Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phụ lục: Một số tác phẩm khác của Viên Ngoại Nguyễn Khắc Nhân

02/04/201320:55(Xem: 6069)
Phụ lục: Một số tác phẩm khác của Viên Ngoại Nguyễn Khắc Nhân
Vườn Thơ Viên Ngoại

Phụ Lục: Một Số Tác Phẩm Khác Của Viên Ngoại Nguyễn Khắc Nhân

Viên Ngoại Nguyễn Khắc Nhân
Nguồn: Viên Ngoại Nguyễn Khắc Nhân

Đại lễ Vu Lan

T vuon tho vien ngoairung tuần tháng Bảy tiết Vu Lan
Tịnh độ cầu siêu tất phải toan
Trả nghĩa Cù lao sâu tựa biển
Đền công Sinh dưỡng nặng tây san
Quạt nồng ấp lạnh lòng ghi nhớ
Đinh tinh thần hôn dạ vẫn mang
Sám hối những mong nhờ lượng Phật
Cho hồn mát mẻ cõi Tây phang.


KHÓC HOÀNG CÚC

Đầu Thu Cúc nở hoa vàng
Giữa Xuân nhị héo hoa tàn hỡi ôi!
Thương Em từ giã cõi đời
Thi ca để lại cho người sau xem:
Khóc: Chiều Xuân lơ lững mây hàng
Bạn trăm năm đã vội vàng lên tiên,

Kể từ độ xe duyên tần tấn
Chữ Xướng tùy trong ấm ngoài êm,
Gia đình ngày một hơn lên
Trai hiền, gái thảo, nhà thêm phú hào
Chữ Giai lão, đem vào hạnh phúc
Tranh Tam đa càng lúc càng cao
Tạc thù vui chén rượu đào,
Dưới thềm con cháu ra vào bái niên,

Bỗng một chốc Bà lên cõi thọ
Cả gia đình nhớn nhỏ đều thương
Già này, nhiều nỗi vấn vương
Chăn Loan để lạnh phòng hương để sầu,
Nọ Thơ túi, rượu bầu, còn đó,
Bà vội đi vào ngõ hư không

Bỗng dưng rẽ phượng chia hồng
Ông Xanh sao quá cay nồng thế ư,
Khóc Bà nhìn tập thư những ngẩn
Tìm Bà buồn bóng lẩn trong gương
Tình chồng, nghĩa vợ, vấn vương,
Kể dư trăm thảm ngàn thương hết nào

Nay Bà đã tìm đào Vương Mẫu
Cha con tôi lòng dẫu nhớ thương
Hoàng hôn hiềm lúc vô thương
Thôi đành mặc giấc Hoàng lương cho dài
Thương ôi!

Thái Hanh
Mồng 10 tháng 2 Âm Lịch, Kỷ Sửu 2009


Kỷ Niệm Nguyễn Du

Ai người đọc Tân Thanh
Đều nhớ đến Tiên Sinh
Một nhân vật Thời đại
Một cây bút Tài tình

Lưu lại cho hậu duệ
Ngàn đời với sử xanh
Phong tao cùng tập quán
Đoạn trường đủ ngọn ngành

Mười lăm năm lưu lạc
Cho vào bậc bố kinh
Nếu không có chàng Thúc
Quan Âm, có ai rình,

Chuông khánh không đeo đuổi
Chiêu ẩn cứ tu hành
Bạc Bà không sang lễ
Châu Thai đâu, xuôi mành

Bể rộng, sông vẫn dài
Râu hầm không nghe tiếng
Tri kỷ biết cùng ai
Cũng tại Trời xui khiến


Ân oán cả hai bên
Đoạn Trường đều rũ sạch
Mon men gốc tử phần
E dè chiếc thuyền bách

Vườn Thúy Kim Trọng sang
Vách mưa, đã tơi tả
Trước sau, vắng bóng người
Lân bang vội qua ngả

Kể rõ truyện đầu đuôi
Nghe tin rụng rời cả
Tỏ đường mới tìm sang
Khóc than càng vật vã

Đón mời nhà Viên sang
Thần hôn cùng định tỉnh
Dưỡng sinh thay lòng Nàng
Nàng Vân thật ngộ nghĩnh,

Chế khoa vừa ban tới
Vương Kim dự bảng xuân
Cả hai cùng vinh hiển
Phó quan lại tới gần

