, vì thấy pháp vô ngã. Ấy gọi làtướng pháp vô ngã, đại Bồ-tát các ông phải nên tu học.
Vô sở hữu cùng Hoan Hỷ đều là tướng sơ địa. Pháp Vân là thập địa. Từ địanày hiện ra cõi nước đều là cảnh giới tự tánh huyễn, do vì tu sanh. Đến vượtPhật tử địa mới đến tự giác thánh thú. Nếu đạt tự tâm hiện thấy thân tài dựnglập đều là cảnh giới bất tư nghì. Chóng vào tự giác thánh thú liền vượt lên cácđịa, trong sát-na chứng biết chẳng do thứ lớp, mới biết pháp chân vô ngã.
-CHỈ THIỆN PHÁP VÔ NGÃ.
+ LÌA DỰNG LẬP PHỈ BÁNG.
Khi ấy, đại Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Tướng dựng lập phỉbáng, cúi mong Thế Tôn nói, khiến con và chư đại Bồ-tát lìa ác kiến hai bêndựng lập và phỉ báng, chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Giác rồi, lìakiến chấp thường là kiến lập, đoạn là phỉ báng, để không chê bai chánh pháp.
Dựng lập và phỉ báng là hai kiến chấp có và không. Duy chánh pháp mới haylìa nó. Song Nhị thừa thấy ngoài tâm có pháp vẫn phải phá trừ. Ngoài uẩn biếtchân, còn chẳng khỏi xu hướng, huống là ngoại đạo. Do đó, tự giác thánh trí xalìa hai bên dạy bảo Bồ-tát, đây là nhân chân thật của bồ-đề.
Thế Tôn nhận lời Bồ-tát Đại Huệ thỉnh rồi vì nói kệ:
Dựng lập và phỉ báng
Không có tâm lượng kia
Thân thọ dụng dựng lập
Và tâm không thể biết.
Ngu si không trítuệ
Dựng lập và phỉbáng.
Hai kiến chấp có không là ngoài tâm vọng chấp. Không có tâm lượng kia là,có không chẳng phải chỗ tột, cấu thành tâm lượng. Muôn pháp như mộng, một phenmê sanh ra. Trong mộng chúng sanh và thế giới chẳng phải chỗ biết của tâm. Muốnđem sai biệt của việc mộng, toan nói thật về giác tâm thì nào khác vẽ hình dánghư không, chỉ thêm ngu si.
Thế Tôn nói nghĩa của kệ này, muốn lặp lại cho rõ ràng, bảo Đại Huệ: Cóbốn thứ chẳng phải có, mà có dựng lập. Thế nào là bốn? Nghĩa là: Chẳng có tướngdựng lập, chẳng có kiến dựng lập, chẳng có nhân dựng lập, chẳng có tánh dựnglập, ấy gọi là bốn thứ dựng lập. Lại phỉ báng là, đối với sở lập kia không có chỗđược, quán sát không nhận được, bèn khởi phỉ báng. Ấy gọi là tướng dựng lập phỉbáng.
Tự tâm hiện lượng vốn không tướng mà dựng lập tướng, vốn không kiến màdựng lập kiến, vốn không nhân mà dựng lập nhân, vốn không tánh mà dựng lậptánh. Đây đều không biết tự tâm hiện lượng, cho nên chỗ dựng lập đều không cónghĩa thật. Bởi không có nghĩa thật bèn sanh phỉ báng thì không khác với dựnglập. Hai lối chấp này đối với tự tâm hiện lượng cách nhau quá xa.
Lại nữa, Đại Huệ! Thế nào chẳng có tướng dựng lập tướng? Nghĩa là: ấmgiới nhập chẳng có tự tướng cộng tướng mà khởi chấp trước, đây như thế, đâychẳng khác. Ấy gọi là chẳng có tướng dựng lập tướng. Chẳng có tướng mà dựnglập, đây là do lỗi vọng tưởng hư ngụy từ vô thủy, các thứ tập khí chấp trước màsanh.
Từ đây về sau bày rõ vốn không tướng v.v… mà khởi chấp trước tướng v.v…Ấm giới nhập vốn không tự tướng cộng tướng mà khởi chấp trước tự tướng cộngtướng. Nên bảo “pháp ngã chấp cứng không buông”, do đó chánh văn nói “đây nhưthế, đây chẳng khác”. Song đều do mê Như Lai tàng mà có nghiệp tướng chuyểntướng các thứ hư ngụy. Lại chạy theo căn thức dẫn khởi các thứ tập khí. Đây làsuy nguyên bởi do chấp trước mà sanh.
Đại Huệ! Chẳng có kiến dựng lập tướng là, ấm giới nhập kia như thế chấpngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, trưởng dưỡng, sĩ phu dựng lập. Ấy gọi là chẳngphải có kiến dựng lập tướng. Đại Huệ! Chẳng có nhân dựng lập tướng là, thức banđầu không nhân sanh, sau chẳng thật như huyễn vốn chẳng sanh nhãn, sắc, minh,giới, niệm, trước sanh, sanh rồi, thật có rồi trở lại hoại. Ấy gọi là chẳng cónhân dựng lập tướng.
Kiến tức là ngã kiến nơi ấm giới nhập, nên gọi là nhân ngã. Thức ban đầukhông nhân sanh là, mê tàng làm thức, do đó có nghiệp tướng chuyển tướng, đềulà việc trong mê, in tuồng sanh mà chẳng có nhân sanh. Đã in tuồng sanh tứcchẳng thật như huyễn, là vốn chẳng sanh. Do nhãn, thức, sắc, minh in tuồng sanhtiếp nối, nối rồi lại dứt. Nói tóm lại, vốn chẳng có nhân vọng chấp làm nhân,mà khởi ra dựng lập.
Đại Huệ! Chẳng có tánh dựng lập tướng là, hư không, diệt tận, bátNiết-bàn, chẳng phải làm ra, chấp trước tánh dựng lập. Những thứ này lìa tánhphi tánh. Tất cả pháp như sừng thỏ, ngựa v.v… như thấy tóc rủ, lìa có và chẳngphải có. Ấy gọi là chẳng có tánh dựng lập tướng. Dựng lập và phỉ báng là nguphu vọng tưởng, chẳng khéo quán sát tự tâm hiện lượng, không phải thánh hiền.Thế nên lìa ác kiến dựng lập phỉ báng, nên phải tu học.
Hư không, diệt tận, Niết-bàn chẳng phải tánh làm ra, vọng chấp tánh làmra, ấy là chẳng có tánh dựng lập. Lìa tánh phi tánh là, lìa có và không. Đãchẳng phải tánh làm ra tức là lìa có; không cũng do đối đãi với có, nên lìa cótức là lìa chẳng phải có (không). Xét kỹ mà nói thì tất cả pháp đều lìa có vàkhông, như sừng thỏ, ngựa, như thấy tóc rủ. Cho nên biết, dựng lập phỉ báng đềulà vọng chấp của ngu phu. Chẳng phải người khéo quán sát tự tâm hiện lượng,không thể thâm đạt được thật tướng, nên cần phải tu học.
+ TIẾN ĐẾN CỨU KÍNH ĐỘ THOÁT.
Lại nữa, Đại Huệ! Đại Bồ-tát khéo biết tướng tâm, ý, ý thức, nămpháp, ba tự tánh, hai vô ngã, tiến đến cứu kính. Vì an chúng sanh nên hiện cácthứ hình loại, như chỗ vọng tưởng tự tánh, y nơi duyên khởi. Thí như các sắchiện trong bảo châu như ý, (Bồ-tát) khắp hiện ở tất cả cõi nước chư Phật, tấtcả Như Lai có đại chúng nhóm họp, thảy đều ở trong ấy nghe nhận Phật pháp. Nênnói tất cả pháp như huyễn, như mộng, bóng trong nắng, trăng đáy nước, nơi tấtcả pháp lìa sanh, diệt, đoạn, thường và lìa pháp Thanh văn, Duyên giác, đượctrăm ngàn tam-muội, cho đến trăm ngàn ức na-do-tha tam-muội. Được tam-muội rồi,dạo đi đến cõi nước chư Phật, cúng dường chư Phật, sanh trong các thiêncung để tuyên dương Tam bảo. Thị hiện thân Phật có Thanh văn, Bồ-tát, đại chúngvây quanh, dùng tự tâm hiện lượng độ thoát chúng sanh, phân biệt diễn nói ngoạitánh là không tánh, thảy khiến xa lìa kiến chấp có, không v.v…
Đây là tổng kết Bồ-tát phải khéo biết tướng tâm, ý, ý thức, năm pháp, batự tánh, hai vô ngã. Vì khéo biết tướng này nên hay trụ tự tâm hiện lượng, tiếnđến chỗ cứu kính. Nghĩa là cứu kính hiện lượng, chẳng bị kiến chấp phàm thánhlàm hạn lượng, mới có thể tùy thời xuất hiện tự tại vô ngại. Nhiên hậu vì anchúng sanh, thị hiện các thứ hình loại như huyễn, hiện các thứ cõi nước nhưhuyễn, được các thứ tam-muội như huyễn, dạo các cõi Phật như huyễn, làm các thứcúng dường như huyễn, sanh trên các cung trời như huyễn, hiện các thứ thân Phậtnhư huyễn, họp các thứ Bồ-tát, Thanh văn đại chúng như huyễn, nói các thứ phápnhư huyễn, độ các thứ chúng sanh như huyễn, đều do tự tâm hiện lượng, xa lìakiến chấp có, không v.v… tiến đến cứu kính. Tự tâm hiện lượng này ở trong vịmê, y nơi duyên khởi mà khởi các vọng tưởng, cũng mỗi thứ như huyễn, như mộng,như bóng trong nắng, như trăng đáy nước, lìa các thứ có không, cũng lìa phápThanh văn Duyên giác v.v… Chỉ do bất giác không thể chứng biết. Người giác đượctự tâm hiện lượng hay tạo ra hiện ra. Chính ở trên nói “như chỗ vọng tưởng tựtánh, y nơi duyên khởi”, là cứu kính hiện lượng vậy.
Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này, nói kệ rằng:
Tâm lượng thế gian
Phật tử quán sát
Các thân chủng loại
Lìa hành sở tác
Được sức thần thông
Thành tựu tự tại.
Kệ nói tâm lượng thế gian và các chủng loại thân tướng đều lìa tánh tạotác. Bồ-tát quán nơi đây liền hay ở bên trong phát lực thông, thành tựutự tại. Đây vẫn là đạt tự tánh vọng tưởng, y nơi duyên khởi, trong khoảngsát-na, thức trí chuyển biến, thể đồng mà dụng khác.
- CHỈ THIỆN PHÁP VÔ NGÃ ĐƯỢC BỐNTƯỚNG PHÁP VÔ NGÃ.
+ TƯỚNG PHÁP KHÔNG.
Khi ấy đại Bồ-tát Đại Huệ thỉnh hỏi Phật: Cúi mong Thế Tôn vìchúng con nói tất cả pháp không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh. Các convà chúng Bồ-tát khác giác ngộ pháp không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánhrồi thì sẽ lìa vọng tưởng có và không, chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánhgiác. Thế Tôn bảo Bồ-tát Đại Huệ: Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, naysẽ vì ông rộng phân biệt nói. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vângthọ giáo.
Không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh, Thế Tôn thường lấy diệu chỉnày để hiển bày tự tánh, chẳng rơi vào có không. Văn sau phân biệt bốn câu (tứcú), mà trước chỉ cho người do chẳng lìa vọng tưởng mà được chỗ tự chứng. Nhiênhậu biết kinh điển do ngữ mà nhập nghĩa, chẳng phải chân thật ở chỗ ngônthuyết.
Phật bảo Đại Huệ: Không không tức là chỗ tự tánh vọng tưởng. Đại Huệ!Người chấp trước tự tánh vọng tưởng nói không, vô sanh, không hai, lìa tướng tựtánh. Đại Huệ! Kia lược nói bảy thứ không, nghĩa là: Tướng không, tánh tự tánhkhông, hành không, vô hành không, nhất thiết pháp ly ngôn thuyết không, đệ nhấtnghĩa thánh trí đại không, bỉ bỉ không.
Đây tức nơi tự tánh vọng tưởng chỉ ra chân không. Chân không chẳng không,nên nói không không. Không không tức là chỗ tự tánh vọng tưởng, chỉ có chứngbiết không thể nói bày. Bởi vì chúng sanh không biết tự tánh vọng tưởng là chânkhông, vọng khởi chấp trước, nên nói không, nói vô sanh, nói không hai, nói lìatướng tự tánh, khiến ngộ chỗ hành thánh lạc ngay trong vọng tưởng, chỉ cần lìachấp trước, liền đó chứng biết, lại không riêng có. Trước bày ra bảy tướngkhông. Vô sanh, không hai, lìa tánh, so đồng với nghĩa không, đều chẳng phải bỏvọng tưởng riêng có các nghĩa.
Thế nào là tướng không? Nghĩa là tất cả tánh tự tướng cộng tướng đềukhông. Vì quán sát sự triển chuyển chứa nhóm, phân biệt không tánh, tự tướngcộng tướng chẳng sanh, tánh tự, tha, câu (chung) đều không tánh, cho nên tướngchẳng trụ. Thế nên nói tất cả tánh tướng không, gọi là tướng không vậy.
Tất cả pháp tánh không tự tướng cộng tướng, vọng thấy có tự tướng nên cócộng tướng, vọng thấy cộng tướng nên có tự tướng. Triển chuyển đối đãi nhau,chứa nhóm mà thành, đều do phân biệt vậy. Tánh phân biệt đã rỗng thì tướng tựtha cũng dối, tức là tướng mà không tướng, cho nên nói tướng không.
Thế nào tánh tự tánh không? Nghĩa là tánh chính mình; tự tánh chẳng sanh.Ấy gọi là tất cả pháp tánh tự tánh không, nên nói tánh tự tánh không.
Tất cả pháp tánh vọng thấy có không, không phải tất cả pháp thật có tánhchính nó. Pháp thiện không có tự tánh thiện, pháp ác không có tự tánh ác. Tấtcả pháp không có tự tánh tất cả pháp. Cho nên tánh tự tánh không, chẳng phảikhông tánh nói là không.
Thế nào là hành không? Nghĩa là ấm lìa ngã và ngã sở. Nhân sở thành nênsở tạo nghiệp phương tiện sanh, ấy gọi là hành không.
Nhân sở thành là chủng tử, sở tạo nghiệp là hiện hạnh. Đây là sở do cácấm sanh khởi. Mê tâm làm thức thì chủng tử hiện hạnh lẫn huân, tâm vương tâm sởxen nhau vọng khởi, không ngã ngã sở nên không.
Đại Huệ! Tức cái hành không như thế ấy triển chuyển duyên khởi, tự tánhkhông tánh, ấy gọi là vô hành không.
Các ấm hành xứ đương thể toàn không, tức là Niết-bàn. Nhân nơi không mànói ấm, nhân nơi ấm mà nói không, triển chuyển duyên khởi, đều không có tựtánh. Không ấm không không, nên nói không hành không.
Thế nào là nhất thiết pháp ly ngôn thuyết không? Nghĩa là tự tánh vọngtưởng vì không có ngôn thuyết, nên tất cả pháp lìa ngôn thuyết. Ấy gọi là nhấtthiết pháp ly ngôn thuyết không.
Tự tánh vọng tưởng tức chẳng phải tự tánh vọng tưởng, chẳng phải ngoài tựtánh vọng tưởng lại có ngôn thuyết. Cho nên biết tất cả pháp đều lìa ngônthuyết.
Thế nào nhất thiết pháp đệ nhất nghĩa thánh trí đại không? Nghĩa là ngườiđược tự giác thánh trí thì tất cả lỗi tập khí kiến chấp không, ấy gọi là nhấtthiết pháp đệ nhất nghĩa thánh trí đại không.
Tự giác thánh trí vốn lìa các kiến chấp lỗi lầm về có và không. Nơi đâychứng biết thì tất cả chỗ tất cả thời tất cả việc thành đệ nhất nghĩa, ấy là đệnhất nghĩa đại không.
Thế nào là bỉ bỉ không? Nghĩa là đối với kia không cái không kia, ấy gọilà bỉ bỉ không. Đại Huệ! Thí như nhà của Lộc tử mẫu không có voi ngựa trâu dêv.v…, chẳng phải không chúng tỳ-kheo, mà nói kia không. Chẳng phải nhà nhà tánhkhông, cũng chẳng phải tỳ-kheo tỳ-kheo tánh không, chẳng phải chỗ khác khôngvoi ngựa. Ấy gọi là tất cả pháp tự tướng. Kia nơi kia không kia, ấy gọi là bỉbỉ không. Đây gọi là bảy thứ không. Cái bỉ bỉ không là cái không rất thô, ôngphải xa lìa.
Nơi kia không đây, nơi đây không kia, nên nói bỉ bỉ không. Như nhà Lộc tửmẫu không voi ngựa trâu dê, chẳng phải không chúng tỳ-kheo, mà nói kia không,đây là nghĩa bỉ bỉ không. Song nhà Lộc tử mẫu tuy không voi ngựa trâu dê màchẳng phải không chúng Tỳ-kheo. Như nhà chẳng phải không tự tánh nhà, Tỳ-kheochẳng phải không tự tánh Tỳ-kheo. Nhà Lộc tử mẫu không voi ngựa, cũng chẳngphải chỗ khác không voi ngựa. Đây là tất cả pháp không tha tướng chẳng phảikhông tự tướng. Cho nên bỉ bỉ không rất thô vô nghĩa, nên phải xa lìa. Nghĩa làngoại đạo chấp không, chẳng giống chánh pháp của ta có sáu nghĩa không. Ngaynơi đó liền lìa tất cả tập khí kiến chấp có không, là không có không tha tánh,mà chẳng phải không tự tánh.
+ TƯỚNG VÔ SANH.
Đại Huệ! Chẳng tự sanh chẳng phải chẳng sanh. Trừ người trụ tam-muội, ấygọi là vô sanh.
Chẳng tự sanh là, tự thể vốn vô sanh tánh. Chẳng phải chẳng sanh là, nhânduyên hội ngộ in tuồng sanh tương tục, mê tình chưa hết không thể nói không,thể vọng vốn rỗng thì sanh cũng chẳng phải có. Nên nói “pháp nhân duyên sanhra, ta nói tức là không”. Đây tên vô sanh, chẳng phải trụ tam-muội mà nói vôsanh.
+ LÌA TƯỚNG TỰ TÁNH.
Lìa tự tánh tức là vô sanh. Lìa tự tánh thì sát-na tương tục lưu chú vàdị tánh hiện. Tất cả tánh lìa tự tánh, thế nên tất cả tánh ly tự tánh.
Lìa tự tánh là mật chỉ vô sanh, cho nên lại nói tức là vô sanh. Chỉ khôngtự tánh thì chính khi sanh là chẳng sanh. Tuy tương tục lưu chú mà sát-na chẳngdừng, tướng biến dị hiện, nên biết tất cả tánh lìa tự tánh.
+ KHÔNG HAI TƯỚNG.
Thế nào là không hai? Nghĩa là tất cả pháp như lạnh nóng dài ngắn đentrắng. Đại Huệ! Tất cả cả pháp không hai, chẳng phải đây Niết-bàn kia sanh tử,chẳng phải đây sanh tử kia Niết-bàn, vì tướng khác nhân khác mà có tánh, ấy gọilà không hai. Như Niết-bàn sanh tử, tất cả pháp cũng thế. Thế nên không, vôsanh, không hai, lìa tướng tự tánh, nên phải tu học.
Nói là hai, như lạnh cùng nóng khác, dài cùng ngắn khác, đen cùng trắngkhác, nên nói tướng khác nhân khác. Song tướng chẳng phải hai tướng, nhân chẳngphải hai nhân, ấy gọi là không hai. Cho nên biết ngoài Niết-bàn không sanh tử,ngoài sanh tử không Niết-bàn. Sanh tử Niết-bàn tướng khác, sanh tử Niết-bànnhân khác. Nhưng tướng chẳng hai tướng, nhân chẳng hai nhân, nên nói nhân kháctướng khác là có tánh. Mê giác là nhân, chân vọng thành tướng. Mê này giác nàychân này vọng này dường như có thấy khác, mà không hai thể. Tất cả pháp cũnglại như thế.
+ KẾT BỐN TƯỚNG VÀO TẤT CẢKINH ĐIỂN.
Khi ấy, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này, nói kệ rằng:
Ta thường nói phápkhông
Xa lìa nơi đoạn thường.
Sanh tử như huyễnmộng
Mà nghiệp kia chẳnghoại.
Hư không vàNiết-bàn
Diệt định hai cũng thế.
Ngu phu khởi vọngtưởng
Chưthánh lìa có không.
Như Lai nói ra pháp không là nói tự tánh vọng tưởng chân không. Tự tánhvọng tưởng chân không siêu việt đoạn thường, ở trong sanh tử trọn như mộnghuyễn. Trong mộng huyễn không có tướng hoại cùng với chẳng hoại. Nói có nghiệphoại, vẫn thuộc về kiến chấp có không. Tự tánh chân không như ba thứ vô vi,chóng lìa có không, chẳng có các lỗi lầm. Cho nên chẳng đồng với ngu phu chạytheo vọng tưởng bất giác chấp trước.
Thế Tôn lại bảo đại Bồ-tát Đại Huệ rằng: Này Đại Huệ! Không, vô sanh,không hai, lìa tướng tự tánh, khắp vào tất cả kinh điển chư Phật. Phàm có kinhđều nói nghĩa này. Vì các kinh điển thảy tùy theo tâm hy vọng của chúng sanh,vì họ phân biệt nói hiển bày nghĩa ấy, mà không phải chân thật tại ngôn thuyết.Ví như một con nai khát nước tưởng nước, rồi làm mê lầm cả bầy nai. Nai ở nơitướng kia chấp trước thật nước, mà nơi kia không nuớc. Như thế, tất cả kinhđiển nói ra các pháp vì khiến kẻ ngu phát hoan hỷ, chẳng phải thật thánh trí ởnơi ngôn thuyết. Thế nên phải y nơi nghĩa chớ chấp ngôn thuyết.
Đây lại kết nói vì tự tánh vọng tưởng, chấp trước nên nói không, vô sanh,không hai, lìa tướng tự tánh. Nếu hay chứng biết tự tánh vọng tưởng, liền lìachấp trước, ngay nơi đó lặng lẽ. Thế mới biết, không, vô sanh, không hai, lìatự tánh vẫn là tột chỉ ra chủ yếu, mà chẳng phải hiển thẳng đệ nhất nghĩa. Chonên nói, các kinh điển tùy tâm hy vọng của chúng sanh, hiển bày nghĩa kia, màchẳng phải chân thật ở nơi ngôn thuyết. Hiển bày nghĩa kia là do ngữ mà vàonghĩa, như ngọn đèn soi sự vật, mà chẳng phải chân thật ở lời nói. Cho nênkhông thể y ngữ mà nhận nghĩa. Đây là nói phải y nơi nghĩa chớ y nơi ngônthuyết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn