Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Xã Hội Chủ Nghĩa Điều Hành Bởi Đạo Pháp

26/06/201321:06(Xem: 1082)
Xã Hội Chủ Nghĩa Điều Hành Bởi Đạo Pháp

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐIỀU HÀNH BỞI ĐẠO PHÁP
Theo quan điểm của nhà sư Buddhadasa
Eric Rommeluère
Hoang Phong chuyển ngữ

Lời giới thiệu của người dịch:

Eric_Rommeluere_0Éric Rommeluère là một nhà sư ngườiPháp sinh năm 1960, khởi sự tập thiền từ năm 1978 dưới sự hướng dẫn của thiềnsư Teisen Deshimaru. Một năm sau ông xin quy y và hai năm sau đó thì ông chínhthức xuất gia và thụ phong tỳ-kheo. Éric Rommeluère ngày nay đã trở thành một vịthiền sư rất năng động. Ông tra cứu vàviết lách khá nhiều và là một tác giả rất cẩn thận. Ông chủ trương "mộtngười Phật Giáo trong thế giới ngày nay cũng nên - hoặc cũng có thể cần phải -dấn thân vào sinh hoạt chính trị, kinh tế cũng như các hoạt động dân sự nhằm gópphần mang lại một xã hội lý tưởng, xây dựng trên sự công bằng, hợp lý và nhân đạo,xóa bỏ các cơ chế hiện tại để thiết lập một cấu trúc xã hội mới mẻ hơn". Cáchnay không lâu ông cho xuất bản một quyển sách mang tựa đề là Chư Phật sinh ra trong lửa bỏng(Les Bouddha naissent dans le feu, Sueil,2007), quyển sách này được nhiều người biết đến và đã phản ảnh thật rõ nét hoàibão và tư tưởng của ông.

Quyển sách mới nhất của ÉricRommeluère vừa được xuất bản mang tựa PhậtGiáo dấn thân(LeBouddhisme engagé, Sueil, tháng 2, năm2013). Trong quyển sách này ông cũng có nhắc đến thiền sư Nhất Hạnh và xem ông nhưmột nhà sư dấn thân. Quyển sách gồm 15 chương mà chương nào cũng đáng để chúngta suy ngẫm, đặc biệt là chương IX nêu lên các quan điểm của nhà sư Thái LanBuddhadasa (1906-1993) và của nhà sư Trung Quốc Thái Hư (1889-1947) về hai môhình lý tưởng của một xã hội Phật Giáo đáng để chúng ta lưu ý. Là một vị thiềnsư thuộc học phái Tào Động, thấm nhuần văn hóa Tây Phương, Éric Rommeluère đã phân tích tư tưởng và hoài bão của hai nhàsư Á Châu thuộc hai tông phái khác nhau là Theravada và Tịnh Độ một cách rấttinh tế, hứa hẹn một món ăn tinh thần với nhiều gia vị "phức tạp". Chúngta hãy … "thưởng thức" hay nói đúng hơn và nghiêm chỉnh hơn là hãy đọcđể "suy ngẫm" về trọng trách của những người tu hành dù thuộc vào họcphái nào hay tông phái nào trong thế giới ngày nay.

Toàn bộ chương IX trong quyển sách củaÉric Rommeluère sẽ được chuyển ngữ dưới đây. Người dịch cũng xin mạn phép ghépthêm một vài ghi chú nhỏ trong bản dịch với hy vọng giúp người đọc dễ theo dõibản gốc hơn, các ghi chú này sẽ được trình bày bằng chữ nghiêng và đặt tronghai dấu ngoặc. Ngoài ra một vài ghi chú khác mang tính cách tổng quát hơn và mộtphần phụ lục cũng sẽ được ghép thêm sau phần chuyển ngữ.

phatgiaodanthan

Bìa quyển sách PhậtGiáo dấn thâncủa

Éric Rommeluère

Đạo Pháp XãHội Chủ Nghĩa
Theo quan điểm của nhà sư Buddhadasa
(Bouddhadasa et le Socialisme dharmique)
(chương IX, tr. 85-96)

Buddhadasa-content

H.1: Nhà sư Buddhadasa (1906-1993)

Eric_Rommeluere-content

H.2: Thiền sư Eric Rommeluère (1960-)

Thai_Hu

H.3: Nhà sư Thái Hư (1889-1947)

Vớinhững tư tưởng đầy sáng tạo, một ngôn từ ngay thật, một thái độ thách đố, vàthường xuyên trích dẫn các học giả Tây Phương cũng như nói đến các tín ngưỡngkhác, và nhất là với con số trước tác đồ sộ (gần hai ngàn tác phẩm: vừa làsách, các bài bình luận cũng như các bài thuyết giảng đã được xuất bản dưới tênông)nhà sư Buddhadasa Bhikkhu (1906-1993) đã để lại một dấu ấn thật sâu đậm đốivới Phật Giáo Thái Lan trong thế kỷ XX. Tư tưởng của ông xoay quanh chủ đíchbình giải lại Phật Giáo Theravada với những đường nét hiện đại nhằm mang lại mộtPhật Giáo tân tiến vào tầm với của tất cả mọi người. Gần như suốt đời Buddhadasasống biệt lập trong một khu vườn mang tên là Suan Mokkh ("Khu vườn Giải Thoát")tách biệt với các tổ chức tự viện mang tính cách truyền thống của xứ sở ông. Thếnhưng khu vườn qua thời gian đã trở thành một nơi hành hương thiêng liêng trênđất Thái. Mặc dù đã từng quan tâmđến các vấn đề chính trị từ khi còn trẻ thế nhưng trong khi thuyết giảng hoặcviết lách thì có thể nói rằng ông không bao giờ đề cập đến các vấn đề này. Trongbối cảnh của một thời kỳ hết sức ngột ngạt vào những năm 1960 (giữa thời kỳ chiếntranh Việt Nam đang leo thang và cộng sản Thái Lan khuấy động), đưađến sự thành lập chính quyền dân chính vào năm 1973, người ta bỗng thấy các bàithuyết giảng của Buddhadasa chuyển hướng một cách đột ngột. Suốt một thập niênròng rã, với những lời nói được mọi người kính nể và một uy tín lớn lao cả nướcđều biết đến, Buddhadasa liên tục thuyết giảng và cho đăng các bài viết nhằm cổvũ một hình thức chính quyền mới xây dựng trên giáo lý Phật Giáo mà ông gọi là" Đạo Pháp xã hội chủ nghĩa" (Socialisme dharmique / Dhammicsocialism / Dhammica sanghaniyama), (Quyển sách này của Buddhadasa đã gây được sựchú ý của nhiều người trong nước cũng như trên thế giới; ấn bản tiếng Anh:Dhammic socialism, Bangkok 1986, bản dịch tiếng Pháp: Bouddhisme et Socialismes,Paris, 2001)

Xã hội chủ nghĩa là một chữ rất dễgây ra hiểu lầm, do đó Buddhadasa đã hết sức cẩn thận rào đón nhằm ngăn chận mọisự diễn đạt lệch lạc có thể xảy ra. "Đạo Pháp xã hội chủ nghĩa" (có nghĩa là một thểchế xã hội chủ nghĩa xây dựng trên Đạo Pháp hay thiết lập dựa vào Đạo Pháp)nhất thiết không phải là một hình thức diễn đạt mới về chủ nghĩa Mác-xít hay CộngSản bằng cách dựa vào giáo lý Phật Giáo. Thật vậy nhà sư Buddhadasa luôn chỉtrích gay gắt các chủ thuyết chính trị này. Theo ông thuật ngữ trên đây (tức là "ĐạoPháp xã hội chủ nghĩa")chỉ nhằm đề nghị một đường hướng tổ chức(dimensionorganique / organic system)gồm các hệ thống sinh hoạt (systèmes vivants /living systems)khác nhau và trong tổ chức đó mỗi cá thể sống chung vớicác cá thể khác nhằm tạo ra một tập thể xã hội vừa đoàn kết và vừa năng động. ĐạoPháp xã hội chủ nghĩa nêu lên một mô hình chính trị phù hợp với một hình thức tổchức sinh hoạt chung (organicité / organicity)trong cuộc sống mà quyềnlợi xã hội phải dành ưu tiên cho từng mỗi cá thể và cho tất cả các tập đoàn (corporations)tư nhân. Đạo Pháp xã hội chủ nghĩa chủ trương ngược lại với các tổ chức xã hội ngàynay mang nặng tính cách cá nhân chủ nghĩa và tự do chủ nghĩa. Trong các tổ chứcxã hội này quyền lợi cá nhân được xem trọng hơn là quyền lợi tập thể.

Xã hộichủ nghĩa (sanghanayama) chống lại lý tưởng tự do cá nhân (liberté individuelle/ individual freedom) do chủ nghĩa tự do (liberalism) chủ xướng và sẽ là mộthình thức dân chủ được kiểm soát cẩn thận hơn, và nhất là thích nghi hơn để loạibỏ mọi dục vọng của con người. Xã hội chủ nghĩa hướng nhiều hơn vào các lợi íchchung bằng cách tìm hiểu và giải quyết các khó khăn xã hội. Trái lại chủ nghĩatự do chỉ có thể tạo ra một nền tảng mang lại một sự lợi ích nào đó (có nghĩa là không được trọn vẹn) trên phương diện xãhội, lý do là vì xã hội ấy chỉ khuyến khích (cổ vũ, chủxướng) sự ích kỷ và việc thu nhập cá nhân hơn là các quyền lợi xã hội.

(trích trongquyểnBouddhisme et Socialismes, PhậtGiáo và các thể chế xã hội chủ nghĩa, Paris, Les Deux Océans, 2001, tr.75-76), đây là bản dịch tiếng Pháp của quyển Dhammic Socialismcủa Buddhadasa Bikkhu, Thai Inter-ReligiousCommission for Development, Bangkok, 1986),

Chế độ đó mang chủ đích kiến tạo mộtxã hội chủ nghĩa đích thật, tức có nghĩa là một nếp sống tự nhiên của con ngườitrước khi các luật lệ xã hội được đặt ra để giải quyết các sự xung đột, thếnhưng trên thực tế thì một chế độ như thế sẽ chẳng bao giờ có thể thực hiện được.Buddhadasa nêu lên chủ thuyết cho rằng sự sống trong thể dạng nguyên sinh của nómang tính cách đạo đức tự nhiên, tức không xung đột và không bạo lực. Trong thểdạng nguyên sinh đó con người, thú vật và thiên nhiên cùng tương tác với nhau trongmột cuộc sống hài hòa; giới sinh vật, thực vật và đất đá tương liên với nhau mộtcách thật hoàn hảo (phải chăng Buddhadasa muốn nói lên thể dạng Phật Tính nơi tấtcả chúng sinh và mọi hiện tượng thiên nhiên?). Điểm nổi bật của thểdạng tự nhiên đó là sự vắng bóng của mọi hình thức ích kỷ và mọi cảm tính về sựchiếm hữu. Từ khi con người khởi sự vơ vét và tích trữ thì khi đó họ mới bắt đầubị tách rời dần dần ra khỏi thể dạng tự nhiên trước đây của họ. Tình trạng gomgóp của cải sẽ đưa đến sự tranh dành và bạo lực, và cuối cùng là chiến tranh vàtình trạng con người bóc lột con người.

Bối cảnh ấy không có gì mới lạ cả,không phải là một sự kiện tiến hóa (evolution) tự nhiên mà đúng hơn là một sự thoáilùi (involution/ thoái hóa, suy sụp)của nhân loại. Thật ra Buddhadasa chỉ nhắm vàohoài bão làm sống lại những huyền thoại cổ xưa về một thời đại vàng son và cũngđể nêu lên sự thoái hóa của nhân loại đang diễn ra nhan nhãn trong các nướctheo Phật Giáo Theravada ngày nay. Những huyền thoại đó đã được vay mượn từ Kinh CộiNguồn(Agganna sutta, kinh sách tiếng Việt gọi kinh này là Kinh Khởi Thế Nhân Bổn,tức là Kinh thứ 27 trong Trường Bộ Kinh - Digha Nikaya)thuộc kinhsách chính thống của tông phái Phật Giáo Theravada. Đây là quyển kinh mô tả vềsự hình thành của thế giới. Kinh này đặc biệt nêu lên nguồn gốc của bốn giai cấpcổ truyền trong xã hội Ấn gồm: 1- các chiến sĩ (vua quan, những người lãnh đạo), 2-người Bà-la-môn, 3- người lao động (nông dân và các người buôn bán), hàng tôi tớvà các giáo sĩ khổ hạnh (xin lưu ý là các giáo sĩ của đạo Bà-la-môn thuộc vào giai cấpthứ hai). Vào thời kỳ nguyên thủy con người rất tinh khiết và vôtính (có thể hiểunhư không bị thúc dục, chi phối và khích động bởi dục tính?). Các thóihư tật xấu chỉ phát sinh ra sau này, và cũng chỉ từ khi đó thì một vị vua mới đượcđưa lên để dàn xếp các cuộc xung đột dựa vào luật pháp do chính ông ta đặt ra.Vị vua được lựa chọn căn cứ vào các lời hứa hẹn của vị ấy và mọi người đều phảinạp cho ông ta một phần gạo. Uy quyền của vị vua được thể hiện bằng những lờiphán quyết của chính vị ấy (có nghĩa là các lời phán quyết của vị vua mang tính cáchtuyệt đối). Nếu có ai ăn cắp và nói dối thì vị vua sẽ "quởtrách những ai đáng phải bị quở trách, buộc tội những ai đáng phải bị buộc tội,đuổi đi những ai đáng phải bị đuổi đi" (có nghĩa là bị đuổi ra khỏi bộ tộc hay bị đi đày. Ngày xưa- kể cả trong lịch sử Việt Nam - không có nhà tù, người phạm tội nặng sẽ bị đàyđi ở những nơi xa xôi).Vị vua huyền thoại như vừa được mô tả cũnglà vị vua thứ nhất trong bộ tộc các chiến sĩ thuộc dòng họ Thích-ca (Shâkya) vàcũng là tổ tiên xa xưa của chính Đức Phật. Vị này mang tên là Mahâsammata,nghĩa từ chương là "Vị Tôn Kính Vĩ Đại" (Mahâ có nghĩa là lớn, động từsamma có nghĩa là tôn kính). Vị vua trong KinhCội Nguồnđúng ra phải mang tên là "Vị Vĩ Đại Được Ủy Thác" (được ủy quyền hayđược giao phó trọng trách), bởi vì tước vị này được gợi ý từ một câuđã trở thành khuôn mẫu (trong nền văn hóa Ấn Độ): "được dân chúng ủy thác"(mahâjanena sammato). Sau đó Kinh Cội Nguồnlại tiếp tục giải thích về nguồn gốc của ba giai cấp còn lại bằng cách thuậtchuyện với các câu mang cấu trúc và các thuật ngữ giống nhau (lập đi lập lại).Nội dung của Kinh khá bí ẩn và đôi khi còn cho thấy một vài nét hóm hỉnh vì thếnên rất khó diễn giải. Thiết nghĩ có thể xem Kinh này tương tự như một câu chuyệnngụ ngôn nhằm ca ngợi các giới luật mà người tỳ kheo phải giữ. Đã là một câuchuyện ngụ ngôn thì tất nó sẽ phải mang tính cách luân lý. Cũng không cần phảidông dài: đấy là những lời răn dạy không được phép gom góp tiền bạc (trong nguyên bảnlà épargne / saving, thrift / tiết kiệm, dè xẻn, dành dụm, gom góp, cất giấu tiềnbạc...) khiến cho nhân loại phải lâm vào cảnh khốn cùng, và đấy cũnglà cách giải thích tại sao các nhà sư khất thực không được phép cất giữ cả thứcăn. Chữ "chấp nhận" (samata / agréé / approve, accept / có nghĩa là phải tuân thủ,nói cách khác là không được phản kháng)là một thuật ngữ thường thấynêu lên trong các giới luật dành cho những người tu hành đảm đang một số trọngtrách nào đó trong cuộc sống tập thể nơi tu viện. Trách nhiệm được giao phó chovị vua là "quở trách, buộc tội và trục xuất", và đấy cũng là các cáchtrừng phạt được các tập thể tăng đoàn mang ra thực thi, chẳng hạn như nếu có vịtỳ kheo nào phạm vào các lỗi nặng thì sẽ bị khai trừ (khi có một tỳ kheo phạm vào một giới luật thìtùy theo tính cách nặng hay nhẹ của giới luật ấy sẽ bị quở phạt, tạm thời khaitrừ hoặc vĩnh viễn đuổi khỏi tăng đoàn).

KinhTiếng Rống Của Sư Tử(Cakhavatti-sihanâda-sutta/ Thắng Man Kinhcòn gọi là Thắng Man Sư Tử Hống, Majjhima Nikâya, 12) và Kinh Cội Nguồnkhông nhất thiết bổ khuyếtcho nhau, thế nhưng cả hai lại liên kết khắng khít với nhau trong trí tưởng tượngcủa các dân tộc trong vùng Đông Nam Á. Duy nhất chỉ có một điểm giống nhau là cảhai bài kinh này đều cho rằng sự tích lũy tiền bạc (épargne / saving / cất giữ, dành dụm tiền bạc)là yếu tố tiên khởi mang lại mọi sự xáo trộn. Bộ luật của Manu(Recueil des Lois de Manu/ Manuyedhammathat, một bộ luật nổi tiếng của Miến Điện đã được dịch ra nhiều ngôn ngữTây Phương và cũng đã được nhiều luật gia Tây Phương nghiên cứu) là mộtbộ luật quan trọng của Miến Điện được soạn thảo vào thế kỷ XVIII, bộ luật này mởđầu bằng một câu chuyện phác họa lại huyền thoại về thời kỳ vàng son trên đây trướckhi luật pháp được thành hình. Thời kỳ lý tưởng đó đã biến mất khi con người bắtđầu gom góp của cải vật chất. Quyền tư hữu tạo ra sự thèm khát và khốn cùng. Tómlại là luật pháp cũng chẳng có mục đích nào khác hơn là nhằm để cứu vãn sự suysụp ấy của nhân loại.

Nhà sư Buddhadasa đã khai thác cáchuyền thoại lâu đời trên đây, và theo ông thì Phật Giáo là một tôn giáo mang nhiềutính cách xã hội chủ nghĩa hơn hết so với bất cứ một tôn giáo nào khác, bởi vìPhật Giáo phản ảnh bản chất tự nhiên thật lý tưởng mà con người đã làm sai hỏngđi. Chính vì thế mà Dharma(tiếng Pa-li làDhamma / Đạo Pháp) có thể xem như một ngành sinh thái học (écology) củatâm thức, giúp tâm thức loại bỏ mọi tham lam, hận thù và vô minh hầu giúp nó quaytrở về với thể dạng tư nhiên và nguyên sinh của chính nó. Nếp sống đơn sơ và đạmbạc của các tập đoàn tỳ kheo (tăng đoàn)là mẫu mực tuyệt vời nhất biểu trưngcho lối sống tập thể của xã hội chủ nghĩa (những người làm chính trị - dù ở một quốc gia nào hay dướimột chế độ nào - nên nhìn vào những người tu hành đi chân đất ôm bình bát khấtthực hằng ngày và chia cho nhau ăn, và sau khi đã ý thức được ý nghĩa của nếp sốngđó thì hãy thử nhìn lại cách ăn ở của mình, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc và số chứngkhoán trong ngân hàng, cũng như quần áo, giày dép, nữ trang, người hầu của vợcon mình thì sẽ hiểu ngay tại sao một quốc gia cần phải có công an, quân đội,luật pháp và nhà tù), bởi vì giới luật của người tu hành không chophép họ dành dụm dù chỉ là một chút của cải (ngoại trừ vài manh áo cà-sa thay đổivà một ít vật dụng tùy thân). Kể cả thức ăn họ cũng không được phép cất giữ, mỗingày họ chỉ được phép khất thực đủ cho một bữa ăn và không được giữ lại mộtchút thực phẩm nào sang ngày hôm sau.

Huyền thoại cũng có thể là mộtphương tiện giúp giải đoán ý nghĩa tàng ẩn trong kinh sách. Những rối loạn xã hộivà chính trị ở Thái Lan có phải đã phản ảnh phần nào những xáo trộn vũ trụ đượcmô tả trong Kinh Tiếng Rống Của Sư Tử haychăng? Theo Buddhadasa thì câu giải đáp tất nhiên là phải thuộc vào lãnh vực đạođức và tín ngưỡng. Theo ông nếu căn cứ vào mô hình xã hội theo đó một tổng thể đứngra quản lý các thành phần thì sự hợp tác giữa các cá thể với nhau là một yếu tốthật cần thiết, tương tự như mỗi cơ quan trong cơ thể con người đều phải đảmtrách một chức năng rõ rệt nhằm mang lại một sự vận hành hài hòa cho thân xácvà tâm thức. Ích kỷ và sự chiếm giữ của cải làm sở hữu riêng (nói theo thuật ngữPhật Giáo thì đấy là "cái tôi" và cái "của tôi") là nhữngchướng ngại duy nhất ngăn chận mọi sự hợp tác hài hòa. Thật hết sức rõ ràng là chủnghĩa tư bản phát triển bằng cách gom góp tiền bạc, chiếm hữu tài nguyên sẵn có,tư hữu hoá các phương tiện sản xuất, và chính đấy là những gì đi ngược lại vớiĐạo Pháp (anti-dharmic). Dù cho Buddhadasa chấp nhận rằng ngày nay không còn cáchnào có thể quay ngược trở về với bản chất tự nhiên như trước đây nữa, thì ít raông ta cũng tin rằng tất cả mọi người đều có một thiện chí nào đó giúp họ nhấtquyết thay đổi các thể thức sản xuất, quy định lại mức tiêu dùng đúng theo nhucầu cũng như việc phân phối sự thặng dư. Một hệ thống kinh tế như thế nhất địnhsẽ không thể nào thực hiện được với một nền kinh tế thị trường chỉ biết đặt sựcạnh tranh lên hàng đầu.

Vậy trên thực tế phải làm thế nào đểcó thể xây dựng một nền Đạo Pháp xã hội chủ nghĩa? Buddhadasa không chấp nhận thểchế dân chủ theo cách mà người ta thường hiểu và cho rằng thể chế dân chủ tự dođó (démocratielibérale / liberal democracy)và Đạo Pháp xã hội chủ nghĩa (socialismedharmique / dhammic socialism)là hai thể chế hoàn toàn đối nghịchnhau. Theo ông thì thể chế dân chủ tự do mang nhiều sơ hở:

Nềndân chủ tự do (démocratie libérale / liberaldemocraty) chủ trương một sự tự do hoàn toàn, thế nhưng lại không xác địnhmột cách rõ rệt nội dung của sự tự do ấy là gì, những thứ ô nhiễm cá nhân (ô nhiễm là một thuật ngữ khá đặc thù của Phật Giáo thườngđược sử dụng trong kinh sách để nói lên những xúc cảm bấn loạn và sai lầm củacon người, trong trường hợp này có thể hiểu như sự tham lam và các tham vọng cánhân) sẽ dựa vào đấy để tha hồ tung hoành. Khi các thứ ô nhiễm ấy (tức là sự tham lam và những tham vọng cá nhân) càngtrở nên trầm trọng thì chúng cũng sẽ càng tác động đến mỗi cá thể khiến họ sẽ tìmđủ mọi cách để đòi hỏi các quyền tự do của mình theo như ý mình muốn. Mặc dù lýtưởng tự do thật hết sức tuyệt vời trên phương diện triết học, thế nhưng khôngthể đem ra áp dụng được. Triết học không hàm chứa một sức mạnh nào có thể giúp chốnglại tác động của những thứ ô nhiễm của con người. Loại dân chủ đó không đượclành mạnh bởi vì con người một khi đã bị bóp méo bởi mọi thứ ô nhiễm thì họ cứ phómặc cho chúng tha hồ tạo dựng ra mọi thứ lý tưởng cho mình.

(Buddhadasa, Socialism according to Buddhism,Bangkok. Phra Nakhon Press, 1975, tr.57-58)

Tuy gọilà Đạo Pháp xã hội chủ nghĩa thế nhưng thật ra đấy không phải là một thể chế dongười dân (tiếng Hy Lạp là demos) nắm giữ quyền bính qua trung gian của các cơquan chính phủ. Thể chế ấy không hề là một một nền dân chủ (démocratie / democracy / dân chủ, gốc từ tiếngHy Lạp demokratia, demos: là dân chúng, kratos: là quyền lực)theo ýnghĩa thông thường mà phải hiểu là một thể chế do "Đạo Pháp làm chủ" (dharmacratie / dhammacracy,dharmacracy / một thể chế xã hội do Đạo Pháp làm chủ, nói cách khác là một thểchế xây đựng trên Đạo Pháp, quản lý theo các tiêu chuẩn của Đạo Pháp),thuật ngữ "Đạo Pháp làm chủ" - "dhammacracy" - là do chínhBuddhadasa đặt ra. Đối với thể chế " Đạo Pháp làm chủ" quốc gia và tôngiáo sẽ liên kết với nhau để trở thành một sức mạnh chung. Một xã hội như thếchỉ có thể thiết lập được dựa vào uy tín của một vị lãnh tụ quốc gia đạo đức, hộiđủ khả năng mang lại hòa bình và trật tự cho xứ sở, và có thể ví vị ấy như là mộtvị vua công lý (dharmaraja/ dharma có nghĩa là Đạo Pháp, raja có nghĩa là vua)hay còn gọi là vịvua khởi động bánh xe(cakravartin / cakra: bánh xe, vartin: làm chuyển động.Theo nền văn hóa xưa của Ấn Độ thì chữ cakravartin có nghĩa là một vị vua lý tưởngcai trị dựa vào đạo đức và lòng nhân từ). Vị vua ấy hành xử như mộtngười cha đối với con cái và chính mình thì phải tuân thủ mười giới luật do vuaA-dục (Asoka) đưa ra (chi tiết của mười giới luật này sẽ được trình bày trong phầnphụ lục). Mỗi khi thuyết giảng Buddhadasa thường hay nhắc đến vị vuagương mẫu này: "Vua A-dục là một Phậttử đã bảo toàn được lý tưởng của một xã hội chủ nghĩa độc tài Phật Giáo"(id, tr.88).Vào những năm 1973-1976, trong khi nhiều biến cố bất ổn xảy ra ở Thái Lan chothấy một thể chế dân chủ khó có thể thực hiện được và cũng nhân đó nhóm quânphiệt đã nhảy ra nắm giữ quyền bính, thì Buddhadasa lại càng tỏ ra quả quyếthơn nữa trong việc bảo vệ quan điểm của mình. Ông kêu gọi thành lập một thể chếchuyên quyền sáng suốt (despotisme éclairé / enlightened despotism)đểtái lập lại sự an bình xã hội, và ông đã gọi thể chế này là một thể chế"dân chủ chuyên chế" (démocratie dictatoriale / dictatorial democracy / tiếngThái là parachatipatai phadetkân),bởi vì theo ông người dân Thái đãbị vướng vào mạng lưới của mọi thứ ô nhiễm như tham lam, hận thù và vô minh khiếnhọ mất hết các phản ứng tự động giúp mình khôi phục lại các phẩm tính đạo đức.Buddhadasa cũng cho biết rằng dù trên phương diện lý tưởng chính trị sẽ khôngthể nào có thể chấp nhận một chế độ độc tài, thế nhưng trên phương diện thực hànhthì chế đó cũng có thể là một giải pháp tạm thời giúp giải quyết nhanh chóng cáckhó khăn xã hội. Thật vậy, một lãnh tụ độc tài có thể hành động nhờ vào uy quyềncủa mình và không cần phải tham khảo dân chúng hay một cơ quan chính phủ nào.Tuy nhiên vị độc tài ấy bắt buộc phải tuân thủ mười phẩm tính đạo đức của một vịvua. Một thể chế xã hội xây dựng dựa vào Đạo Pháp cũng có thể được xem như là mộtchế độ quân chủ với điều kiện là người nắm giữ ngôi vua phải là người đạo đức:

Một vị quân chủ hội đủ mười phẩm tínhđạo đức của một vị vua (dasabidha raja dhamma) có thể đại diện - với tư cách làmột kẻ lãnh đạo chuyên quyền (despote / authoritarian) - cho một thể chế xã hộichủ nghĩa mang ý nghĩa tinh khiết nhất của nó. Các quyết định của vị này tấtnhiên sẽ có thể mang lại kết quả nhanh chóng. Hoàng đế A-dục là một thí dụ điểnhình cho vị quốc vương lý tưởng trên đây, tuy nhiên người ta cũng có thể kể ra thêmmột vị vua gương mẫu khác trong lịch sử nước Thái là Ramkhahaeng mà ngày naykhông mấy ai còn quan tâm đến. Cứ nhìn vào trường hợp của các vị vua ấy thì chúngta tất sẽ thấy ngay: họ nào có phải là những người độc tài đâu? Vậy họ có phảilà những người xã hội chủ nghĩa hay không? Nếu suy xét tường tận thì chúng tacũng sẽ thấy rằng các vị ấy chính là hiện thân cho một loại người xã hội chủnghĩa mà chẳng có ai dám ước mơ, thế nhưng loại người ấy đã từng cai trị tương tựnhư một người cha cư xử với con cái mình. Đấy là những phẩm tính mà chúng ta cầnphải khôi phục lại. Không nên tung hô gì cả (có nghĩalà không rập khuôn hô to các khẩu hiệu do những người lãnh đạo đưa ra) thếnhưng cũng đừng để mình bị lừa phỉnh bởi những hình thức tự do của các hình thứcdân chủ do cái tôi và cái của tôi (tức cái"ngã" của mỗi cá thể) tạo dựng ra và áp đặt cho mình.

(Dhammic Socialism, id. tr 88 trong bản dịchtiếng Anh, hoặc trang 89-92 trong bản dịch tiếng Pháp Bouddhisme et Socialismes, id)

Tấtnhiên là không nên do dự gì cả, nếu đã chọn giải pháp trên đây thì nhất định cầnphải giải mã cẩn thận. Như đã nói đến trên đây, ở hầu hết các nước Á Châu và đãtừ bao nhiêu thế kỷ, chính trị và tôn giáo luôn là một cặp bài trùng không thểtách rời nhau. Sự liên kết đó đã đưa đến giả thuyết cho rằng cần phải có hai thứdharma (ĐạoPháp), dharmacủa nhà vuavà Dharmacủa Đức Phật, cả hai cùng tươngkết thật hài hòa nhằm mang lại lợi ích cho từng mỗi cá thể cũng như cho toàn thểcác tầng lớp trong xã hội (cũng xin mạn phép nhắc lại định nghĩa của chữ dharma trongtiếng Phạn, chữ này có nhiều nghĩa: công lý, sự thật, Đạo Pháp, tất cả mọi hiệntượng...). Buddhadasa nêu lên quan điểm của mình dựa vào truyền thốngvăn hóa Thái Lan cho rằng tinh thần dân tộc, Phật Giáo và vương quyền lúc nàocũng là ba cột trụ thiết yếu nhất trong việc bảo tồn xứ sở. Tất nhiên là các chếđộ độc tài thay nhau nắm giữ quyền bình từ năm 1958 đến 1973 đã khai thác cảhai biểu tượng vương quyền và tín ngưỡng Phật Giáo nhằm khơi động tinh thần quốcgia trong dân chúng để củng cố uy quyền của mình. Riêng đối với Buddhadasa thìlại khác, ông chỉ quan tâm đến lý tưởng nêu lên trong các huyền thoại thuộc vàotín ngưỡng của mình qua những góc cạnh mộc mạc nhất. Ông tin rằng những lý tưởngđó thật hoàn hảo và chỉ cần đem ra áp dụng dể tái lập trật tự trong nước. Quanđiểm của ông không dựa vào một luận cứ mang tính cách xã hội hay chính trị nàomang lại từ các công trình nghiên cứu cặn kẽ về cấu trúc và tình trạng xã hộiThái Lan. Việc quy định các mẫu mực liên quan đến các lợi ích xã hội mà tất cảmọi người phải thực thi chỉ được giao phó cho một cá thể tức là vị vua công lý tựdo thẩm định. Vị này biểu trưng cho một mẫu người lý tưởng và giữ vị trí trung tâmcủa một xã hội không tưởng. Vị này chỉ cần dựa vào các phẩm tính đạo đức và uythế của mình để điều hành và khắc phục con người, tương tự như một thứ khuôn mẫuchỉ đạo (leimotiv/ mẫu mực chỉ đạo hay hướng dẫn). Buddhadasa cũng không hề đưa racác thể thức cũng như các cơ chế cần thiếttrong việc tổ chức bầu cử và chọn lựa, lại càng không nói gì đến các thể thứctruất phế vị vua công lý khi cần đến. Đấy cũng chẳng khác gì như một vị vua trongcác câu chuyện huyền thoại sử dụng quyền lực của dharma(Đạo Pháp)mà mình đang nắm giữ để biểu dương uy quyềncủa mình (khôngcần đến các cơ chế cần thiết trong việc điều hành quốc gia). Dầu saonếu trường hợp trên đây có thật sự xảy ra trên thực tế đi nữa thì vị vua cônglý cũng sẽ không thể nào có thể quán xuyến được tất cả mọi việc, bởi vì ông tacũng sẽ không sao tránh khỏi bị chi phối bởi các tổ chức bên ngoài (trước hết làhệ thống kinh tế), nếu không thì ông ta tất sẽ phải đóng cửa biên giới lại để màthực thi lý tưởng chuyên chế của mình (thiết nghĩ Éric Rommeluère đã chỉ trích khá khắt khe quanđiểm của Buddhadasa xuyên qua cách nhìn và quan niệm của người Tây Phương vềcác tổ chức xã hội đã quen thuộc với họ. Có thể ông ta đã quên rằng Buddhadasakhông phải là một triết gia cũng không phải là một nhà chính trị, những gì ông tanêu lên chỉ biểu trưng cho lòng nhân từ, bao dung và ngay thẳng của một ngườitu hành. Do đó không thể đòi hỏi nơi ông cách suy nghĩ và các phẩm tính duy lýcủa người Tây Phương mà chỉ nên hiểu ông như một nhà sư mang hoài bão mang lạisự hài hòa và an vui cho tất cả mọi người trong xã hội bằng những phẩm tính đạođức. Các cơ chế và cấu trúc xã hội có thể chỉ là những chi tiết đối vớiBuddhadasa, những gì quan trọng và thiết yếu hơn đưới con mắt của ông là lòng từbi và nhân từ, sự ngay thẳng và lương thiện, công lý và sự hài hoà trong xã hội,và đấy cũng là những gì mà Éric Rommeluère cho là không tưởng).

Nếucăn cứ vào một số kinh sách xưa thì quyền lực giúp cho vị vua công lý cai trị sẽgồm có năm thứ uy lực gọi là "năm sức mạnh của một vị quốc vương", đólà: quân đội, tài nguyên trong nước, quần thần, các vị tiền nhiệm (thừa kế và nhândanh các vị vua tiền nhiệm)và trí sáng suốt. Buddhadasa cho rằng việcsự dụng sức mạnh và sự trừng phạt để thực thi Đạo Pháp và nhằm gạt bỏ những ngườibất tuân là chính đáng. Trong một buổi thuyết giảng dành cho các quan tòa TháiLan vào năm 1974 ông cũng có nhắc đến trường hợp của vua A-dục như sau:

[A-dục] đã tinh khiết hóa tăng đoàn bằngcách loại trừ những người chủ trương tà thuyết và đòi hỏi mọi tầng lớp trong xãhội phải biết giữ gìn đạo đức. Tuy nhiên A-dục không phải vì thế mà là một bạochúa (cũng xin nhắc thêm là dưới triều đại của vua A-dụcnước Ấn rất phồn vinh. Vua A-dục phát triển Phật Giáo và ưu đãi các tổ chức PhậtGiáo cũng như các người tu hành. Con số nhà sư gia tăng nhanh chóng, trong sốnày tất nhiên có những người lợi dụng thời cơ. "Mỗi vị làm vua mộtcõi", tha hồ thu nạp đệ tử và diễn đạt Đạo Phát theo ý mình và trình độ hiểubiết của mình. Tất nhiên một số các "chi phái" và "họcphái" do các vị lợi dụng thời cơ trên đây chủ xướng mang đầy sai lầm và mêtín. Vì thế vua A-dục phải tổ chức lần Kết Tập Đạo Pháp thứ ba - thế kỷ thứ IIItrước Tây lịch - nhằm khai trừ các nhàsư mê tín, thiếu trình độ và loại bỏ những thêm thắt lệch lạc trong giáo lý. LuậtTạng và Kinh Tạng được chỉnh đốn và đã trở nên hoàn hảo hơn từ đó và cũng đã đượctruyền bá khắp nơi - đặc biệt nhất là đã được đưa vào Tích Lan). Ông làmột người thật từ tốn và chỉ biết hành động vì lợi ích của xã hội. Ông cho đàogiếng khắp nơi, xây dựng phòng ốc cho dân chúng hội họp (cách cai trị của vua A-dục rất dân chủ), ra lệnh trồng đủ các loạicây ăn trái và tất cả mọi người đều được hưởng. Ông ta chỉ tỏ ra "độcđoán" khi nào có người không thực thi các công tác lợi ích công cộng đã đượcgiao phó, và chỉ trong các trường hợp này thì họ mới bị trừng phạt [...] Sự trừngphạt ấy rõ ràng là mang tính cách xã hội chủ nghĩa bởi vì đấy là các công tácmang tính cách lợi ích chung cho toàn thể xã hội. Sư trừng phạt ấy nhất thiết khôngphải vì một lý do cá nhân hay một sự ganh ghét nào cả.

(Dhammika Sangkhomniyom Baep Phadektan, Bangkok, SublimeLife Mission, 1975, trích dẫn trở lại trongBouddhisme et Socialismes, id, tr. 86)

Thậtra nếu chỉ dựa vào những lời phát biểu trên đây thì cũng khó để có thể quyết đoánlà Buddhadasa có hé thấy được chăng vấn đề bạo lực. Mặc dù ấp ủ nhiều hoài bão thếnhưng tư tưởng của ông không được xây dựng trên một nền tảng triết học chính trịhay đạo đức xã hội rõ rệt nào cả (đã được giải thích trong một ghi trên đây: Buddhadasa chỉlà một người tu hành, không phải là một triết gia, một chính trị gia hay mộtnhà xã hội học theo cách định nghĩa của người Tây Phương). SulakSivaraksa một nhân vật trung kiên thuộc đảng dân chủ (Thái Lan)mặc dù hết sức ngưỡng mộBuddhadasa thế nhưng đã đứng ra ngoài các quan điểm chính trị của ông. Thật thếkhông sao có thể chấp nhận một sự cổ vũ độc tài được, dù đấy là Đạo Pháp đi nữa.

Thểchế Đạo Pháp làm chủ (dharmacratie / dharmacracy)là một tổ chức xã hộiđiều hành bởi Đạo Pháp (Dharma / Dhamma), nói cách khác là một quốc gia tín ngưỡng(État confessionnel / confessional State), và thật ra thì đấy cũng là một chủ đềđã được nêu lên từ muôn thuở cho cả Á Châu. Nhà sư Trung Quốc Thái Hư (Taixu, 1889-1947,một vị đại sư có tư tưởng cấp tiến)cũng đã từng nêu lên một hình thứcxã hội không tưởng (utopia) đạiloại như trên đây. Ông chủ trương thành lập một khu vực tự trị và miễn thuế (zonefranche / free zone) nhằm tạo ra một mảnh đất Tịnh Độ với sự giúp đỡ của các cơquan chính quyền. Theo ông nhiều nơi ở Trung Quốc có thể dùng làm thí điểm, tuynhiên ông chú ý hơn hết đến một vùng núi thiêng gọi là Phổ Đà Sơn (Putuaoshan,chính xác hơn thì đấy chính là đỉnh núi Phổ Đà - Potala) thuộc tỉnh Chiết Giang(Zhejiang). Vùng này sẽ được chánh thức công bố là vùng thí điểm dành riêng chocác cộng đồng sinh hoạt tập thể (phalanstères / co-operative corporations / theo nghĩa rộng thìchữ này có nghĩa là các cộng đồng theo đuổi một lý tưởng chung và cùng sinh sốngtheo lối tập thể). Một ngôi chùa thờ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni sẽ đượcxây dựng nơi trung tâm, đủ chỗ cho khoảng năm trăm đến một ngàn nhà sư lưu ngụ,chung quanh chùa là những khu phụ thuộc dành cho những người mới thụ giáo vàcác nữ tu sĩ. Ba khu vực làng mạc sẽ được thiết lập để đón rước những người thếtục đến định cư, số người này có thể lên đến tám mươi ngàn người. Ba khu làng sẽmang tên là: "Khu làng Mười Giới Luật ", "Khu làng Năm Giới Luật"và "Khu làng Ba Giới Luật". Cách đặt tên này được căn cứ vào ba cấp bậcđạo đức khác nhau. Ba khu làng sẽ được phân bố theo ba vòng tròn đồng tâm chungquanh ngôi chùa. Mỗi gia đình được cấp một mảnh đất, càng xa chùa thì diện tíchđất càng nhỏ đi (sự giàu có được quy định căn cứ vào trình độ đạo đức - ghi chúcủa tác giả). Nhà sư Thái Hư còn hình dung ra từng chi tiết về cách tổ chức cáclàng mạc và đưa ra cả các quy tắc mà người dân trong làng phải tuân thủ trong sựsinh hoạt chung. Những ốc đảo Tịnh Độ này sẽ là bước đầu đưa đến sự hình thànhcủa cả một xã hội mới. Dân chúng sinh sống trong các làng có bổn phận phải quảngbá chương trình phát triển trên đây, họ phải đón tiếp những người bên ngoàicũng như các vị đại diện chính quyền đến viếng và khuyến khích họ thành lập nhữngnơi như thế trên khắp địa cầu. Các cộng đồng lý tưởng (phalanstères) này chưabao giờ được thành hình trên thực tế (sự chỉ trích của Eric Rommeluère về chủ đích của nhà sưThái Hư có phần quá khắt khe. Dù rằng Thái Hư mang tham vọng rất lớn là tạo ramột cõi Tịnh Độ trên hành tinh này và dự án đó của ông mang nhiều khía cạnh"không tưởng" nếu không muốn nói là khá "ngây thơ", thếnhưng không phải ông là một người chỉ biết tưởng tượng suông mà thật ra rất thựctế, tích cực và cấp tiến, luôn nêu cao sự hiểu biết khoa học và đả kích mọihình thức tín ngưỡng dị đoan. Các bài viết và bài giảng về chủ đề "Khoa họcvà Phật Giáo" của ông thu hút được sự quan tâm của nhiều người trên thế giới.Ông quan niệm rằng cõi Tịnh độ không ở vào một nơi nào khác hơn là thế giannày. Học giả Justin R. Reitzinger có nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng củaThái Hư và có viết một quyển sách khá công phu về nhà sư này mang tựa là "Taixu:To Renew Buddhism and Save the Modern World" (có thể xem trên mạngInternet). Ngoài ra cũng còn có nhiều học giả Tây Phương khác viết về ông. Saukhi qua đời các trước tác của ông được người sau gom chung thành 20 quyển và đãđược xuất bản ở Đài Loan - Taipei, 1956. Một số sách và bài giảng của ông cũngđã được dịch sang các ngôn ngữ Tây Phương).

Buddhadasacổ vũ thành lập một thể chế do Đạo Pháp làm chủ (dharmacracy / tức là một thể chế điều hành vàquản lý bởi Đạo Pháp) thế nhưng lại không hề dự trù các khó khăn nangiải liên quan đến thể chế đó. Mô hình xã hội trên đây được hình dung như một khungcảnh sinh hoạt lý tưởng phi xung đột, một nơi mà tất cả mọi người đều tuân thủcác giới luật đạo đức. Các mối liên hệ và tương giao trong sự sinh hoạt đượcquy định rõ rệt tùy theo các trường hợp sinh hoạt mang tính cách cá nhân hay tậpthể, và mọi người đều phải tôn trọng. Tóm lại một nếp sống hài hòa sẽ là nét nổibật nhất của thể chế do Đạo Pháp làm chủ. Mọi sự xung đột đều phải được xem nhưmang tính cách tiêu cực, phát sinh từ một sự vận hành lệch lạc, rơi ra ngoài bảnchất "tự nhiên" của trật tự xã hội. Trọng trách của vị vua là tái lậplại trật tự đó, kể cả bằng sức mạnh nếu cần. Theo cách hình dung trên đây thì thểchế Đạo Pháp làm chủ (dharmacracy / thể chế điều hành bởi Đạo Pháp)sẽđi ngược lại với thể chế dân chủ (democracy)bởi vì thể chế này được xem như là mộttổ chức sinh hoạt xã hội thường xuyên xảy ra xung đột - hoặc mang tiềm năng làmphát sinh ra xung đột - giữa các khuynh hướng và quan điểm khác nhau (trong thế giới tựdo thương xuyên xảy ra những sự chống đối, biểu tình và xung đột..., đó là tìnhtrạng dằng co và căng thẳng trong việc đòi hỏi và bảo vệ các quyền lợi cá nhâncũng như tập thể, chẳng hạn như giữa chủ nhân và công nhân, giữa các tầng lớp dânchúng, giữa các đảng phái, chính quyền và nhân dân, v.v... Những sự xung đột vàchống đối đó sẽ tạo ra một thế "thăng bằng" gọi là dân chủ).Những sự xung đột này sẽ được giải quyết một cách ôn hòa phi-bạo-lực nhờ vào cáctổ chức chính trị đứng ra điều hành, làm luật và trừng phạt (tức là các cơ quanhành pháp, lập pháp và tư pháp). Thể chế dân chủ không tự khép mìnhvào một trật tự sẵn có từ trước, bởi vì trật tự trong thể chế đó chỉ có thểphát sinh từ quá trình vận hành của chính nó. Thể chế dân chủ có nhiều khả nănghơn để hòa nhập với sự khác biệt, nhằmmang lại một sự hài hòa chung, trong khi đó thể chế xã hội chủ nghĩa điều hànhbởi Đạo Pháp (cóthể hiểu rộng ra là một thể chế chủ trương một sức mạnh khác hơn với quyền lựccủa người dân đứng ra làm chủ)sẽ không có khả năng nào để hội nhập vớisự khác biệt để khuất phục hoặc loại trừ nó.

Vài lời ghi chú của người dịch

Phật Giáo là một trong những tôngiáo lâu đời nhất của nhân loại vẫn còn tồn tại và phát triển, và tất nhiên đãđược hình thành trong một chế độ quân chủ. Các thể chế dân chủ tân tiến ngàynay chỉ mới xuất hiện khoảng hai trăm năm là nhiều. Chủ thuyết cộng sản và xã hộichủ nghĩa được manh nha ở Âu Châu từ thế kỷ XIX, và Nga Sô là nước đầu tiên đã tựnhận mình là cộng sản vào năm 1917. Nếu không muốn nói là một nạn nhân thì ítra Phật Giáo cũng không liên hệ gì đến các chế độ đó. Kinh sách đã được hìnhthành rất lâu trước khi nhân loại hình dung ra được các thể chế dân chủ và xã hộichủ nghĩa trên đây. Tuy nhiên với tư cách là những người Phật Giáo chúng ta cũngnên tìm hiểu xem mình phải quan niệm như thế nào về vị trí của Phật Giáo trongcác xã hội ngày nay, và các "huyền thoại" trong kinh sách kể lại cáccâu chuyện của các vị vua đạo đức trong quá khứ có đáng để cho các nhà lãnh đạongày nay suy ngẫm hay chăng, và nhất là chúng ta có nên tự hỏi đâu là bổn phậnvà trọng trách của mình đối với cộng đồng xã hội?

Đạo Pháp là Con Đường, cứu cánh làtrí tuệ. Con Đường là sự cố gắng, trí tuệ là sự an bình. Nếu đã là Con Đườngthì đương nhiên đã biểu trưng cho một sự dấn thân nào đó. Cả ba nhà sư ÉricRommeluère, Buddhadasa và Thái Hư đều là những người tu hành dấn thân, thếnhưng mỗi người một cách. Éric Rommeluère cho rằng hoài bão mang tính cách lýtưởng của cả hai nhà sư Thái Lan và Trung Quốc chỉ là những huyền thoại, bởi vìdù có thực hiện được đi nữa thì cũng sẽ không thể điều hành được. Lý do cũng dễhiểu: bởi vì con người quá đa dạng và đã bị ô nhiễm quá nặng nề bởi mọi thứ xúccảm bấn loạn phát sinh từ bản năng và vô mình, do đó rất khó để kêu gọi họ quayvề với đạo đức, hoặc khép họ vào những khuôn phép và các sinh hoạt tập thể tiêubiểu cho một xã hội lý tưởng.

Trong kinhKarmasataka-sutra (Bách Nghiệp Kinh)có nêu lên một câu như sau:"Sự đa dạng của nghiệp đưa đến sự đa dạng của chúng sinh" (trích dẫntheo Kalou Rinpoché, La Voie du Bouddha,Con Đường của Đức Phật, Seuil-Sagesse,1993, tr.177). Buddhadasa cũng đã nhận thấy điều đó và có lẽ vì thế mà ông đã đềnghị nên thiết lập một chế độ xã hội chủ nghĩa điều hành bởi Đạo Pháp để"ép buộc" con người phải tự biến cải và giúp mình tránh bớt được tácđộng của bản năng và các cách hành xử vô minh. Trong khi đó Thái Hư lại chủtrương một nểp sống tập thể, quy định bởi các quy tắc đạo đức - gồm ba, năm vàmười giới luật - để quản lý con người. Trái lại Éric Rommeluère không quan tâmđến yếu tố đạo đức mà chỉ nghĩ đến thể chế dân chủ của các xã hội Tây Phương vàchủ trương phải hòa nhập với sự đa dạng của con người. Sau khi trình bày dôngdài về tư tưởng và hoài bảo của Buddhadasa và Thái Hư ông đã đưa ra một câu kếtluận cuối cùng thật ngắn gọn, kín đáo và sâu sắc: "thể chế dân chủ có nhiềukhả năng hơn để hòa nhập với sự khác biệt nhằm mang lại một sự hài hòachung".

Thật vậy ngày nay dân chủ là một thểchế tương đối "hoàn hảo" và "phù hợp" với con người hơn cả. Tuy nhiên nếu suy xét cẩn thận thìchúng ta cũng chỉ có thể chấp nhận "một phần nào" mà thôi, đấy là tínhcách uyển chuyển và khả năng ứng phó của thể chế này đối với mọi biến động - màPhật Giáo gọi chung là vô thường - trong xã hội, mà không cần phải sử dụng đến cácbiện pháp độc đoán hay một chế độ chuyên chế nào cả. Trái lại những gì mà chúngta không thể chấp nhận được trong thể chế này là xu hướng luôn tìm cách làm thỏamãn các xung năng của con người. Xu hướng đó sẽ mang lại nguy cơ đưa đến một xãhội tự do chủ nghĩa. Thật vậy vô minh và bản năng luôn chi phối con người và biếnhọ trở thành tham lam, thèm muốn, ích kỷ, hung bạo, dối trá..., và họ sẽ dựavào chủ nghĩa tự do đó để tạo ra một môi trường thuận lợi giúp cho bản năng tunghoành thỏa thích. Vì nhận thấy điều ấy nên Buddhadasa đã chủ trương một xã hộichủ nghĩa điều hành bởi Đạo Pháp (dharmic socialism) sử dụng một sự cứng rắnnào đó nhằm biến cải con người hầu mang lại một xã hội nhân bản hơn. Xã hội chủnghĩa điều hành bởi Đạo Pháp sẽ không thể nào dung túng sự đánh thức và thả lỏngbản năng của con người, cũng không chủ trương xây dựng một xã hội dựa trên sựchống đối và phân chia quyền lợi, nhằm mang lại một sự dung hòa hay một thếthăng bằng tạm thời nào đó theo chủ trương của chế độ dân chủ, và nhất là cũng khôngthể sử dụng sự sợ hãi, áp bức hay tuyên truyền để quản lý con người như các xãhội độc đoán.

Phật Giáo luôn chủ trương phải yêuthương và kính trọng con người dù cho họ có đần độn hay hung dữ đến đâu cũng thế,và nhất là khuyên chúng ta phải biết giúp đỡ những kẻ khốn cùng, che chở nhữngngười yếu đuối, trấn an những người lo sợ, đến gần với những kẻ cô đơn. PhậtGiáo không hề chủ trương phải đấu tranh giai cấp, phân chia quyền lợi, khaithác thị trường, gia tăng lợi nhuận, gom góp của cải hay che dấu tài sản..., vàdo đó cũng có thể nói rằng Phật Giáo làmột Con Đường hoàn toàn riêng biệt và tách ra ngoài tất cả các thể chế trên đây.Đức Phật từ bỏ cung điện và ngai vàng là một cách gián tiếp không tin thể chếquân chủ - nếu nói theo ngày nay là các thể chế chính trị - lại có thể mang lạisự giải thoát cho con người. Sau khi đạt được Giác Ngộ Ngài tiếp tục xa lìa thếtục, ôm bình bát và đi chân đất để làm gương cho chúng ta. Ngài cũng đã thuyếtgiảng suốt bốn mươi lăm năm cho đến một hôm thì kiệt lực: đấy là sự dấn thân củaĐức Phật.

Vào thời kỳ Đức Phật còn tại thếcũng đã có nhiều vị vua Phật Giáo, thế nhưng đặc biệt hơn cả là vào thế kỷ thứIII trước Tây Lịch bất ngờ xuất hiện một vị hoàng đế khác thường là A-dục. Vị hoàngđế này đã thành lập đế quốc đầu tiên cho nước Ấn là Maurya và đã sử dụng ĐạoPháp của vị Cồ-đàm để cai trị. Sự kết hợp giữa Phật Giáo và vương quyền dướitriều đại A-dục đã đánh dấu một sự thành công tuyệt vời nhất về chính trị, kinhtế, văn hóa và cả tôn giáo trong lịch sử nước Ấn. Sau khi vua A-dục qua đời thìđế quốc của ông cũng suy sụp theo và lãnh thổ bị phân chia thành nhiều vương quốc.

KhiĐại Thừa Phật Giáo được hình thành vào thế kỷ thứ I trước Tây Lịch, nêu lên lýtưởng và vai trò của người bố-tát thì Phật Giáo cũng đã khoác thêm cho mình mộtchiếc áo mới mang tính cách dấn thân thật rõ rệt. Sau khi đế quốc Maurya củahoàng đế A-dục suy tàn thì năm thế kỷ sau đế quốc thứ hai của nước Ấn là Gupta đượcthành lập, kéo dài từ cuối thế kỷ thứ III đến giữa thế kỷ thứ VI. Triều đại nàyđã đưa nền văn minh Ấn Độ lên tột đỉnh. Nghệ thuật phát triển cao độ, nhiềusáng tạo và đã đạt được các nét tiêu biểu và đặc thù nhất cho toàn bộ nền vănhóa Ấn Độ. Toán học và thiên văn học rất tiến bộ, nhiều nhà toán học và thiênvăn được mời sang Trung Quốc giảng dạy. Kinh tế và văn minh Ấn Độ cũng đã ảnhhưởng sâu rộng đến tất cả các nước láng giềng thời bấy giờ. Thế nhưng điều đángcho những người Phật Giáo chúng ta lưu ý là các vị vua dưới triều đại này hầu hếtlà những người Phật Giáo, và triều đại Gupta cũng đã đánh dấu một giai đoạn vượtbực và siêu việt nhất trong lịch sử phát triển của Phật Giáo, kéo dài từ thế kỷthứ II đến thế kỷ thứ VIII, tất cả các học phái và tông phái lớn đều đã đượchình thành trong giai đoạn này, tiếc thay đấy cũng là giai đoạn vàng son cuốicùng trong lịch sử Phật Giáo.

Nhà sư Thai Hư tưởng tượng ra mộtkhung cảnh Tịnh Độ trong một quốc gia đang lâm vào tình trạng chiến tranh, đầymưu mô và biến động chính trị của tiền bán thế kỷ XX. Ông ước mơ thế gian này sẽtrở thành một cõi Tịnh Độ. Nhà sư Buddhadasa thì hình dung ra một hình thức xãhội chủ nghĩa, công bằng, hợp lý, hài hòa và sung túc với sự cai trị độc đoán củamột vị vua nhân từ, rộng lượng, lương thiện, tràn ngập lòng từ bi trong một bốicảnh đầy nhiễu nhương và xáo trộn của nước Thái dưới sự cai trị của các tậpđoàn quân phiệt trong một khung cảnh đầy lo sợ của người dân trước cuộc chiếntranh tương tàn, đau thương và phi lý của một nước láng giềng giữa hậu bán thếkỷ XX. Dân tộc Thái yêu chuộng một thể chế dân chủ thế nhưng lúc nào cũng tônsùng một vị quốc vương Phật Giáo nhân từ và đạo đức. Thói tục và truyền thốnglâu đời đó biết đâu cũng đã ảnh hưởng đến Buddhadasa và đã khiến ông ước mơ mộtvị vua thật gương mẫu tương tự như hoàng đế A-dục sẽ xuất hiện trên đất Thái đểgầy dựng một xã hội hài hòa, an vui và không xung đột cho dân tộc ông?

Dầu sao đi nữa thì sự dấn thân của một ngườiPhật Giáo - dù đấy là Éric Rommeluère, Buddhadasa hay Thái Hư hay chỉ đơn giảnlà những người bình dị như chúng ta - cũng chỉ là để mang lại an vui và sự hàihòa trong xã hội, và tuyệt nhiên không phải là cách tìm kiếm danh vọng, quyền lựchay của cải cho chính mình. Tất cả những thứ ấy đối với họ chỉ là những thứ phùdu và vô nghĩa, nếu không muốn nói đấy là những nguyên nhân sâu xa và sớm muộncũng sẽ mang lại mọi thứ hiểm nguy, sợ hãi và lo buồn. Đức Phật có dạy rằng:

"Một trăm lần tái sinh để làm vua thiênhạ cũng chẳng có nghĩa lý gì so với một kiếp người biết bước chân vào Con ĐườngĐạo Pháp một cách chính trực"

(trích dẫn theo Kalou Rinpoché trong quyển Con Đường của Đức Phật, La Voie du Bouddha, Sagesse-Seuil, 1993,tr. 353)

Sau hết có lẽ cũng cần phải giải thích thêm về mườiphẩm tính của một vị vua (dasabidha raja dhamma) mà tác đã nêu lên trong chươngIX của quyển sách nhưng không đưa ra chi tiết. Ly do là trong chương VIII tácgiả cũng đã đề cập đến hoàng đế A-dục và cũng đã liệt kê đầy đủ mười phẩm tính củaông, đó là: "bố thí, đạo đức, xả thân, trung thực, nhân từ, đạm bạc, khôngnóng giận, không sử dụng bao lực, kiên nhẫn và không tìm cách gây ra mọi sự xungđột [...] Các vua chúa Á Châu sau này đều nhân danh hoàng đế A-dục để trị vì vàđều tự nhận mình là một vị vua công lý (dharmaraja), một vị bồ-tát(bodhisattva), một người khởi động bánh xe (cakravartin). Tất cả đều mượn ĐạoPháp để khoác lên cho mình một uy quyền chính đáng và hợp pháp" (tr. 82 và84).

Ngoài ra người ta cũng thấy mộttrang web Phật Giáo bằng tiếng Pháp của Cam-pu-chea đăng tải một bài viết ngắnnêu lên mười phẩm tính đạo đức của một vị vua (http://www.btkhmer.com/, trong tiếtmục Textes, và bài viết mang tựa là Lesdix devoirs du roi). Bài viết này tuy không thấy nêu tên tác giả và cũngkhông cho biết là đã dựa vào kinh sách hay các tư liệu nào, thế nhưng cũng đãđược một trang web khác có tầm cỡ quốc tế và uy tín là Buddhachannel trích đăngngày 29 tháng 9, năm 2010. Hơn nữa trang web Buddhachannel còn viết thêm một đoạnngắn bên dưới bài viết trên đây và có thể đã dựa vào các kinh sách gốc để đưara thêm một bản liệt kê khác hình như đã dựa vào các tư liệu gốc để về mười phẩmtính của một vị vua.

Xin mạn phép chuyển ngữ bài viết trênđây của trang web Cam-pu-chea và cả phần ghép thêm của trang web Buddhachanneltrong phần phụ lục dưới đây, nhằm giúp người đọc tìm hiểu thêm khái niệm về mườiphẩm tính đạo đức của các vị vua đã từng cai trị các nước Á Châu trong lịch sử.(http://www.buddhachannel.tv/portail/spip.php?article2045).

Phụ lục

Nào có khác gì ngày nay, vào thờiĐức Phật còn tại thế cũng đã có những vị đế vương cai trị dân tộc của họ thậtbất công. Họ tha hồ tăng thuế và sử dụng những biện pháp trừng phạt thật nhẫntâm. Người dân bị áp bức, bóc lột, tra tấn và đàn áp.

Đức Phật vô cùng đau xót trước nhữngcảnh đối xử vô nhân đạo đó nên đã nghĩ rằng một thể chế chính trị đúng đắn thậthết sức cần thiết. Cũng nên lưu ý là các mối quan tâm của Đức Phật nhất thiết liênhệ đến các bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị của thời bấy giờ. Ngài nóirằng trong một quốc gia nếu tất cả các người lãnh đạo nắm giữ quyền bính, tức làtừ nhà vua cho đến các quan lại và viên chức triều đình, tất cả đều tham nhũngvà hành xử bất chính thì cả nước cũng sẽ trở nên tham nhũng, hủ hóa và khổ đau.Đức Phật có nêu lên trong giáo huấn của Ngài mười bổn phận mà một vị vua phải chấphành hầu mang lại cho mình một uy quyền đúng đắn.

Chữ "vua" (râja) vàonhững thời xa xưa ngày nay tất nhiên phải được thay bằng chữ "chínhquyền", và ngược lại thì những người tham gia chính quyền tức từ vị nguyênthủ quốc gia đến các bộ trưởng, các thành viên lập pháp và các viên chức hànhchánh đều phải chấp hành mười bổn phận của một vị vua.

Mười bổn phận của một vị vua là:

o Sự rộng lượng, hào phóng và lòng từ tâm: Vị quốc vương không được tham lam và bám víu vào của cải cũng như gia sản mà phải đem ra phân phát cho toàn dân được hưởng.
o Một tinh thần đạo đức cao độ:Vị quốc vương không được cướp đoạt sự sống, lừa đảo, tóm thâu những gì không phải của mình, không được lợi dụng kẻ khác, vị phạm tà dâm, nói dối, không được say sưa. Có nghĩa là vị ấy phải tuân thủ ít nhất năm giới luật của người thế tục.
o Hy sinh vì sự tốt lành của toàn dân: Vị quốc vương phải hy sinh mọi tiện nghi vất chất, danh vọng, tiếng tăm và cả sự sống của mình vì lợi ích của dân tộc.
o Sự lương thiện và liêm khiết: Trong khi thực thi trách vụ của mình, vị quốc vương phải quả quyết và không được ưu đãi một ai. Vị ấy phải giữ sự ngay thật trong mọi hoạch định, không được phép đánh lừa quần chúng.
o Sự khả ái và hòa nhã:Vị quốc vương phải biết hành xử thật từ tốn.
o Nếp sống khắc khổ: Vị quốc vương phải sống đơn sơ và không để cho mình bị chóa mắt bởi sự xa hoa, tức là phải chủ động được chính mình.
o Không được hận thù, có ý xấu hay bất thân thiện: Vị quốc vương không được mang ác cảm với bất cứ một ai.
o Tôn trọng nguyên tắc bất bao động: Vị quốc vuơng chẳng những không được gây ra đau thương cho bất cứ một ai mà còn phải cố gắng bảo vệ hòa bình cho dân tộc, và bằng mọi cách phải ngăn chận những gì có thể đưa đến bạo lực nguy hại đến tính mạng của người dân.
o Kiên nhẫn, sẵn sàng tha thứ, khoan dung và hiểu biết: Vị quốc vương phải đủ sức chịu đựng mọi thử thách và khó khăn cũng như sự nhục mạ, lúc nào cũng phải giữ được sự bình tĩnh.
o Không tìm cách chống lại đối lập, không gây ra bế tắc: Có nghĩa là vị ấy không được đi ngược lại với quyết tâm của người dân, hoặc tìm cách ngăn chận các biện pháp mang lại lợi ích chung cho dân tộc. Nói một cách khác là vị ấy phải hòa nhập với dân chúng trong một sự hài hòa chung.

Thửhỏi người dân trong một xứ sở cai trị bởi những người lãnh đạo mang những phẩmtính trên đây sẽ được sung sướng biết bao nhiêu! Tuy nhiên chuyện ấy nào có phảilà chuyện không tưởng đâu, bởi vì trong lịch sử cũng đã từng có những vị vua hộiđủ những phẩm tính ấy, chẳng hạn như hoàng đế A-dục của nước Ấn đã từng lãnhđạo dân tộc của ông với những phẩm tính ấy, (http://www.btkhmer.com/, trong mục: Méthode pratiquede méditation, textes du Bouddhisme, Les dix devoirs du roi).

Sau khi trích đăng toàn bộbài viết trên đây, trang web Buddhachannel còn viết thêm một đoạn dưới đây:

Vậy chúng tahãy mong sao cho những người lãnh đạo ngày nay cũng đều biết nguyện cầu như sau:

Tôi xin cố gắng hành xử với lòng rộng lượng
và trau dồi thật hoàn hảo tất cả những phẩm tính khác,
Để cầu xin sao cho tôi được trở thành một người lãnh đạo
luôn biết hy sinh vì sự tốt lành của tất cả chúng sinh.

Dựa vào uy lực và sự chân chính mang lại từ cách lãnh đạo đó,
Tôi xin nguyện cầu cho tất cả chúng sinh đều tìm được hạnh phúc
và quán thấy được cội nguồn của hạnh phúc.

Tôi xin nguyện cầu cho tất cả chúng sinh sẽ thoát khỏi khổ đau
và quán thấy được các nguyên nhân mang lại khổ đau.

Tôi xin nguyện cầu sao cho niềm phúc hạnh tối thượng
không một bóng dáng khổ đau sẽ chẳng bao giờ rời bỏ họ.

Tôi xin nguyện cầu cho tất cả chúng sinh luôn được thường trú trong sự an lạc mênh mông,
thoát ra khỏi mọi dục vọng, sự hung hãn và những thành kiến sai lầm.

Sau đây là mười Ba-la-mật của một vị vua:

- Dana: Bố thí
- Sila: Đạo đức
- Nekhama: Sự từ bỏ (có nghĩa là khước từ mọi tiện nghi vật chất và những giá trị thế tục. Riêng đối với người tu hành thì nekhama có nghĩa là xuất gia, từ bỏ gia đình và cuộc sống thế tục)
- Panna: Trí tuệ
- Viriya: Nghị lực
- Khanti: Nhẫn nhục
- Sacca: Sự thật (có nghĩa là ngay thẳng, cương trực, biết tôn trọng sự thật)
- Aditthana: Sự kiên quyết
- Metta: Lòng nhân ái
- Upekha: Sự an lạc (sự thanh thản, an vui)
(http://www.buddhachannel.tv/portail/spip.php?article2045).

Sau hết người dịch xin mượn hình ảnh của một pho tượngPhật để thay cho lời kết:

tuongphatthichca

Đức Phật Thích-ca

(thếkỷ thứ V, sa thạch Chunâr, 131x52x26.5cm, bảo tàng viện Kolkata, Calcuta, Ấn Độ)

Pho tượngđược tìm thấy ở Ba-la-nại (Benares / Varanasi/ Sârnâth) tiểu bang UttarPradesh, nơi Đức Phật khởi động bánh xe Đạo Pháp lần đầu tiên. Tượng được tạcdưới triều đại Gupta. Bàn tay phải của pho tượng để ngữa và đưa ra phía trướcbiểu trưng cho sự che chở chúng sinh trước mọi sợ hãi, lo buồn và khổ đau - xinlưu ý bàn tay Đức Phật trình bày trên bìa quyển sách của Éric Rommeluère cũngmang ý nghĩa này. Bàn tay trái buông xuống và cũng để ngữa biểu trưng cho sự bốthí.

Động tác của hai bàn tay pho tuợng đã nói lênsự dấn thân của Đức Phật trong suốt bốn mươi lăm năm sau khi đạt được Giác Ngộ.Ngày nay chúng ta có bắt chước được một chút nào hay chăng? Phật Giáo dấn thâncũng chỉ giản dị như thế, như động tác của đôi bàn tay để ngữa mà mỗi ngườitrong chúng ta đều có và đều có thể làm được, nào có gì là "không tưởng"đâu? Hơn nữa chúng ta có nhận thấy đôi mắt của pho tượng đang nhìn xuống khổđau của tất cả chúng sinh hay chăng? Vậy đừng nắm hai bàn tay lại để mà nhìnnhau bằng những đôi mắt căm hờn.

Bures-Sur-Yvette,07.06.13

(mùa Phật Đản 2013)

Hoang Phongchuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/04/201322:25(Xem: 4075)
Lịch sử luôn trao tận tay từng số phận thuận nghịch của duyên trần (biệt nghiệp) để từ đó hòa mình vào vận mạng chung của cộng nghiệp.
16/07/201615:21(Xem: 2750)
Nếu trang phục truyền thống của một dân tộc hay quốc gia biểu đạt bản sắc văn hóa về y phục của dân tộc hay quốc gia đó, thì pháp phục Phật giáo thể hiện bản sắc đặc thù, khác hẳn với và vượt lên trên các quốc phục và thường phục của người đời, dù ở phạm vi dân tộc hay quốc gia. Lễ phục tôn giáo nói chung và pháp phục Phật giáo nói riêng thể hiện tình trạng tôn giáo và xã hội (social and religious status), được sử dụng trong hai hình thức, mặc trong sinh hoạt thường nhật và mặc trong các nghi lễ tôn giáo, nói chung các dịp đặc biệt.
04/02/201408:27(Xem: 6755)
Nằm trong khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) 2014 tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 vừa qua, chương trình trò chuyện với các nhân vật nổi tiếng không hoạt động trong lĩnh vực tài chính, có quan điểm về một cuộc sống hạnh phúc mà không phụ thuộc quá nhiều vào tiền bạc và quyền lực cũng đã diễn ra.
20/02/201206:43(Xem: 2340)
Nếu bạn dự định đăng tải gì đó, bạn phải luôn tự hỏi: Nó có đúng không? Nó có cần thiết không? Nó có phù hợp không?
18/08/201407:36(Xem: 19131)
108 lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma được gom góp trong quyển sách tuy bé nhỏ này nhưng cũng đã phản ảnh được một phần nào tư tưởng của một con người rất lớn, một con người khác thường giữa thế giới nhiễu nhương ngày nay. Thật vậy tư tưởng của Ngài có thể biểu trưng cho toàn thể lòng từ bi và trí tuệ Phật Giáo trên một hành tinh mà con người dường như đã mất hết định hướng. Các sự xung đột không hề chấm dứt, con người bóc lột con người, giết hại muôn thú và tàn phá thiên nhiên. Phật giáo thường được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt-lai Lạt-ma trong quyển sách này vượt lên trên khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo: - "Mỗi khi phải đề cập đến các vấn đề tâm linh thì không nhất thiết là tôi buộc phải nói đến các vấn đề liên quan đến tôn giáo (câu 87).
12/03/201407:34(Xem: 8721)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phân xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách…Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/04/201314:24(Xem: 3111)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phần xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách, …Đức Lạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội tham của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên.
09/03/201411:24(Xem: 9168)
Ajahn Chah sinh năm 1918 trong một ngôi làng phía Bắc Thái Lan. Ngài xuất gia sa di từ lúc còn nhỏ và trở thành một vị tỳ khưu năm hai mươi tuổi. Ngài theo truyền thống hành đầu đà của các sơn tăng trong nhiều năm; hằng ngày mang bát xin ăn, chuyên tâm hành thiền và đi khắp nơi để truyền bá giáo pháp. Ajahn Chah hành thiền dưới sự chỉ dẫn của nhiều thiền sư danh tiếng
17/10/201307:24(Xem: 15917)
50 năm qua, cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 chống chính quyền Đệ nhất Cọng hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã đàn áp Phật giáo. Sự việc đã lui về quá khứ nhưng vết thương trong lòng dân tộc, trong tim của Phật tử Việt Nam thì vẫn còn đó và có lẽ mãi còn trong lịch sử đau thương mà cũng lắm hào hùng.
28/12/201209:52(Xem: 6698)
Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầuthiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinhđiển thiền ngữ” (六十六條經典禪語),có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinhđiển [Phật giáo]”, được phổ biếntrên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010,có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật họclàm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đãthêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.