Thập Đại Đệ Tử - Sự Tích Mười Vị Đệ Tử Lớn của Đức Phật

23/02/201111:03(Xem: 7294)
Thập Đại Đệ Tử - Sự Tích Mười Vị Đệ Tử Lớn của Đức Phật
Buddha_3
THẬP ĐẠI ĐỆ TỬ 十大弟子
Sự Tích Mười Vị Đệ Tử Lớn của Đức Phật
Tác Giả: HT. Thích Tinh Vân - Dịch Giả: Như Đức

01. Xá Lợi Phất(zh. 舍利弗, sa. śāriputra, bo. ཤཱ་རིའི་བུ་): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Nguyên Thủy (sa. hīnayāna)icn_pdf
02. Mục Kiền Liên(zh. 目犍連, sa. mahāmaudgalyāyana, bo. མོའུ་འགལ་གྱི་བུ་): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lợi-phất icn_pdf
03. Phú Lâu Na(zh. 富樓那, sa. pūrṇa, bo. གང་པོ་): Thuyết Pháp đệ nhất icn_pdf
04. Tu Bồ Đề(zh. 須菩提, sa. subhūti, bo. རབ་འབྱོར་): Giải Không (sa. śūnyatā) đệ nhất. Tu-bồ-đề thường xuất hiện trong kinh điển hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa. icn_pdf
05. Ca Chiên Diên(zh. 迦旃延, sa. katyāyana, bo. ཀ་ཏྱའི་བུ་): Biện luận đệ nhất
06. Ma-ha-ca-diếp(zh. 摩訶迦葉, sa. mahākāśyapa, bo. འོད་སྲུང་ཆེན་པོ་): Đầu-đà đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Độ icn_pdf
07. A Na Luật(阿那律, sa. aniruddha, bo. མ་འགགས་པ་): Thiên nhãn đệ nhất icn_pdf
08. Ưu Ba Ly(優波離, sa. upāli, bo. ཉེ་བར་འཁོར་): Giới luật đệ nhất icn_pdf
09. A Nan Đà(zh. 阿難陀, sa. ānanda, bo. ཀུན་དགའ་བོ་): Đa văn đệ nhất, người “nghe và nhớ nhiều nhất”, được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Độ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ma-ha-ca-diếp
10. La Hầu La(羅睺羅, sa. rāhula, bo. སྒྲ་གཅན་འཛིན་): Mật hạnh đệ nhất icn_pdf


LỜI DỊCH GIẢ

thapdaidetu-biaỞ mức độ tín ngưỡng dân gian, sức gia trì thuộc về tha lực mà không phải là tự lực. Đây chính là dùng tâm lực, nguyện lực và chú lực của người gia trì trực tiếp giải quyết vấn đề cho người khác. Điều này được dân chúng nói chung tin tưởng và mong cầu. Vì như vậy không cần phải tự mình tu tập, cũng không cần phải trả một giá đắt nào mà có thể giải quyết được nguy cơ to lớn. Đây là lý do vì sao tín ngưỡng quỉ thần trong dân gian được phổ biến như vậy. Song gia trì theo cách ấy mãi, chỉ có thể ngăn tai họa trong một lúc, mà không thể giải quyết vấn đề triệt để và vĩnh viễn. Đây cũng giống như nương tựa thế lực của nhà quyền thế, để tránh sự truy tìm của chủ nợ hay xã hội đen. Một mai thế lực đó không còn nữa, tai nạn sẽ xảy ra, mà còn hung hiểm hơn nhiều.

Phật Pháp không như vậy, nếu bị oan nghiệt túc trái quấy nhiễu, làm chướng ngại, thì người gia trì sẽ đem tâm từ bi, sức tu trì của mình ra để cảm hóa, khuyên dắt những oan gia trái chủ đó, khiến họ không còn tâm oán hận, chấp trước, báo thù nữa. Oan gia trái chủ nhân đó sẽ chuyển sinh vào đường lành, người được gia trì nhờ đó được tiêu tai giải nạn, kiết tường như nguyện. Song sau đó đương sự phải qui y Tam Bảo, tu học Phật Pháp, tạo phúc cho chúng

Ứng nhu cầu đại chúng, nên không có phủ định và phản đối lòng tin và tác dụng của việc gia trì.

Công năng gia trì đến từ chú lực, nguyện lực và tâm lực. Người trì chú công phu thâm hậu, bản thân chú ngữ sẽ sinh ra sức cảm ứng, có thể cảm thông quỉ thần, giúp đỡ và gia trì cho người khác. Người có nguyện lực mạnh, có thể dùng tâm phát nguyện cảm thông chư Phật và Bồ-tát, cho đến Hộ Phápm long thiên hộ trì, cứu giúp. Người có tâm lực mạnh, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Tâm Niệm của người được gia trì, làm mạnh tthêm ý chí, chuyển đổi quan niệm cho họ. Bảo rằng gặp hung hóa kiết, tiêu tai trị bệnh, đều do sức mạnh tâm linh làm chủ.

Sức mạnh gia trì là làm thay đổi tâm niệm của người được gia trì. Gọi thần lực gia trì chủ yếu giúp người được gia trì an tâm, an thân vượt qua khó khăn, tăng cường dũng khí và nghị lực của họ để đối diện với thực tế, mà không phải là tránh nợ, trốn lánh hiện thực. Đương nhiên nhờ sức gia trì có thể làm giảm đi áp lực và chướng ngại trước mắt. Sau đó mượn sức gia trì làm đà biến thành sức mạnh tự tu, hóa giải hết áp lực và chướng ngại.

Chánh, đâu là tín ngưỡng dân gian, những gì là Chánh Pháp, những gì là phi Pháp; và nhất là đính chánh những quan niệm lệch lạc, sai lầm về Phật giáo. Nhờ vậy, chúng ta sẽ tự tin, vững bước trên nẻo đường học Phật, mà không sợ sa lạc vào ngã rẽ tà kiến. Vì tính chất đặc thù của quyển sách, chúng ta có thể đọc nó từ đầu đến cuối, hay xem mục lục, chọn đọc trước những vấn đề mà quan tâm thắc mắc.

Nhận thấy giá trị và lợi ích của quyển sách này, dịch giả đã phát tâm dịch ra Việt văn để kết Pháp duyên cùng tất cả mọi người. Kính nguyện những ai có duyên đọc được, chánh kiến, chánh tín chưa sinh sẽ sinh; chánh kiến, chánh tín đã sinh càng kiên cố; Bồ đề tâm tăng trưởng, bất thoái cho đến ngày viên thành Phật đạo.

Nghiên Cứu Sở Phật Học Trung Hoa
ngày 19.09.1999
Dịch giả cẩn chí




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2025(Xem: 1833)
Dường như đều đặn gần 10 năm nay, từ khi học Đạo và nghe nhiều pháp thoại trong các bộ kinh Lăng Nghiêm và Diệu Pháp Liên Hoa và thường tụng niệm chú Đại Bi cũng như các câu chú đại linh mật thông dụng nhứt và nhắn gọn nhứt của Quán Thế Âm theo Mật Tông Tây Tạng là OM MANI PADME HÙM! (Án Ma Ni Bát Di Hồng!) của Phật Bà Tàrà, ứng Thân của Quán Thế Âm: (OM TÀRE TUTTÀRE TURE SVÀHÀ!) con thường nhủ rằng “trong tâm lý học sâu, con người dù trí tuệ đến đâu vẫn có khoảng trống của khổ đau và bất an. Quán Âm là biểu tượng của sự lắng nghe tuyệt đối, của năng lượng dịu lành giúp tâm người được an định.
27/09/2025(Xem: 1490)
Trong kinh A Na Di, một nhóm Tỳ kheo chưa thấy rõ con đường, lòng còn phân vân trong pháp hành của mình, dù được Thế tôn gợi ý, nhắc nhở nhưng vẫn còn ngơ ngác, lặng thinh, thiếu hẳn lập trường. Chỉ có một vị đại diện muốn được lắng nghe. Thế tôn liền nói vắn tắt như sau: “Này các Tỳ kheo, những hạng chỉ nói lời hư vọng, không hiển thị sự chân thật, thiếu sự phân biệt, không rõ được hành vi, sự lưu bố và tuần tự thuyết pháp; khi muốn đoạn trừ sự xấu xa trong tâm ý người khác thì chẳng làm được, lúc bị cật vấn thì trở nên đuối lý. Thế tôn gọi hạng này không xứng lập trong hàng ngũ giáo pháp của ta, đó là chúng phi pháp.” Nói xong, Thế tôn bèn lui vào am thất, nghỉ ngơi.
23/09/2025(Xem: 1618)
Có bốn hạnh tướng đẹp dành cho các sơ học Bồ tát. Đó là hạnh “Tự Chánh”, hạnh “Chánh Tha”, hạnh “Tùy Vấn” và hạch hỏi các “Sự Duyên” (Phẩm tứ tướng Niết Bàn) …… Có Tỳ kheo bảo, thà ôm đóng lửa mà chết, chứ không dám đứng trước Như Lai mà nói 12 bộ kinh. Chết như vậy thì tâm thể vẹn nguyên, tuyệt không để ma tâm quấy nhiễu, chỉ sinh oán kết, cột thêm dây.
21/09/2025(Xem: 1680)
Khi Phật giáo truyền đến phương Bắc, Trung Hoa là điểm quan trọng và chủ yếu của nhánh này. Sự phát triển của Phật giáo làm ảnh hưởng đến sự độc tôn của Nho – Lão, vì thế xảy ra những mâu thuẫn và xung đột không thể tránh được. Các pháp sư phải linh hoạt quyền biến phương tiện để hoằng hóa. Măc khác tín ngưỡng địa phương, văn hóa, nghệ thuật bản địa lại tác động đến Phật giáo. Các pháp sư phải linh hoạt chấp nhận sự giao thoa và cũng lợi dụng các yếu tố đó để dẫn dụ. Dần dà Phật giáo Bắc truyền mang màu sắc Trung Hoa rất đặc thù và khác biệt với dòng Nam truyền. Hai hình tượng rất đặc biệt trong Phật giáo Bắc truyền ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát và Phật Di Lặc. Từ đây truyền rộng sang Việt Nam, Nhật Bản, Đại Hàn…Mấy ngàn năm nay, hình tượng hai ngài phổ biến sâu rộng trong quần chúng, in sâu vào tâm thức mọi người…
22/10/2024(Xem: 3554)
Xuất xứ. Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm là tuyển tập 500 Danh Hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Mỗi danh hiệu tán dương một bản nguyện, hạnh tu, công đức, pháp môn, ứng thân, phương tiện, lời dạy, cảm ứng, xưng tán, hoặc oai lực của Bồ Tát, viết thành một câu khá dài. Hơn một nửa danh hiệu trích dẫn từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, còn lại dẫn từ nhiều Kinh khác. Do dẫn nhiều bản Kinh theo thứ tự trước sau nên có những câu tương tự, trong đó 2 câu “Thiên nhãn Chiếu kiến” và “Thiên thủ Hộ trì” lập lại 2 lần (câu 76-77).
20/10/2024(Xem: 3173)
Phải chăng trong thời đại công nghệ và tri thức phát triển? Niềm tin mạnh mẽ vào Bồ tát Quán Thế Âm Vẫn đặc biệt giữ được một giá trị tinh thần Nhưng đòi hỏi thêm hơn một cái nhìn thực tế và sâu sắc! Hãy luôn kiên nhẫn và lòng từ bi, dù cuộc sống có phức tạp hay thách thức !
02/09/2024(Xem: 8975)
Mời người về đây tu viện Quảng Đức Xứ Úc hiền hòa Thầy đã dựng xây Mái ấm tâm linh, chở che người con xa xứ Bao bàn tay Phật tử cùng chung xây dựng Quảng Đức, trái tim người bất diệt!
02/09/2024(Xem: 2884)
Có một câu danh ngôn nổi tiếng của John Milton trong tác phẩm *Paradise Lost* (Thiên Đường Đã Mất) nói về khái niệm thiên đường và địa ngục trong tâm trí con người: “The mind is its own place, and in itself can make a heaven of hell, a hell of heaven."* Tạm dịch:”Tâm trí là nơi của chính nó, và tự nó có thể biến thiên đường thành địa ngục, địa ngục thành thiên đường."* Câu này nhấn mạnh rằng chính tâm trí con người quyết định việc chúng ta sống trong hạnh phúc hay khổ đau, thiên đường hay địa ngục.
31/07/2024(Xem: 8263)
Quán Âm Bồ Tát Nhĩ căn viên thông Đại từ đại bi Diệu âm tự tánh
24/07/2024(Xem: 2036)
Nam Mô Bồ Tát Quan Âm Chứng tri tứ chúng đồng tâm kính thành An vị Bồ Tát duyên lành Hương hoa bánh trái tịnh thanh cúng dường Kính mong Bồ tát tưởng thương Độ cho nhân loại bớt vương khổ nàn Lời kinh khấn nguyện vang vang Mười hai đại nguyện Quan Âm độ đời