Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Nhứt thiết Phật nhiếp tương ưng Đại giáo vương kinh, Thánh Quán Tự Tại Bồ-tát niệm tụng nghi quỹ

20/07/201115:20(Xem: 1903)
Nhứt thiết Phật nhiếp tương ưng Đại giáo vương kinh, Thánh Quán Tự Tại Bồ-tát niệm tụng nghi quỹ

Phat_Thich_Ca_11NHỨT THIẾT PHẬT NHIẾP TƯƠNG ƯNG
Đại giáo vương kinh
Thánh Quán Tự Tại Bồ-tát niệm tụng nghi quỹ

Hán dịch: Đại sư Pháp Hiền
Việt dịch: Sa-môn Thích Viên Đức

Con nay quy mạng Phật, Bồ-tát
Diễn bày Tương Ưng Đại Giáo Vương
Lược thuật Quán Âm Bồ-tát nghi
Nay làm công việc lợi quần sanh

Lúc bấy giờ đức Thế tôn vì muốn lợi ích các chúng sanh, diễn nói Đại Giáo Tương Ưng của chư Phật.

Phật dạy: “Nếu vị a-xà-lê cùng người tu hành muốn tu hạnh Bồ-đề phần pháp và các món thành tựu, nên đối với pháp của Quán Tự Tại Bồ-tát mà tu tập. Nếu tu pháp này, trước cầu tịnh xứ, y nơi nghi quỹ chuyên tâm không giãi đãi, tu hành trước hết phải cho được tinh thục, nhiên hậu y pháp quán tưởng và tụng chữ “Hùm”. Chọn đất kiết giới làm pháp khiển ma xong, nơi ấy mới trải tòa cỏ mà ngồi. Lúc này người trì tụng phải đem hết sức vận tưởng, quán tưởng hiền thánh. Trước cần tịnh tam nghiệp, tức tụng Tịnh tam nghiệp chơn ngôn:

Úm Ca dã phạ cô tức đa Phạ nhật ra ta bà phạ đát ra cô ham.

Tụng chơn ngôn này rồi, lại nói thí dụ già-đà rằng:

Thí như sắc sen thơm trong sạch

Tuy sanh trong bùn không thể nhiễm

Như vậy chúng sanh ở phiền não

Thảy được trong sạch nơi tam giới.

Tụng già-đà rồi, tự mình tưởng nơi trên đảnh đội mão báu, trong đó có Phật Vô Lượng Thọ. Lại nữa, ở trong bổn tâm, tưởng ra một hoa sen trắng nở tròn, trên hoa sen kia có vành nguyệt luân, nơi trong nguyệt luân hiện ra chữ “Úm”, thể như hư không, chỉ cho Chơn thật đại trí, nhiên hậu tụng Khai huệ chơn ngôn:

Úm Tức đa Bát ra đê vi đặng Ca rô mi.

Tụng chơn ngôn này rồi, lại tưởng chúng bảo hóa thành hoa sen tám cánh, trên hoa sen quán tưởng vành nguyệt luân, trong nguyệt luân hiện ra chữ “Hột-lăng”, tức là bổn thân của Quán Tự Tại Bồ-tát ngồi kiết già phu. Thân ngài sắc đỏ, có hai tay. Bên tả của Bồ-tát, tưởng Bạch Y Bồ-tát tay cầm hoa sen. Lại tưởng tám phương hiền thánh: thứ nhất nơi cánh sen phía Đông, tưởng Vĩ-lộ-kiết-nễ Bồ-tát tay cầm hoa sen màu hồng. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Vĩ lô kiết nễ A phạ lô ca giả Ta phạ ha.

Nơi cánh sen phía Nam, tưởng Đa-la Bồ-tát, tay cầm hoa sen màu lục. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Đa rị Đốt đa rị Đốt rị Ta phạ ha.

Lại tưởng cánh sen phía Tây có Bộ-lị-ni Bồ-tát, tay cầm hoa Ưu-bát-la, trong hoa có tám vòng bức luân. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Bộ lị ni Ma hạ tát hật ra phạ lị để nể hồng.

Nơi cánh sen phía Bắc, tưởng hiện ra Tần-mi Bồ-tát, tay cầm hoa sen màu vàng. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Giáo lị cô trí đát trí mạt tra hùm.

Lại nơi cánh sen phía Đông-Bắc, tưởng hiện ra Bát-nạp-ma-phạ-tì-nể Bồ-tát, tay cầm hoa sen màu xanh lợt. Bồ-tát chân ngôn:

Úm Ma hạ Thất lị duệ Mani Bát nạp mi Hồng.

Lại nữa, nơi cánh sen phía Đông-Nam, tưởng hiện ra Phạ-nhật-ra Bát-nạp-ma-thuyết-lị Bồ-tát, tay cầm hoa sen trắng. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Phạ nhật ra Bát nạp mi Thấp phạ lị Đà ra Bát nạp mi Hồng.

Lại nữa, ở nơi cánh sen phía Tây-Nam, lại tưởng Vĩ-thuyết-Bát-nạp-ma Bồ-tát, tay cầm hoa sen đen. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Vĩ thấp phạ Bát nạp mi Hật lị.

Lại nữa ở cánh hoa sen phía Tây-Bắc, tưởng hiện ra Vĩ-thuyết-Phạ-nhựt-ra Bồ-tát, tay cầm chày yết-ma. Bồ-tát chân ngôn rằng:

Úm Vĩ thấp phạ Phạ nhựt lị Hồng.

Lại nữa, nơi giữa trung tâm của hoa sen, tưởng ngài Quán Tự Tại đại Bồ-tát, hiện đại diệu sắc thân. Chơn ngôn rằng:

Úm Hột lăng Bát nạp ma Na lị đế Thấp phạ ra Hồng.

Nếu người trì tụng bảy pháp quán tưởng các đại Bồ-tát và vi diệu chơn ngôn như vậy, và tụng chơn ngôn chuyên chú không thối chuyển, đấy là người đương lai mau chứng quả Phật. Mặc dù người ấy còn thọ ngũ dục lạc cũng có thể viên mãn thập Ba-la-mật và Tổng trì môn, cho đến Bích-chi Phật quả, Thập địa Bồ-tát và Phật, mau được thành tựu, chớ sanh nghi hoặc.

Lại nữa, người trì tụng cũng cần thường phục năm món Đại thừa dược, nghĩa là: Mạo địa tức đa yết lị bố ra ra hật đa tán nại na phạ nhật ra ô na ca… Nếu hay thường phục những thuốc như vậy và trì tụng không trễ nãi, sẽ chóng xa lìa già, bịnh, khổ, tăng trưởng thọ mạng, biến đổi sắc tướng, người thấy kính mến, hiện đời hoạch đắc thành tối thượng trí.

Lại nữa, đã có tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục, cho đến câu triệu, trừ diệt các ma, phát khiển oán ác, cấm pháp, đả ác pháp, cho đến phi không tự tại và các tam-ma-địa, nếu tu Quán Tự Tại pháp thì thảy đều thành tựu.

Quán Tự Tại Bồ-tát căn bản chơn ngôn rằng:

Úm Hột lăng Bát nạp ma Na lị đế Thấp phạ ra Hồng.

Lại nữa, nếu người trì tụng thường niệm Quán Tự Tại Bồ-tát căn bản chơn ngôn này, ngày đêm tụng 108 biến, những tội mà người ấy đã tạo ra thảy đều được tiêu diệt.

Tụng 500 biến hay trừ tất cả bịnh.

Nếu mỗi ngày tụng 1000 biến được thọ mạngtăng trưởng.

Nếu tụng 2000 biến được mọi người cung kính.

Nếu tụng 3000 biến, mọi người kính mến, tăng trưởng giàu có.

Nếu tụng 4000 biến xa lìa bần khổ.

Tụng 5000 biến hay khiến các oan gia thân tâm mờ mịt.

Tụng 6000 biến hay hàng các oan gia.

Tụng 7000 biến hay hàng Tứ ma.

Tụng 8000 biến hay hàng chư Thiên và Thiên nữ.

Tụng 9000 biến hay hàng Dạ-xoa, Dạ-xoa nữ.

Tụng một vạn biến hay hàng thiên long và nhơn.

Tụng hai vạn biến hiền thánh làm cho thành tựu các pháp ẩn thân.

Tụng ba vạn biến hay mãn tất cả nguyện.

Tụng bốn vạn biến sẽ được đằng không tự tại.

Tụng năm vạn biến sẽ được thánh kiếm thành tựu.

Tụng sáu vạn biến sẽ được Trì Minh Thiên.

Tụng bảy vạn biến được làm chúa trong thế gian.

Tụng tám vạn biến được địa vị Thiết Luân Vương.

Tụng chín vạn biến sẽ được địa vị Kim Luân Vương.

Tụng một lạc-xoa số sẽ được địa vị Bồ-tát.

Nếu tụng 10 lạc-xoa sẽ được tự tại, mãn thập địa vị.

Tụng 50 lạc-xoa số, chứng Phật vị.

Tụng một câu-chi số sẽ được cụ túc Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật thân khẩu ý, lợi lạc chúng sanh.

Lúc bấy giờ đức Thế tôn lại nói Bạch Y Bồ-tát chơn ngôn:

Úm Bán nõa ra Phạ tỉ nể Pha ra nễ Hồng.

Nếu người thường hay trì tụng Bạch Y Bồ-tát vi diệu chơn ngôn, tất cả tội nghiệp đã phạm thảy đều được tiêu diệt. Nếu hay y pháp chuyên chú trì tụng mãn bảy ngày, hết thảy nhân dân trong quốc thành đều phụng trọng hành giả. Tụng một tháng, thu hoạch đại giàu có. Trì tụng như vậy cho đến một lạc-xoa số, sẽ được cùng Bồ-tát oai lực không khác.

Lại nữa (đức Thế tôn) nói Vĩ-lộ-kiết-nễ Bồ-tát chơn ngôn rằng:

Úm Vĩ lộ kiết nễ A phạ lộ ca giả Ta phạ ha.

Nếu người y pháp, trì tụng vi diệu chân ngôn của Bồ-tát này một vạn biến sẽ được thành tựu thánh kiếm. Nếu trì tụng có sở cầu việc gì, nên lấy cây tăm chùi răng gia trì 21 biền chùi răng mà nằm cầu việc gì, trong mộng đều ứng nói. Phàm việc đã nói ra, thảy đều chân thật.

Lại nữa (đức Thế tôn) nói Đa-la Bồ-tát chơn ngôn rằng:

Úm Đa lị Đốt đa lị Đốt lị Ta phạ ha.

Nếu người y pháp trì tụng vi diệu chân ngôn Bồ-tát này một lạc-xoa số, thì có thể hàng phục tam giới. Các thiên, long, A-tu-la, Trì Minh Thiên và những kẻ nữ kia đến làm kẻ tôi bộc, tùy tâm mình sai khiến. Người trì tụng nếu muốn làm pháp câu triệu thiên long và những vị nữ ấy đến, nên tưởng thân các vị ấy sắc đỏ, giữa tâm có kim cang câu, hào quang rực rỡ, câu nơi tâm của vị ấy. Lại tưởng quyến tác buộc nơi cổ chân làm tướng sợ hãi. Phàm chế câu triệu ấy tùy lúc trì tụng quyết định mau đến, có sở cầu việc gì, thảy đều tùy tâm.

Lại nữa (đức Thế tôn) nói Bộ-lị-ni Bồ-tát chơn ngôn:

Úm Bộ lị ni Ma ha tát hật ra phạ lị để nể hồng.

Nếu người trì tụng vi diệu chân ngôn Bồ-tát, muốn cầu thành tựu, trước nên dùng những thuốc Vĩ nạ phạ phạ nhật rô na ca thoa nơi đạo tràng, tưởng như mặt trăng tròn, nhiên hậu tùy sức trang bị hương hoa cúng dường ở trong đàn. Người trì tụng nhiên hậu kiết già phu tọa, nhất tâm chuyên chú trì tụng không biếng trễ, có việc sở cầu gì quyết được thành tựu, sau khi mạng chung được sanh Cực Lạc thế giới.

Lại nữa (đức Thế tôn) nói Tần-mi Bồ-tát chơn ngôn rằng:

Úm Giáo lị cô trí đát trí mạt tra hồng.

Nếu người trì tụng vi diệu chân ngôn Bồ-tát này muốn làm phép điều phục, phải lấy đất dưới chân của kẻ oan gia và đất hai bên bờ sông, lại dùng thuốc độc, giới tử, muối, máu và cốc-vĩ-nã-phạ, phạ-nhật-rô-na-ca… đồng hòa làm bùn dẻo nắn hình tượng kẻ oan gia, dùng xương người làm đinh nọc, đóng nơi thân phần chi tiết của tượng oan gia đặt trong cái đầu lâu, dụng độc lâu ấy đem nơi thi đà lâm, dùng lửa thiêu tử thi thiêu cháy ra tro. Tụng chơn ngôn gia trì trải qua 21 ngày đêm quyết định điều phục.

Lại nói Bát-nạp-ma-phạ-tì-nể Bồ-tát chơn ngôn rằng:

Úm Ma hạ Thất lị duệ Mani Bát nạp mi Hồng.

Nếu trì tụng vi diệu chân ngôn Bồ-tát này, trước phải lấy năm món hương hoacúng dường, rồi mới có thể trì tụng. Có thể làm tất cả việc ủng hộ.Nơi luận nghị, quyết định đắc thắng, được đại tự tại cũng như đức Quán Tự Tại Bồ-tát. Nếu lấy một vạn cái hoa sen làm pháp hộ-ma, được làm địa chủ. Nếu dùng hoa sen 10 vạn để làm phép hộ-ma, được làm Chuyển Luân Vương vị.

Đức Thế tôn lại nói Phạ-nhật-ra Bát-nạp-ma-thuyết-lị Bồ-tát chơn ngôn:

Úm Phạ nhật ra Bát nạp mi Thuyết lị Phạ ra Bát nạp mi Hồng.

Nếu người trì tụng,lúc khởi tâm niệm vi diệu chơn ngôn của Bồ-tát này, liền hay câu triệu, hàng phục. Nếu tụng bảy biến hay ủng hộ tự thân. Nếu tụng 1000 biến hay trừ độc dược, đao kiếm, sư tử, rắn, lửa, giặc, cấm phược, các nạn hải quỷ…, và trừ những bịnh sai-kha-lị-cô, na-ca-nạp, nhai-lị-mi, đa-nạp-lị-lãng, nghĩ-da các bịnh… và toái trừ tất cả ác độc chúng sanh. Nếu tụng 10 vạn biến, tăng trưởng thọ mạng, già trở lại thành trẻ, thân tướng viên mãn, Chúng nhân ái kính. Nếu gặp cảnh hạn hán, thì phải lựa chỗ đất họa vẽ một ao rồng. Liền nơi trước ao, tâm niệm tên con rồng, đoạn lấy hạt cải trắng và muối làm phép hộ-ma, liền giáng một trận mưa lớn.

Đức Thế tôn lại nói Vĩ-thuyết-Bát-nạp-ma Bồ-tát chơn ngôn:

Úm Vĩ thấp phạ Bát nạp mi Hật lị.

Nếu người chuyên chú trì tụng vi diệu chơn ngôn Bồ-tát này, sẽ được cụ túc thân khẩu ý nghiệp, có công năng thành tựu các việc, nghĩa là cấm phục pháp, vọng lượng pháp, quỷ mị pháp, đinh quyết pháp, câu tha tâm pháp, huyển hóa pháp, cho đến khai mở hang A-tu-la và ẩn thân phi không tự tại, thảy đều thành tựu.

Lại nữa (đức Thế tôn) nói Vĩ-thuyết-Phạ-nhựt-ra Bồ-tát chơn ngôn:

Úm Vĩ thuyết phạ Phạ nhựt lị Hồng.

Nếu người trì tụng chuyên chú vi diệu chơn ngôn Bồ-tát này, không biếng nhác y pháp trì tụng, thường hay ủng hộ tự tha và được tất cả kính ái, cho đến thu hoạch đại biện tài, hay thắng tha biện. Vị Bồ-tát này hay ở nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cứu độ chúng sanh phát đại tinh tấn như Quán Tự Tại Bồ-tát. Nếu có người tin trọng Phật pháp thì Bồ-tát như người mẹ hiềnthường theo ủng hộ.

Phật dạy: “Nếu có người đối với Nhứt thiết Như Lai Nhiếp Tương ưng Đại giáo vương kinh, Thánh Quán Tự Tại Bồ-tát niệm tụng nghi quỹnày tâm không còn nghi hoặc, kiên cố tu hành, sẽ được thành tựu pháp rốt ráo. Lại nữa, nếu có người không vào mạn-đà-la, cho đến bị đủ phiền não, gồm cả bạc phước…, nếu người ấy tùy ý ưa muốn, đi đứng nằm ngồi, hoặc nói hoặc cười không hở các việc, thường phát Bồ-đề tâm, tưởng chơn thật lý, thường nên trì tụng, thì phép đã làm đều được thành tựu.

Lại nữa, người trì tụng phát Bồ-đề tâm, phục năm món thánh dược, nghĩa là Ma hạ ra mật dương yết lị bố rô ra mật đa tán nại na…, y Quán Tự Tại Bồ-tát nghi quỹ trì tụng và cúng dường hiền thánh, người ấy tuy không làm Phật tượng cũng có thể thu hoạch được tối thượng tương ưng hoặc Kim Cang Tát-đỏa Bồ-tát vị, mau chứng Bồ-đề.

Như vậy thành tựu phải có tướng gì? Pháp Bồ-đề phần, Ba-la-mật tổng trì, Thập địa môn… tự nhiên thành tựu. Nếu người có thể hay y nơi Nhứt thiết Phật Tương ưng pháp trì tụng, tức cùng tất cả Phật không khác.

Lại nữa, nếu người trì tụng tâm chưa vắng lặng, không thấu rõ pháp tương ưng, ta nay vì người kia nói phương pháp họa tượng. Nếu người trì tụng muốn họa dung nhan bức tượng, trước phải tìm một thợ vẽ rất khéo đẹp, thân tâm thanh khiết, dự tu trai giới. Dùng lụa thượng hảo, mềm mỏng, hai đầu thật bằng, dài hai thước. Đoạn dùng những thứ màu sắc tuyệt đẹp, nơi trên tấm lụa vẽ một vành trăng tròn. Trong vành trăng lại vẽ hoa sen tám cánh nhiều sắc, giữa trung tâm hoa sen vẽ ngài Quán Tự Tại Bồ-tát thân sắc đỏ, ba mặt sáu tay, đầu đội mão báu, trong mão có đức A-sơ Phật, mặt phía hữu sắc đen hiện tướng phẫn nộ, mặt tả sắc trắng, sáu tay y theo pháp nắm cầm hoa sen.

Nơi cánh hoa phương Đông vẽ Vĩ-lộ-kiết-nễ Bồ-tát thân sắc trắng, tay tả cầm hoa sen đỏ, tay hữu cầm chày kim cang.

Vị ở cánh sen phía Nam: vẽ Đa-la Bồ-tát thân sắc lục, tay tả cầm hoa sen màu lục, tay hữu cầm bảo trì.

Vị ở cánh sen phía Tây: vẽ Bộ-lị-ni Bồ-tát thân sắc màu vàng ròng, tay cầm hoa sen Ưu-bát-la, trong có Pháp luân.

Vị ở cánh sen phía Bắc: vẽ ngài Tần-mi Bồ-tát thân màu hồng bạch, tay cầm hoa sen màu vàng và cầm cây gươm bén.

Vị ở cánh sen phía Đông-Bắc: vẽ ngài Bát-nạp-ma-tỉ-nể Bồ-tát thân sắc vàng kim, tay cầm hoa sen màu xanh dương.

Vị ở cánh sen phía Đông-Nam: vẽ Phạ-nhựt-ra-bát-nạp-mi-thuyết-lị Bồ-tát thân sắc như hư không, tay cầm hoa sen trắng và xâu chuỗi ngọc pha lê.

Vị ở cánh sen phía Tây-Nam: vẽ Vĩ-thuyết-bát-nạp-ma Bồ-tát, thân ngài như ánh trăng thu, tay cầm hoa sen màu đen và cầm Kinh Pháp.

Vị ở cánh sen phía Tây-Bắc: vẽ ngài Vĩ-thuyết-Phạ-nhựt-ra Bồ-tát thân ngài có đủ các sắc, tay cầm hoa sen.

Lại ở bên ngoài cánh sen, bốn phía vẽ Tứ thân cận Bồ-tát Múa, Cười, Tràng hoa, Ca. Thứ lại nơi bốn cửa, tưởng Nịch ( ), Hồng ( ), Vãm ( ), Hô ( ), bốn chữ vi diệu biến thành bốn vị Bồ-tát móc câu, dây quyến sách, xích, chuông, bốn vị hộ nơi bốn cửa.

Lại nữa, nói về tượng pháp. Như trước đã nói, nên tuyển lựa vị họa sư rất tinh xảo. Lấy lụa trắng tốt như trên mà họa tượng Quán Tự Tại Bồ-tát thân sắc như ánh trăng thu, đầy đủ tướng tốt, đầu đội mão báu, trong mão có đức Vô Lượng Thọ Phật, thân có tám tay. Tay mặt thứ nhất cầm xâu chuỗi, tay thứ hai cầm cây gậy báu, tay thứ ba cầm chỉa ba, tay thứ tư bắt Thí nguyện ấn. Tay thứ nhất bên tả cầm hoa sen, tay thứ hai cầm bình Quân-trì, tay thứ ba cầm dây quyến sách, tay thứ tư cầm quyển Kinh Bát-nhã. Bồ-tát mặc áo da cọp, với dây nịt hình con rồng, hoặc đứng hoặc ngồi kiêt-già phu trên hoa sen. Phía hữu Bồ-tát, vẽ người trì tụng tay cầm bát Ứ-già và lư hương, hình tướng tác lễ cung kính.

Lại nữa nói họa tượng pháp. Như Bổ-đà-lạc-ca sơn tướng nghi, vẽ Quán Tự Tại Bồ-tát thân sắc trắng, đầy đủ tướng viên mãn, mặc y trắng trang nghiêm. Tay hữu cầm xâu chuỗi, tay tả chống má tác tướng suy nghĩ lợi ích tất cả chúng sanh, ngồi trên tòa sư tử liên hoa, chân tả thòng xuống để nơi hoa sen, chân hữu để trên tòa liên hoa.

Lại nói họa tượng pháp nữa. Như trước đã trình bày, trên lụa tốt vẽ Quán Tự Tại Bồ-tát thân màu hồng bạch có 10 tay. Tay thứ nhất bên hữu cầm tràng chuỗi, còn bốn tay kia làm tướng Thí vô úy cứu chúng sanh khổ nạn. Tay thứ nhất bên tả cầm hai nhánh sen đỏ, trên có Kinh Bát-nhã, còn bốn tay kia cũng làm tướng Thí vô úy cứu chúng sanh khổ nạn. Bồ-tát ngồi trên sư tử liên hoa tòa, thòng chân tả xuống, gác trên hoa sen. Nơi mặt phía hữu của Bồ-tát vẽ sư tử, voi, hỏa xà. Bên mặt tả vẽ tặc cấm phược hải quỷ. Chúng sanh gặp tám nạn như vậy, làm tướng Bồ-tát cứu độ.

Lại nói họa tượng pháp như trước nữa. Dùng lụa tốt vẽ Quán Tự Tại Bồ-tát trong nguyệt luân, hiện các sắc, có 13 đầu đều đội mão báu, trong có đức Vô Lượng Thọ Phật. Mặt chính viên mãn, mặt thứ 13 màu xanh lục hiện tướng mã đầu, có 100 tay, tay cầm các loại khí trượng Yết-ma. Hoặc họa 100 đầu 1000 tay, tay cũng lại cầm các thứ khí trượng Yết-ma.

Bên hữu các họa tượng đã nói, đều vẽ người trì tụng làm tướng hồ quỳ cung kính, tay cầm bát Ứ-già và lư hương.

Trong các dung nhan ảnh tượng như đã nói trên, người trì tụng tùy tâm họa lấy một tướng, mỗi mỗi đều cần phải phát tâm tối thượng thù thắng. Họa được dung nhan rồi, liền bày biện các món thù diệu, hương hoa, ẩm thực, các thứ cúng dường. Nơi trước tôn tượng nên thỉnh vị a-xà-lê y pháp làm lễ khánh tán xong rồi, người trì tụng nhiên hậu tự mình phải tinh khiết thanh tịnh, nơi trước tượng, an tọa định tâm, tụng Quán Tự Tại Bồ-tát Vi diệu căn bản chân ngôn. Nếu xa lìa được các nghi hoặc, chuyên chú không thôi nghỉ, tất cả việc làm quyết định thành tựu.

Lại nữa, vị a-xà-lê làm lễ khánh tán và truyền giao Căn bổn Vi diệu chân ngôn này rồi, người trì tụng kia làm đệ tử lễ bái cung kính, nên đem tất cả các món trân bảo, vàng bạc, tài vật cho đến quốc thành, và cả thân mạng đều có thể phụng thượng vị a-xà-lê để làm lễ đáp tạ. Vì sao thế? Vì Pháp như trên rất là khó được gặp gỡ, huống chi lại được truyền thọ. Vậy cho nên hết sức thành tâm cầu vị a-xà-lê, nguyện thí hoan hỉ.

Lại nữa Pháp này không được truyền cho những kẻ dung dị, vì kẻ ấy tâm không cung kính chí thành, sở chiêu ác báo.

PHẬT NÓI NHẤT THIẾT PHẬT NHIẾP TƯƠNG ƯNG ĐẠI GIÁO VƯƠNG KINH,
THÁNH QUÁN TỰ TẠI BỒ-TÁT NIỆM TỤNG NGHI QUỸ

Sa-môn Thích Viên Đức dịch ra Việt văn năm 1975, bản thô, chưa chỉnh sửa.
Nhập liệu: Chúc Huy Nguyễn Minh Hoàng


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn