Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

TRÍ HUỆ VÀ ĐẠI BI

26/02/201322:58(Xem: 2200)
TRÍ HUỆ VÀ ĐẠI BI
lotus_1
TRÍ HUỆ VÀ ĐẠI BI
Nguyễn Thế Đăng

Kinh Đại Bát Nhã nói Bồ-tát là người “Vì chúng sanh mà cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cứu độ những chúng sanh điên đảo chấp ngã” (Phẩm Đạo thọ thứ 71), “vì chúng sanh mà cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác” (Phẩm Nhất niệm thứ 76), “hành sáu ba la mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại, mười tám pháp bất cọng, hành đại từ đại bi, hành nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng sanh” (Phẩm Bồ-tát hạnh thứ 72).

Bồ-tát ngay từ khi mới phát tâm đã kết hợp hai công việc, hai con đường:

- Trí huệ Bát nhã thấu suốt tánh Không để tự giải thoát, giác ngộ.

- Đại bi cứu độ chúng sanh.

Nếu không nghe, suy nghĩ, thực hành Bát-nhã ba-la-mật, chúng ta dễ thấy rằng đây là hai công việc, hai con đường trái nghịch nhau. Làm sao có thể kết hợp tánh Không với việc độ chúng sanh, hết đời này qua đời khác?

Trước hết, thực hành trí huệ Bát-nhã là:

“Đức Phật bảo Tu-bồ-đề: Bồ-tát có thể học rằng các pháp không có tự tánh, cũng có thể nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng sanh. Biết quốc độ và chúng sanh không có tự tánh, đó là sức phương tiện của Bát-nhã” (Phẩm Đạo thọ thứ 71).

“Này Tu-bồ-đề! Biết thật nghĩa của các pháp nên gọi là Phật. Chứng thật tướng của các pháp nên gọi là Phật. Thông suốt thật nghĩa của các pháp nên gọi là Phật. Biết như thật tất cả các pháp nên gọi là Phật.

Bạch Đức Thế Tôn! Bồ-đề (giác ngộ) nghĩa là gì?

Này Tu-bồ-đề! Nghĩa Không là nghĩa Bồ-đề. Nghĩa Như, nghĩa pháp tánh, nghĩa thật tế, là nghĩa Bồ-đề… Thật nghĩa của Bồ-đề không thể hoại, không thể phân biệt, đó là nghĩa Bồ-đề. Lại nữa, thật tướng của các pháp chẳng hư dối, chẳng dị biệt, là nghĩa Bồ-đề” (Phẩm Bồ-tát hạnh thứ 72).

Trí huệ Bát-nhã là quán thấy các pháp vốn không có tự tánh. Không có tự tánh cho nên được gọi là tánh Không. Tánh Không này là “thật nghĩa của các pháp”, là “thật tướng của các pháp”. Bồ-đề là giác ngộ trọn vẹn nghĩa tánh Không này. Tánh Không ấy còn được gọi là Như, là pháp tánh, là thật tế, là giác-ngộ. Vị giác ngộ trọn vẹn tánh Không, hay Như, hay pháp tánh, hay thật tế, được gọi là bậc giác ngộ, bậc Phật.

Trí huệ soi thấy tánh Không này là nền tảng từ đó phát sanh mọi thực hành vị tha của Bồ-tát, mọi Bồ-tát hạnh: Sáu ba-la-mật, từ bi hỷ xả, bốn nhiếp pháp… cho đến “tôi phải dùng ba thừa độ thoát hết thảy chúng sanh, tôi sẽ thay cho tất cả chúng sanh mười phương mà chịu khổ đau” (Phẩm Kim Cương thứ 13).

Để biết sự kết hợp của trí huệ và đại bi như thế nào, chúng ta trích dẫn một đoạn kinh về Nhẫn nhục ba-la-mật.

“Ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, làm thế nào Bồ-tát ở trong các pháp vô tướng, vô tác, vô đắc mà có thể đầy đủ Nhẫn nhục ba-la-mật?

- Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát từ khi mới phát tâm đến nay cho đến khi ngồi đạo tràng, trong thời gian ấy nếu có bị bất cứ chúng sanh nào đến đánh đập đâm chém, Bồ-tát này không khởi tâm giận dữ dù chỉ một niệm. Bồ-tát phải tu hai thứ nhẫn.

Một là không khởi tâm oán giận đối với bất cứ chúng sanh nào đến mắng chửi đánh đập đâm chém.

Hai là tất cả pháp không sanh.

Bồ-tát tu nhẫn như vậy, nếu có người đến mắng chửi, đánh đập, bèn suy nghĩ: ai mắng, ai chê, ai chửi, ai đánh đập? Ai là người nhận chịu? Bồ-tát phải suy nghĩ thật tánh của các pháp là rốt ráo Không, không có pháp, không có chúng sanh. Các pháp còn bất khả đắc huống gì chúng sanh. Lúc quán tưởng các pháp như vậy, Bồ-tát chẳng thấy có người mắng chửi, chẳng thấy có người đánh đập. Khi Bồ-tát quán tướng các pháp như vậy liền được vô sanh pháp nhẫn.

Sao gọi là vô sanh pháp nhẫn? Biết tướng các pháp thường không sanh, các phiền não từ xưa đến nay cũng thường không sanh. An trụ trong hai nhẫn ấy thì có thể đầy đủ bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn niệm xứ, ba môn giải thoát, mười trí lực, bốn vô úy, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cọng, đại từ đại bi…

Này Tu-bồ-đề! Ở trong pháp vô tướng, vô tác, vô đắc, đầy đủ Nhẫn nhục ba-la-mật như vậy” (Phẩm Nhất niệm thứ 76).

Thực hành sáu ba-la-mật trong tánh Không như vậy, thì sáu ba-la-mật thành “Sáu ba-la-mật vô tướng”, nghĩa là giải thoát ngay khi hành (Phẩm Lục dụ thứ 77).

Bốn nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự là hoạt động do lòng bi của Bồ-tát cho chúng sanh. Bốn nhiếp pháp, như tất cả mọi hoạt động khác của Bồ-tát, được nối kết với trí huệ tánh Không. Ở đây chúng ta trích một đoạn về bố thí pháp:

“Đức Phật dạy: Này Tu-bồ-đề, vì thế nên phải biết, Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật, vì chúng sanh mà thuyết pháp một cách thích hợp, đem chúng sanh ra khỏi điên đảo, khiến chúng sanh được vào chỗ nên an trụ, vì pháp thì không trói không mở. Vì sao thế? Vì sắc không trói không mở, thọ tưởng hành thức không trói không mở. Sắc không trói không mở thì chẳng phải sắc, thọ tưởng hành thức không trói không mở thì chẳng phải thọ tưởng hành thức. Vì sao thế? Vì sắc rốt ráo thanh tịnh, thọ tưởng hành thức cho đến hết thảy pháp, hoặc hữu vi hoặc vô vi, cũng đều rốt ráo thanh tịnh.

Như vậy, Bồ-tát vì chúng sanh thuyết pháp cũng không thủ đắc tướng chúng sanh và tất cả pháp, vì tất cả pháp bất khả đắc vậy. Bồ-tát không trụ nên trụ trong thật tướng của các pháp, đó là sắc Không cho đến hữu vi vô vi pháp Không.

Tại sao thế? Vì sắc cho đến hữu vi vô vi pháp, tự tánh bất khả đắc nên không có chỗ an trụ. Pháp vô sở hữu chẳng trụ pháp vô sở hữu. Tự tánh pháp không trụ trong tự tánh pháp, tha tánh pháp không trụ trong tha tánh pháp. Vì sao? Vì tất cả pháp đều bất khả đắc. Pháp bất khả đắc thì an trụ chỗ nào?

Như vậy, này Tu-bồ-đề! Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật do các pháp Không mà có thể thuyết pháp như vậy. Hành Bát-nhã ba-la-mật như thế, với chư Phật, chư Thanh văn, Độc giác Phật không có lỗi. Vì sao thế? Chư Phật, chư Bồ-tát, Độc giác Phật được pháp này rồi, vì chúng sanh thuyết pháp mà chẳng hề chuyển đổi thật tướng của các pháp. Vì Như, pháp tánh, thật tế không thể chuyển đổi. Tại sao thế? Vì các pháp không có tánh vậy” (Phẩm Tứ nhiếp pháp thứ 78).

Nhờ hành sáu ba-la-mật vô tướng, tất cả các Bồ-tát hạnh vô tướng mà Bồ-tát có thể “độ thoát hết chúng sanh mà không có dẫu chỉ một người được vào Niết-bàn”.

“Đức Phật nói: Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát nên sanh tâm như vầy: Ở trong vô lượng đời sanh tử, tôi sẽ đại thệ trang nghiêm. Tôi sẽ xả bỏ mọi sở hữu, tôi phải ở trong tâm bình đẳng với tất cả chúng sanh, tôi phải dùng ba thừa độ thoát tất cả chúng sanh, khiến tất cả họ vào Niết-bàn vô dư. Nhưng độ hết chúng sanh rồi mà không có dẫu chỉ một người vào Niết-bàn. Tôi phải hiểu rõ tướng bất sanh của tất cả các pháp, tôi phải thuần dùng tâm Nhất thiết chủng trí để thực hành sáu ba-la-mật, tôi phải học trí huệ thấu suốt tất cả pháp, tôi phải thông đạt trí huệ tất cả các pháp là Một tướng, tôi phải thông đạt đến trí huệ rõ suốt vô lượng tướng của các pháp.

Đây gọi là đại Bồ-tát phát sanh đại tâm không thể hư hoại như kim cương. An trụ trong đại tâm này, đại Bồ-tát là bậc thượng thủ trong quyết định chúng. Vì pháp dụng đây vô sở đắc vậy” (Phẩm Kim cương thứ 13).

Chính vì “pháp dụng vô tướng, vô sở đắc” cho nên lòng bi trở thành vô biên, mà người xưa nói là “đồng thể đại bi”.

Nếu không kết hợp với trí huệ tánh Không, lòng bi dễ thành “lòng bi ái kiến”, nói theo kinh Duy Ma Cật. Lòng bi ái kiến là lòng bi mà có nhiễm sự yêu thích ràng buộc vào sắc thọ tưởng hành thức của các đối tượng. Và khi đã có yêu thích thì phải có cái không yêu thích, cái chán ghét.

Phẩm Văn Thù thăm bệnhnói: “Nếu đối với chúng sanh mà khởi lên lòng bi ái kiến thì đối với sanh tử tái sanh có lòng chán mệt. Như Đức Phật có nói: Nếu tự mình bị trói buộc mà giải thoát cho sự trói buộc của người khác, chuyện ấy không thể có. Nếu tự mình không bị trói buộc mà giải thoát cho sự bị trói buộc của người khác, chuyện ấy có thể được”.

Một lần nữa, chúng ta trích một đoạn kinh nói về lòng bi độ hết chúng sanh nhưng lòng bi ấy kết hợp với trí huệ tánh Không, nên tuy làm công việc độ thoát chúng sanh nhưng vẫn thấy sắc thọ tưởng hành thức của mình và người đều là tánh Không:

“Ngài Tu-bồ-đề nói với các thiên tử: Chư đại Bồ-tát đối với các pháp bình đẳng, không thủ chứng bậc Thanh văn, Độc giác Phật thì vẫn chưa là khó. Chư đại Bồ-tát đại trang nghiêm với thệ nguyện rằng: Tôi sẽ độ vô lượng vô biên vô số chúng sanh. Biết chúng sanh rốt ráo bất khả đắc mà độ chúng sanh, đây mới là khó.

Này các thiên tử! Đại Bồ-tát phát tâm Vô thượng Bồ-đề nguyện rằng: Tôi sẽ độ hết chúng sanh. Chúng sanh thật không thể có được mà vị ấy muốn độ chẳng khác nào muốn độ hư không. Tại sao thế? Vì hư không lìa tướng, phải biết chúng sanh cũng lìa tướng. Vì hư không là Không, phải biết chúng sanh cũng là Không. Vì hư không không kiên cố phải biết chúng sanh cũng không kiên cố. Vì hư không hư huyễn phải biết chúng sanh cũng hư huyễn. Vì thế nên biết việc Bồ-tát làm là khó. Vì lợi lạc cho chúng sanh bất khả đắc mà đại trang nghiêm. Vị ấy cam kết thệ nguyện vì chúng sanh tức là muốn tranh đấu cùng hư không. Bồ-tát này cam kết thệ nguyện rồi cũng không thấy có chúng sanh mà vẫn vì chúng sanh cam kết thệ nguyện.

Vì sao thế? Vì chúng sanh lìa tướng nên biết đại thệ nguyện cũng lìa tướng. Vì chúng sanh hư huyễn nên biết đại thệ nguyện cũng hư huyễn. Nếu đại Bồ-tát nghe pháp như vậy tâm không sợ, không nghi, nên biết đại Bồ-tát ấy tu Bát-nhã ba-la-mật. Vì sao thế? Vì sắc lìa tướng tức chúng sanh lìa tướng, thọ tưởng hành thức lìa tướng tức chúng sanh lìa tướng. Sắc thọ tưởng hành thức lìa tướng tức là Sáu ba-la-mật lìa tướng. Cho đến Nhất thiết chủng trí lìa tướng tức là sáu ba-la-mật lìa tướng. Nếu nghe tất cả pháp lìa tướng như vậy mà tâm chẳng sợ, chẳng nghi, chẳng mê mờ, phải biết đó là đại Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật” (Phẩm Độ không thứ 65).

Đại bi là cái phân biệt hai con đường, con đường Thanh văn, Độc giác Phật và con đường Bồ-tát, mặc dầu cả hai đều thực hành Bát-nhã ba-la-mật thấu đạt tánh Không:

“Những thiện nam tử thiện nữ nhân muốn học bậc Thanh văn cũng phải nghe Bát-nhã ba-la-mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, thực hành. Người muốn học Độc giác Phật cũng phải nghe Bát-nhã ba-la-mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, thực hành. Người muốn học bậc Bồ-tát cũng phải nghe Bát-nhã ba-la-mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, thực hành.

Tại sao vậy? Vì trong Bát-nhã ba-la-mật nói rộng về ba thừa, nên Bồ-tát, Thanh văn, Độc giác Phật đều phải học” (Phẩm Khuyến học thứ 8).

Sự khác biệt của Bồ-tát so với Thanh văn, Độc giác Phật là lòng đại bi, “cam kết thệ nguyện độ thoát vô lượng vô biên vô số chúng sanh”. Công việc ấy trải qua vô lượng vô biên vô số đời, như trong kinh Phổ Hiền hạnh nguyện, Bồ-tát Phổ Hiền nói: “Cho đến thế giới, hư không tận. Chúng sanh và nghiệp, phiền não tận. Trong tất cả vô tận thời gian. Nguyện này rốt ráo hằng vô tận”.

Bồ-tát thừa khác với Thanh văn thừa, Độc giác thừa ở chỗ vì đại bi đại nguyện, mặc dầu có thể nhập Niết-bàn ở đệ thất địa và đệ bát địa, Bồ-tát vẫn tiếp tục con đường vì chúng sanh cho đến khi thành Phật. Điều này chúng ta có thể tham khảo ở phẩm Thập địa kinh Hoa Nghiêm.

Với kinh Đại Bát Nhã, điều này được gọi là “học Không bất chứng”:

“Lúc an trụ trong pháp Không, đại Bồ-tát tự nghĩ nay là lúc tôi học chứ chẳng phải là lúc chứng”.

“Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát phải nghĩ rằng nay là lúc tôi học Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật chứ chẳng phải là lúc chứng, là lúc tôi tu bốn niệm xứ chứ chẳng phải là lúc chứng, là lúc tu ba tam muội Không, Vô tướng, Vô tác chứ chẳng phải là lúc chứng, cho đến là lúc tôi học Nhất thiết chủng trí chứ chẳng phải là lúc chứng quả A-la-hán và Độc giác Phật…

Đại Bồ-tát nghĩ rằng tôi chẳng nên rời bỏ tất cả chúng sanh. Tất cả chúng sanh chìm đắm trong cái hoàn toàn không có gì, mãi đi trong bóng tối của cái tôi và cái của tôi, tôi phải độ thoát họ. Bấy giờ Bồ-tát hành ba môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô tác mà chẳng chứng lấy thật tế (Niết-bàn). Vì chẳng chứng nên chẳng sa vào bậc Thanh văn và Độc giác Phật. Vì có sức phương tiện nên Bồ-tát này thường tăng ích pháp lành, căn trí thông lợi hơn căn trí của bậc A-la-hán, Độc Giác Phật” (Phẩm Học Không bất chứng thứ 60).

Đại bi chính là một cánh, cánh kia là trí huệ Bát-nhã, để Bồ-tát đủ hai cánh bay trong tánh Không mà chẳng chứng nhập tánh Không, chẳng rơi rớt xuống sanh tử mà cũng chẳng tan biến vào Niết-bàn. Nhờ đôi cánh đại bi và trí huệ, Bồ-tát làm việc khó làm: bay giữa sanh tử và Niết-bàn, giữa sự không lấy cũng không bỏ việc giải thoát cho chính mình và giải thoát cho chúng sanh:

“Này Tu-bồ-đề! Cũng vậy, đại Bồ-tát ở giữa tất cả chúng sanh với tâm từ bi hỷ xả tràn đầy cùng khắp. Khi ấy đại Bồ-tát an trụ trong bốn tâm vô lượng, đầy đủ sáu ba-la-mật, chẳng chứng lấy quả vô lậu, học Nhất thiết chủng trí, vào ba giải thoát môn Không, Vô tướng, Vô tác. Bấy giờ Bồ-tát chẳng duyên theo tất cả các tướng cũng chẳng chứng tam muội Vô tướng. Vì chẳng chứng tam muội Vô tướng nên chẳng sa vào các bậc Thanh văn và Độc giác Phật.

Này Tu-bồ-đề! Ví như chim có đủ hai cánh bay lượn trong hư không chẳng bị rơi rớt, dầu chim ở trong hư không mà cũng chẳng an trụ trong hư không (Phẩm Học Không bất chứng thứ 60).

(Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 169)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/11/202107:50(Xem: 691)
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tại và tác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1] Lý tính duyên khởi được nhận thức trên hai trình độ khác nhau. Trong trình độ thông tục của nhận thức thường nghiệm, quan hệ duyên khởi là quan hệ nhân quả. Chân lý của thực tại trong trình độ này được gọi là tục đế, nó có tính quy ước, lệ thuộc mô hình cấu trúc của các căn hay quan năng nhận thức. Nhận thức về sự vật và môi trường chung quanh chắc chắn loài người không giống loài vật. Trong loài người, bối cảnh thiên nhiên và xã hội tạo thành những truyền thống tư duy khác nhau, rồi những dị biệt này dẫn đến chiến tranh tôn giáo.
01/01/202109:18(Xem: 96192)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 1,200 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức
14/11/202120:16(Xem: 330)
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn ngự tại xứ Sāvatthi, gần đến ngày an cư nhập hạ suốt ba tháng trong mùa mưa, chư Tỳ khưu từ mọi nơi đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin Ngài truyền dạy đề mục thiền định, đối tượng thiền tuệ thích hợp với bản tánh của mỗi Tỳ khưu. Khi ấy, có nhóm năm trăm (500) Tỳ khưu, sau khi thọ giáo đề mục thiền định xong, dẫn nhau đến khu rừng núi thuộc dãy núi Himavantu, nơi ấy có cây cối xanh tươi, có nguồn nước trong lành, không gần cũng không xa xóm làng, chư Tỳ khưu ấy nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, chư Tỳ khưu ấy dẫn nhau vào xóm làng để khất thực, dân chúng vùng này khoảng một ngàn (1.000) gia đình, khi nhìn thấy đông đảo chư Tỳ khưu, họ vô cùng hoan hỉ, bởi vì những gia đình sống nơi vùng hẻo lánh này khó thấy, khó gặp được chư Tỳ khưu. Họ hoan hỉ làm phước, dâng cúng vật thực đến chư Tỳ khưu xong, bèn bạch rằng: – Kính bạch chư Đại Đức Tăng, tất cả chúng con kính thỉnh quý Ngài an cư nhập hạ suốt ba tháng mùa mưa tại nơi vùng này, để cho tất cả chúng con có
13/11/202120:37(Xem: 166)
“Bát Thánh Đạo” là phương pháp tu hành chơn chánh cao thượng đúng theo qui tắc Phật giáo mà đức Thế Tôn đã có lời ngợi khen là quí trọng hơn tất cả con đường tu hành, là con đường không thẳng cũng không dùn, không tham vui cũng không khắc khổ, vừa thành tựu các điều lợi ích đầy đủ đến hành giả, hiệp theo trình độ của mọi người. Cho nên cũng gọi là “TRUNG ĐẠO” (Majjhimapaṭipadā) là con đường giữa. Ví như đàn mà người lên dây vừa thẳng, khải nghe tiếng thanh tao, làm cho thính giả nghe đều thỏa thích. Vì thế, khi hành giả đã thực hành đầy đủ theo “pháp trung đạo” thì sẽ đạt đến bậc tối thượng hoặc chứng đạo quả trong Phật pháp không sai. Nếu duyên phần chưa đến kỳ, cũng được điều lợi ích là sự yên vui xác thật trong thân tâm, từ kiếp hiện tại và kết được duyên lành trong các kiếp vị lai. Tôi soạn, dịch pháp “Bát Thánh Đạo” này để giúp ích cho hàng Phật tử nương nhờ trau dồi trí nhớ và sự biết mình. Những hành giả đã có lòng chán nản trong sự luân hồi, muốn dứt trừ phiền não, để
08/11/202104:25(Xem: 371)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
07/11/202118:59(Xem: 344)
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói “vô lượng pháp từ một pháp mà sinh ra”. Ma Ha Chỉ Quán của Thiên Thai Trí Giả (538-597), quyển 5, nói: “Phật bảo các Tỳ-kheo, một pháp thâu nhiếp tất cả pháp, chính là Tâm”. Phổ môn là vô lượng giáo pháp. Vô lượng giáo pháp này cũng từ một giáo pháp mà sinh ra. Một giáo pháp phổ cập tất cả gọi là phổ môn. Chư Phật thuyết giáo thuận theo Tâm của chúng sinh. Giáo là những ngôn từ được thuyết ra cho những chúng sinh chưa thấu suốt. Pháp là những phương thức với nhiều tướng trạng giống nhau hoặc khác nhau. Tâm ý chúng sinh có bao nhiêu ngõ ngách thì giáo pháp có chừng ấy quanh co. Chư Phật dùng muôn vàn phương tiện khế cơ mang lại lợi ích cho chúng sinh. Ngài Xá Lợi Phất từng nói: “Phật dùng nhiều thứ nhân duyên và thí dụ, phương tiện ngôn thuyết như biển rộng khiến tâm người trong pháp hội được yên ổn, con nghe pháp ấy khiến lưới nghi dứt” là nghĩa trên vậy.
05/09/202110:22(Xem: 1687)
Bắt đầu gặp nhau trong nhà Đạo, người quy-y và người hướng-dẫn biết hỏi và biết tặng món quà pháp-vị gì cho hợp? Thực vậy, kinh sách man-mác, giáo-lý cao-siêu, danh-từ khúc-mắc, nghi-thức tụng-niệm quá nhiều – nghiêng nặng về cầu-siêu, cầu-an – không biết xem gì, tụng gì và nhất là nhiều người không có hoàn-cảnh, thỉnh đủ. Giải-đáp thực-trạng phân-vân trên, giúp người Phật-tử hiểu qua những điểm chính trong giáo-lý, biết qua sự nghiệp người xưa, công việc hiện nay và biết đặt mình vào sự rèn-luyện thân-tâm trong khuôn-khổ giác-ngộ và xử-thế, tôi biên-soạn cuốn sách nhỏ này. Cuốn sách nhỏ này không có kỳ-vọng cao xa, nó chỉ ứng theo nhu-cầu cần-thiết, mong giúp một số vốn tối-thiểu cho người mới vào Đạo muốn tiến trên đường tu-học thực-sự. Viết tại Sài-thành mùa Đông năm Mậu-tuất (1958) Thích-Tâm-Châu
01/09/202118:55(Xem: 1126)
Với sự xuất hiện của virus SARS-CoV2 ở Vũ Hán - Trung quốc cuối năm 2019, và tiếp theo sau là sự lây lan rộng khắp thành một đại dịch toàn cầu, các tổ chức Phật giáo đã ra tay hành động khắp nơi trên thế giới. Đáp ứng của Phật giáo rất đa dạng, phản ảnh sự khác biệt giữa các tông phái và các nền văn hóa, tuy nhiên họ đã hội tụ quanh những chủ đề chung theo những tiền lệ đã được ghi sâu trong lịch sử. Một ví dụ về sáng kiến gần đây là dự án “ Làm Phẳng Đường Cong” do Hội Từ Tế ( Tzu Chi Foundation ) Chi Nhánh Hoa Kỳ công bố - đây là một Tổ chức nhân đạo Phật giáo khổng lồ đặt trụ sở trung ương tại Đài-loan, có trên 10 triệu hội viên và 45 chi nhánh khắp thế giới. Trong một thông cáo báo chí vào đầu tháng 4 , Hội Từ Tế Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ phân phối hằng triệu khẩu trang và dụng cụ y tế cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu, và khởi động một chương trình hỗ trợ cho những người chịu tác động của đại dịch về mặt kinh tế xã hội. Những sáng kiến ấy ở Hoa kỳ bổ sung cho
22/08/202121:31(Xem: 438)
Đây là bài thứ 4 và cũng là bài sau cùng trích dẫn một số câu liên quan đến giáo lý của Đức Phật. Bài 4 này gồm tất cả 80 câu được chọn lọc từ một bài gồm 265 câu trên một trang mạng tiếng Pháp : https://www.evolution-101.com/citations-de-bouddha/. Các câu này chủ yếu được rút tỉa từ kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú) và các kinh trong phẩm thứ tư của Tam Tạng Kinh là Anguttara Nikaya (Tăng chi hay Tăng nhất bộ kinh)
24/06/202117:33(Xem: 739)
Lòng Từ bi là một giá trị phổ quát. Tranh đấu cho công bằng xã hội – nghĩa là bảo đảm quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người – thường xuất phát từ sự phẫn nộ, thúc đẩy con người chống lại những bất công có hệ thống. Tôi tin rằng đấu tranh cho công bằng xã hội sẽ có hiệu quả tốt nhất nếu được kích hoạt bởi lòng từ bi. Nếu động lực đấu tranh cho công bằng xã hội của chúng ta là do lòng từ bi đích thực, chúng ta sẽ được tiếp thêm năng lượng để hoạt động tích cực hơn nhằm bảo đảm cho tất cả mọi người có được một phẩm chất đời sống xứng đáng. Tôi tin rằng nữ giới có thể đóng một vai trò đặc biệt trong việc đấu tranh cho công bằng xã hội bằng cách tu tập lòng từ bi và trí tuệ.