Thúy Vân đêm nằm mộng
Nàng Kiều xưa phong trần
Việc này Đô lại biết
Sau trước sẽ kể dần

Nam Bình Kim phó nhậm
Vương Quan tới Hoài thành
Hàng Châu cũng tiện lối
Sông Tiền hay tin nhanh

Giác Duyên qua thấy vậy
Người còn sao không hay
Can gì than khóc vậy
Nàng Kiều ở gần đây

Nghe tin thật ngơ ngác
Mừng nào quá mừng này
Một nhà cùng xum họp
Bĩ rồi, thái tới ngay

Tiên Điền chép truyện lạ
Nôm na thế mà hay
Đọc Kiều tưởng nhớ đến
Muôn ngàn đời còn đây

Hôm nay buổi đẹp trời
Ly nước, chén nhang lòng
Tưởng nhớ Người đã khuất
Mong Người hãy cảm thông.

Thái Hanh
( Trích trong Gợi Lại Khúc Đoạn Trường)
Giải Văn học năm 2005 tại Victoria - Melbourne
Giải Cao niên xuất sắc 2008 tại Úc Quốc)

HOÀNG CÚC DẶN CON

Bác mẹ năm nay tuổi đã già
Răng long gối mỏi mắt thì hoa
Cơm ngày hai bữa không lo đói
Áo mặc ba manh chẳng rét mà
Kinh kệ ngày thường vài lượt đọc
Thuốc thang sớm tối vẫn bầy ra
Dặn con con hãy lo chăm học
Đừng để ô danh đến Họ nhà



Hoàng Cúc
Úc Châu 2008


ĐÔNG BUỒN

Vui gì khí hậu của ngày đông
Gió lạnh mưa phùn thấy chán không
Tuyết trắng bên đồi vừa phủ kín
Tùng xanh dẩu núi vẫn đua bông
Chiếc lò chống rét phà hơi ấm
Mảnh áo chờ xuân vẫn phập phồng
Ngày ngắn đêm dài sao thế nhỉ
Chắc là tạo hóa đã phân công.


Thái Hanh
Tam Tự Kinh (Bài 19)

Tô Lão Tuyền, Nhị thập thất, Thủy phát phần,
Độc thư tịch, Bỉ ký lão, Do hối trì,
Nhĩ tiểu sinh, Nghi tảo tư, Nhược lương Hạo,
Bát thập nhị, Đối đại đình, Khôi đa sĩ,
Bỉ ký thành, Chúng sưng dị, Nhĩ tiểu sinh,
Nghi lập chí, Oánh bát tuế, Năng vịnh thi,
Bí thất tuế, Năng phú kỳ, Bỉ dĩnh ngộ,
Nhân xưng kỳ, Nhĩ ấu học, Đang hiệu chi,

蘇 老 泉, 二 十 七, 始 發 憤,
讀 書 籍, 彼 既 老, 猶 悔 遲,
爾 小 生, 宜 早 思, 若 梁 灝,
八 十 二, 對 大 廷, 魁 多 士,
彼 既 成, 眾 稱 异, 爾 小 生,
宜 立 志, 瑩 八 歲, 能 詠 詩,
泌 七 歲, 能 賦 棋, 彼 穎 悟,
人 稱 奇, 爾 幼 學, 當 效 之,


Diễn ca.
Ngày xưa Tuyền Lão họ Tô
Hai mươi bẩy tuổi cơ đồ mới nên
Than rằng mình đã cao niên
Nhưng mà chưa muộn cứ nghiền sách đi
Đừng cho là muôn mà nghi
Đầu xanh tuổi trẻ nghĩ gì hỡi ai
Gắng công đèn sách dùi mài
Bảng vàng bia đá còn ai hơn mình
Đầu xanh tuổi trẻ học hành
Phải nên tự nghĩ vươn mình cho cao
Kìa người Lương Thức làm sao
Tám mươi hai tuổi cẩm bào thấy chưa
Ngày nay lộc nước ơn Vua
Bao ngườii ra gửi vào thưa khen minh
Ta khuyên các bạn hãy nhanh
Gắng công đèn sách lưu danh trên đời
Cậu Oánh tám tuổi trổ tài
Làm thơ làm phú dùi mài sớm hôm
Lý Bí bẩy tuổi nhỏ hơn
Cầm kỳ thi hoạ, trội hơn mọi người
Trông mình đỉnh ngộ trên đời
Tại sao lười học để người mỉa mai
Bây giờ học cũng như ai
Cũng là đúng lúc ngồi nhai chữ vàng



Thái Hanh

Tam Tự Kinh (Bài 20)
Bài 20. Nguyên chữ Hán

Thái văn Cơ, Năng biện cầm, Tạ Đạo Uẩn,
Năng vịnh ngâm, Bỉ nữ tử, Thả thông minh,
Nhĩ Nam tử, Đang thiếu thành, Đường Lưu Yến,
Phương thất tuế, Cử Thần đồng, Tác chính tự,
Bỉ tuy ấu, Thân dĩ sĩ, Nhĩ ấu học,
Miễn nhi chí, Hữu vi giả, diệc nhược thị,
Khuyển thủ dạ, Kê tư thần, Cẩu bất học,
Hạt vi nhân,


蔡 文 姬, 能 辨 琴, 謝 道 韞,
能 詠 吟, 彼 女 子, 且 聰 明,
爾 男 子, 當 少 成, 唐 劉 晏,
方 七 歲, 舉 神 童, 作 正 字,
彼 雖 幼, 身 已 仕, 爾 幼 學,
勉 而 致, 有 為 者, 亦 若 是,
犬 守 夜, 鸂 司 晨, 苟 不 學,
曷 為 人,

Diễn ca.

Đời xưa Nàng Thái Văn Cơ,
Đàn cầm Nàng gảy bài thơ tự tình
Nàng Tạ Đạo Uẩn cũng xinh
Văn thơ phú lục thông minh hơn người
Phấn son mà cũng anh tài
Thông minh hơn cả những ai râu mày
Nam nhi tất phải theo thày
Đầu xanh tuổi trẻ hãy bay lên nào
Đời Đường Lưu Yến tài cao
Mới lên bảy tuổi ôi chao, thần đồng
Tuy rằng tuổi trẻ mà thông
Cũng là học giả làu thông việc đời
Cũng tai cũng mắt như người
Mà sao không học để đời mỉa mai.
Đêm khuya đã chó canh dài
Sáng ngày gà gáy gọi người dậy đi
Vào phòng đọc sách ngâm thi
Siêng năng như thế ai thì chả khen.
Thái Hanh

Tam Tự Kinh (Bài 21)
Bài 21. Nguyên chữ Hán

Tàm thổ ty, Phong nhượng mật, nhân bất học,
Bất như vật, Ấu nhi học, Tráng nhi hành,
Thượng ái quốc, Hạ ích dân, Dương thanh danh
Hiển Phụ Mẫu, Quang ư tiền, Thùy ư hậu,
Nhân di tử, Kim mãn doanh, Ngã giáo tử,
Duy nhất Kinh, Cần hữu công, Hý vô ích,
Giới chi tai, Nghi miễn lực,
Tam Tự Kinh chung.
蠶 吐 絲, 蜂 嚷 蜜, 人 不 學,
不 如 物, 幼 而 學, 壯 而 行,
上 愛 國, 下 益 民, 揚 聲 名,
顯 父 母, 光 於 前, 垂 於 後,
人 遺 子, 金 滿 籯, 我 教 子,
惟 一 經, 勤 有 功, 戲 無 益,
戒 之 哉, 宜 勉 力.
三 自 經 終
泰 亨

Diễn ca.

Tằm kia còn biết nhả tơ
Để người mặc áo khỏi dơ bẩn mà
Ong còn dành mật cho ta
Dùng lấy làm thuốc để mà cứu dân
Nhỏ mà không học thật đần
Không bằng loài vật ai cần nữa đâu
Nhỏ mà theo học mấy câu
Lớn lên giúp ích cho nhau mới là
Trước tiên việc nước sau nhà
Dương danh thân thế Mẹ Cha nở mày
Có người chiều con kiểu này
Cho vàng đầy hũ, chẳng hay theo thày
Còn ta chẳng có gì đây
Chỉ trao một Quyển sách này cho con
Ngày đêm học lấy cho tròn
Thành nhân chi mĩ lại còn vẻ vang
Mai sau áo gấm về làng
Mẹ cha mừng rỡ, dân làng ra coi
Con Hồng cháu Lạc đúng rồi,
Vua ban áo mão, cấp hồi vinh quy,
Người đời coi đấy mà suy
Đầu giường gối sách, học đi là vừa.
Tam Tự Kinh Chung
Thái Hanh soạn năm Kỷ Sửu, (2009)
tháng Chín ngày mồng Một, tiết Lập Xuân
Nguyễn Khắc Nhân
(Giải văn học năm 2005 tại Victoria)


Văn Cúng Nhị Tường


Con cháu cùng Giỗ Mẹ

Tại Tiểu Bang Victoria nước Úc, ngày mồng 8 tháng 2 năm Tân Mão(12-3-2011)

Chúng con:

Nguyễn Khắc Bật vợ và con
Nguyễn Khắc Thiệu vợ và các con cháu
Nguyễn Khắc Thiều vợ và các con
Nguyễn Khắc Hiếu vợ và các con
Nguyễn Thị Minh Nghĩa chồng và con
Nguyễn Thị Minh Phượng chồng và các con
Nguyễn Thị Minh Hà chồng và con
Nguyễn Thị Thu Lan chồng và con
Nguyễn Thị Thu Thảo chồng và con

Thừa lênh Phụ thân nhân ngày Nhị Tường thân mẫu chúng con là Bà Trần Thị Loan Húy Khê pháp danh Diệu Hoàng bút hiệu thi văn Hoàng Cúc,
Nay trước bàn thờ quỳ gối than rằng:

Mây mờ nam cực buồn trông con tạo khéo xoay dần
Biển hóa nương dâu ngẫm lại cuộc đời càng bối rối
Ai làm nên nỗi mưa thảm gió sầu
Ai xui cản sao dời vật đổi
Vốn xưa một nhà sum họp hàng ngày đi gửi về thưa
Bây giờ hai ngả âm dương luống những than thầm khóc tủi,

Nay nhân:

Ngày Nhị Tường đã đến lệ cổ có thường,
Tang phục chưa trừ lễ nhà theo thói
Chữ cù lao nghĩ lại xót xa
Câu cúc dục càng bối rối,
Than thở nỗi công ơn chưa chút báo, kẻ còn người khuất
Hai hàng lệ chảy khôn lau,
Ngao ngán thay thân thể đã xa dời, cho nên than ngắn thở dài, chín khúc ruột tầm càng sốc nổi,
Ngậm ngùi đã trải mấy thu đông
Buồn bã đã bao lần sớm tối,
Nhà bần bạc lấy chi trả nghĩa, gọi là lưng cơm bạc nén nhang trầm, cúi dâng chén rượu hiến ba tuần,
Chốn U Minh hồn Mẹ có thấu tình, ngày nay chúng con lễ bạc lòng thành, văn khấn vài hàng gởi về chin suối.( Gia lễ)

Chúc Hy hâm:

Trông lên nghi ngút khói trầm
Lòng con trăm mối tơ tầm ngổn ngang
Âm dương cách trở đôi đàng
Khiến con đau sót can tràng Mẹ ôi!
Nhị Tường lệ đã đủ rồi
Mà lòng con vẫn bùi ngùi nhớ thương
Lệ còn chưa ráo hai hàng
Xin Mẹ dùng cạn chén vàng hy hâm,
Công ơn nuôi dạy ngàn tầm
Non cao chưa dễ thấm phần này đây
Nhớ khi những buổi sáng ngày
Dâng cơm dâng sữa từ rày còn đâu
Bây giờ bóng ngả cành dâu
Trông lên hình Mẹ càng đau dạ này
Mẹ ơi! Mẹ hỡi có hay
Độ con khỏe mạnh hàng ngày thảnh thơi
Dù cho vật đổi sao dời
Lửa hương thờ phụng đời đời dám quên.

Chúng con kính cẩn lạy tạ Mẹ

NGÀY VỀ THĂM QUÊ
Ngày đi tuổi hãy còn xuân
Trở về đầu đã hoa râm lúc nào
Xa nhà cũng chửa là bao
Bạn xưa quen biết đã cao tuổi rồi
Gặp tôi bọn trẻ mỉm cười
Hỏi rằng ông ở nước ngoài lại chơi
Tiếng chào nghe đúng quê tôi
Mà sao lạ hoắc khác tôi bộ đồ.


Thái Hanh
http://www.tongphuochiep.org
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn