Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Giáo & Thời Đại


...... ... .

 

 

Ngược Dòng
 
Nguyên tác Anh Ngữ: Against the Stream

Tác giả: Beachcomber (Abhinyana)
Việt dịch: Minh Thiện
(       )

–-o0o–-

 

Trang i. Ngược dòng thời gian năm 1984, tôi viết quyển sách đầu tiên ‘Chìa Khóa cho người Tỵ Nạn’ dành cho những người tỵ nạn Đông Nam Á, giúp họ giữ vững niềm tin và hiểu biết tường tận hơn về tôn giáo của mình để đối đầu với các hành động có hậu ý của các nhà truyền giáo Ki tô muốn họ cải đạo. Sau đó vài năm, tôi viết thêm vài mục với lời tựa mới là ‘Thực Tiễn’. Bây giờ sau 10 năm, quyển sách lại được ‘tái sanh’ lần thứ ba với tựa mới ‘Kẻ Sống Lang Thang trên Bờ Biển’. Tôi đã thay tên mới, tên mà tôi cảm thấy thích hợp hơn cả. Từ trước đến nay, tôi luôn thích đi bộ dọc theo bờ biển nhìn sóng biển đưa vào đủ thứ thập vật: vỏ sò, đá cuội, gỗ mục, v.v.. . Đây là một lối nhìn khác về cuộc sống, mở ra cho thấy những điều không ngờ tới, rút ra được những bài học, tự hỏi ta có thể biến thành hữu dụng, những gì mà người khác cho là vô dụng.

Nói chung, chúng ta là những người may mắn nhất trong lịch sử, những người đang ở trong thời biến hóa không tiền khoáng hậu nầy. Chúng ta giống như đang ở trên triền núi nhìn xuống phía dưới chúng ta với người là người. Trông họ như đàn kiến hay như những hạt cát trên đồng. Chúng ta không biết cũng như không thể biết họ là ai nhưng chúng ta có thể nghĩ được rằng nếu không có họ ở đó từ lâu thì chúng ta cũng không có sự hiện diện ở đây như bây giờ. Sở dĩ ta hiện hữu hôm nay là vì họ đã có từ lâu. Nếu không có sợi dây tương tục đó, ta không thể hiện hữu. 

Tự mình ta khó có thể hoàn thành được gì cả. Và nếu hoàn thành được là nhờ nhân duyên hỗ trợ của vô số kẻ khác, còn sống hay đã chết. Ngay cả ngôn ngữ đã giúp cuộc sống ta phong phú và có ý nghĩa. Nó không phải là của ta mà nó đến từ nhiều người khác. Không một cái gì có thể cho rằng là của riêng ta. Ta hiện hữu là hiện hữu với tập thể, nó là một phần của cái gì đó to lớn hơn mỗi cá nhân ta.

Trang ii. Do sự thấy được có rất nhiều người ở phía dưới giúp ta nhận thức rằng ta còn nợ rất nhiều người. Nhìn lên trên ta thấy đỉnh núi còn cao lắm, còn mây mù rất khó thấy. Bạn và tôi sẽ khó mà đạt tới đỉnh. Giống như những người đi trước, ta may mắn đạt được một số bước đi trước rồi ta còn phải giúp những kẻ khác theo sau mình. Rồi ta cũng sẽ chết. Nếu sống có mục đích, ta sẽ chết một cách toại nguyện khi biết rằng ta đã hết sức cố gắng giúp người khác leo cao hơn ta. Nếu ta nghĩ đến mình một cách riêng rẽ, tách rời thì cuộc đời không còn ý nghĩa nữa.

Cái ta đang làm là muốn có một con đường tâm linh tức là sự chủ ý quay lưng lại với các đường lối thế gian, tức (lội) Ngược Dòng, và đây là tựa đề của quyển sách. Đây là cách chọn lựa có ý thức của mình. Đây không phải là sự chọn lựa nửa vời. Và cũng không phải là ta ngoảnh mặt làm ngơ với thế sự rồi vào hang động ở như là ẩn sĩ. Ngược lại đó là chúng ta đã quyết định cố gắng giữ giáo pháp của đức Phật là trung tâm của đời sống và chung quanh nó là các hoạt động của mình. Đây không phải là chuyện làm bán thời.

Vài bài ở đây được đổi chút ít từ quyển Thực Tiễn, những bài khác được thêm thắt ít nhiều. Có bài hoàn toàn mới. Cũng có một số lỗi lầm tôi chưa thấy được nhưng cũng có một số lỗi là do sự chủ ý của tôi. Chỉ là để xem có ai nói ra cho tôi biết hay không. Tôi cũng viết bằng chữ nhỏ không phải là để tiết kiệm giấy, mặc dầu nó cũng là một lý do. Mục đính là để người đọc phải cố gắng một chút. Tại sao tôi phải làm vậy mà không làm cho dễ dàng hơn? Tôi xin hỏi tại sao ta phải chìu lòng người lớn với lối cư xử con nít vậy; cưng chìu như vậy có làm hư đốn họ thêm không? Tôi biết có người sẽ than phiền là chữ nhỏ quá. Nếu vậy thì tôi sẽ hỏi họ là khi đọc báo họ phải làm sao?

Trang iii. Nếu lưu tâm muốn đọc, ta vẫn dùng kiến phóng đại để đọc. Và tôi bảo đảm rằng khi có sự lưu tâm đúng mức, bạn sẽ đắc chút ít cái gì sau đó. Tất cả tùy thuộc vào bạn. Mục đích của tôi vẫn là quay bạn trở lại với chính bạn.

                                                               Beachcomber. Mã lai, 1998

 

                                                           * * *

 

                                TIN   THÌ   KHÔNG   THẤY

 

Trang 1. Lòng tin là chính yếu và cần thiết đối với các tôn giáo Hữu thần và dựa vào Thượng đế; không có ‘lòng tin’, họ sẽ không hiện hữu. Đây là một trong những điểm chính mà đạo Phật (đạo Khổng, đạo Lão) khác với các tôn giáo khác. Vì không dựa vào Thượng đế nên họ không cần có Lòng tin (tuyệt đối).

Tại sao vậy? Bởi vì ta có thể thấy được cho chính ta. Chính ta, nếu luôn cố gắng cầu tiến, nó sẽ dạy ta. Khi ta chỉ cần tin mà thôi thì đầu óc ta đã bị đóng khung rồi. Làm sao ta khám phá ra chân lý được nếu đầu óc ta đã đóng khung sẵn rồi. Ta phải rộng mở, phóng khoáng, không thành kiến và sẵn sàng học hỏi chứ không đóng khung, hẹp hòi và giáo điều.

Đức tin là một chướng ngại cho việc tìm ra chân lý. Chúng ta Tin khi không Biết; đã Biết rồi thì không cần Tin! Thấy là Biết còn chỉ Tin thôi thì không Biết. Tin thì còn thay đổi. Thấy Biết thì không. Chẳng hạn ta biết rằng lửa thì nóng và nước thì ướt; bây giờ cũng vậy, trước đây nó cũng vậy và sẽ luôn luôn như vậy; nó không phải là chuyện để tin.

‘Tin’ buộc ràng đầu óc ta còn chặt hơn dây xích cột chặt thân ta. Hầu hết chúng ta là tù nhân của lòng tin dưới hình thức nầy hay hình thức khác. Ngay cả người có tánh ‘không tin’ cũng là một tù nhân. Chính sự kiện mà họ cho rằng họ không tin cũng chứng minh điều nầy vì ‘Không Tin’ là mặt trái của ‘Tin’. Ta không thể nào Không Tin trừ phi trước đó ta đã Tin. Nếu chúng ta được Thấy sự việc một cách rõ ràng thì chúng ta sẽ bỏ qua một bên sự Tin cũng như sự Không Tin.

Cách đây hàng trăm năm, người châu Âu tin rằng Trái đất của chúng ta là trung tâm vũ trụ cùng với Mặt trời và tất cả những hành tinh quay chung quanh nó giống như những gì mà Giáo hội Cơ đốc đã dạy. Nhưng sau khi quan sát bầu trời qua một viễn vọng kính mới phát minh của mình, khoa học gia người Ý tên là Galileo (1564-1642) khám phá ra rằng nó không phải như vậy mà ngược lại Trái đất quay chung quanh Mặt trời. Khi công bố điều này ra liền có sự phản đối. Giáo hội lúc đó vì quyền lực trùm khắp mọi lãnh vực nên không sẵn sàng chấp nhận sự kiện nầy, bèn đem ông ra tòa. Bị đe dọa bỏ tù hoặc phải chết, Galileo bị buộc ký nhận là mình đã sai lầm. Cũng không bằng lòng, Giáo hội bắt quản thúc cho đến hết đời ông. Đáng lẽ ông phải đoán được điều nầy mà giữ kín về sự khám phá của mình. Nhưng như vậy thì sự thật chắc phải mất một thời gian lâu mới được công bố.

Trang 2. Mãi đến năm 1980, vâng 1980 chứ không phải 1580, một Ủy ban thuộc Giáo hội họp tại La mã để tái cứu xét vị trí Trái đất đối với Thái dương hệ, và sau khi thảo luận đề tài trong nhiều ngày, đồng ý với Khoa học cho rằng Trái đất quay chung quanh Mặt trời, và vì thế Galileo mới được cho là đúng! Rồi đến năm 1983, Giáo Hoàng John-Paul II chủ tọa một buổi họp gồm các vị quyền cao chức trọng của Giáo hội, các sử gia và khoa học gia, công khai nhận lỗi của Giáo hội và tuyên bố Galileo vô tội. Quả thật là sự mất mặt cho một Giáo hội được xem là không bao giờ sai lại phải mất một thời gian quá lâu để thú nhận lỗi lầm nầy. Cuối cùng, một Galileo đáng thương đã được trắng án. Nhưng phải mất 350 năm kể từ ngày ông chết! Và lương tâm của Giáo hội có một chút nào đó được khuây khỏa! Thế là Chân lý cuối cùng đã thắng nhưng quá trễ đối với Galileo.

Chúng ta đã thích nghi mau lẹ và tuyệt vời với các tiến bộ kỹ thuật vượt bực; chúng ta đã hiện đại hóa và có đầy kỹ năng. Tuy nhiên về phương diện tâm linh thì hầu hết chúng ta khá lạc hậu. Quả thật rất không quân bình. Hạnh phúc chúng ta mong cầu đã thoát khỏi tầm tay mình; chúng ta không hiểu rằng chính phẩm chất tinh thần chứ không phải vật chất mới là quan trọng.

Rất là cần thiết phải quân bình cuộc sống bên ngoài với cuộc sống bên trong; khá nhiều rắc rối vẫn tồn tại vì chúng ta thất bại trong việc quân bình đó. Đời sống ngoại vi, tức mặt kỹ thuật và vật chất, chúng ta đã tiến bộ vượt bực trong vài thế kỷ sau nầy, đặc biệt là thế kỷ nầy. Nhưng về mặt tinh thần thì chúng ta không theo kịp. Quả thật là tinh thần của chúng ta sống trong hang động còn xác thân thì an nghĩ trong nhà cao cửa rộng. Đây là vấn đề.

Trang 3. Nếu chúng ta không thực tế mà loại bỏ bớt sự quá tiện nghi của đời sống thiên về vật chất như hiện nay và vẫn không ‘cập nhật hóa’ cái đầu của mình với ‘chánh kiến’ và ‘chánh mạng’ (tức thấy biết cho đúng và sinh sống sao cho phù hợp với cái thấy biết đó) sao cho việc sống chung với nhau được hòa hợp hơn. Nếu không thể hay không chịu sống như vậy, chúng ta sẽ bị xâu xé giữa hai thế giới: cũ và mới, sơ khai và hiện đại.

Có người trong chúng ta sống với các tìêu chuẩn cũ chỉ có hiệu quả trong quá khứ, từ khước các sản phẩm hiện đại hóa. Điều nầy không được thực tế. Cái ta cần là con đường thực tiễn. Nó sẽ giúp ta sống thích nghi với hiện tại mà không cảm thấy bị xa rời, cô lập. Có Con Đường đó hay không? Muốn tìm ra nó, chúng ta phải xét đến lịch sử và cơ cấu các tôn giáo và các hệ thống triết học, chứ không phải chỉ có ‘tin’ là đủ. Nếu làm được như vậy, ta có thể thấy được một số sự việc chỉ có bề ngoài mà thôi, giống như đề mục giới thiệu phim ảnh, hoặc những gì thích hợp cho loại sách thần thoại và các chuyện thần tiên. Bạn có thể cho chó gặm xương không có thịt trong một thời gian ngắn; chúng gặm đỡ cho vui nhưng không được lâu đâu!

Tôn giáo, qua các thời đại, đã tạm giúp cho qua các nỗi khổ đau của con người và cho niềm hy vọng về một cuộc sống sau khi chết. Nhưng một số tôn giáo chỉ là xương mà không có thịt–nó không được chứng minh rõ ràng, nó chỉ tùy thuộc vào lòng tin. Đạo của bạn là ‘đạo theo’ hay là đạo chính bạn chấp nhận. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình theo Đạo nầy, tại sao mình chọn Đạo nầy; Đạo nầy chỉ có xương mà không có thịt, một bộ xương được lộng kiếng hay đây là Đạo tạo sự sinh động? Hãy thành thật tự hỏi mình mà không chút sợ phiền: ‘‘Tôn giáo tôi cho tôi cái gì?’’ Nó chỉ cho bạn những lời giải thích theo lối mòn xưa cũ và những giáo điều không hợp lý? Nó có cung cấp cho bạn được một thế giới quan phù hợp với các điều kiện hiện tại và thay đổi không ngừng hay không? Nó có giúp tâm bạn được bình an trong một thế giới loạn động có thể dẫn tới diệt vong hay không? Nó có giúp bạn thấy được cái giống nhau trong vô số cái khác nhau không? Nó có giúp bạn cảm thấy một phần của mình trong nhiều phần khác không? Nó có cho bạn một chỗ đứng cùng với sự liên hệ với các thành phần khác không? Nó có cho bạn thấy được sự quan trọng của bạn hay chỉ xoay chuyển bạn phải chịu lệ thuộc vào nó mà không có ý nghĩa?

Trang 4. Khi tất cả những gì họ ném cho bạn là những lời hứa hẹn được cứu rỗi và được lên thiên đàng nếu bạn tin họ (còn nếu không tin thì có những lời đe dọa) ngoài ra không còn gì để thấy mà chỉ là những dấu hiệu của sự phá sản tâm linh. Còn phải mất bao lâu nữa để chúng ta tiếp tục bị lừa dối bởi những người chuyên lừa đảo đóng vai trò người thầy!

Cái cốt lõi của vấn đề là sự Sợ hãi: Chúng ta sợ chết và ngay cả sống cũng sợ. Nếu chúng ta tìm thấy cái ý nghĩa của cuộc sống, nếu cuộc sống của chúng ta không quá nông cạn và rỗng tuếch thế thì chuyện sợ chết hay sợ sống hay cả những gì xảy ra sau khi chết sẽ giảm bớt. Chúng ta không cần nhiều lý do hay động cơ để sống cho hay cho giỏi ngay Bây-giờ và Ở-đây mà cần làm cái gì cần phải làm mà không tham cầu đến kết quả.

Nếu chúng ta chân thật với cuộc đời thì cuộc đời sẽ chân thật với ta. Không có trò chơi nào mà không có luật chơi. Nhận ra luật chơi càng sớm, ta càng có khả năng chơi mà không bị thua mãi.

Nếu xét đến các niềm tin của mình một cách khách quan, chúng ta có thể thấy biết chúng có giá trị hay không. Chấp nhận lời của những người khác hay tin vào những gì được viết ra trong sách thật ra chưa đủ; tại sao ta không cố gắng thêm để tự mình thấy biết cho chính mình? Chúng ta sống trong một thời đại khai sáng (‘enlightened’ chứ không phải ‘ennightened’ thưa quí vị!). Tại sao lại phải bằng lòng với nhãn hiệu ‘con của Phật’, ‘người của Ki tô’, cái nầy cái kia, chỉ vì do cha mẹ ông bà ta đã theo như vậy nên ta theo đạo (hay ‘đạo theo’)? Chúng ta có cuộc đời của riêng chúng ta. Phải có khả năng chọn lựa một hướng đi cho mình. Khi đi sắm hàng, ta chọn những gì mà mình muốn trong vô số đồ vật. Thay vì mua món gì đến trước thì mua ngay. Ngày hôm nay đối với hầu hết mọi người, ta đều có thể học bất cứ cái gì ta muốn; không có kiến thức bí mật nào dành riêng cho nhóm đặc biệt nầy hay nhóm ưu tú nọ; khả năng đọc tuyệt vời sẽ mở ra được cánh cửa của Tòa nhà Kiến thức. Nếu các vấn đề Hạnh phúc và Sự thật thực sự là điều quan trọng với mình thì chắc chắn là chúng ta sẽ tìm thấy ở rất nhiều nơi, và nó không làm cho chúng ta bị đóng khung trong các ý kiến tư tưởng của những người chung quanh mình.

Trang 5. Tin hay không tin chỉ là 2 mặt của một đồng tiền. Chúng đi đôi với nhau không rời nhau, giống như đen và trắng, ngày và đêm; cái nầy ngụ ý cái kia. Chỉ khi nào chúng ta bỏ 2 cái đó qua một bên, chúng ta sẽ có khả năng thấy biết thực sự.

Buồn thay, lừa đảo người dễ hơn khai sáng người? Chỉ có những kẻ lười biếng mới tin những gì người khác nói, và rất dễ bị lừa đảo bởi những người gian manh và vô lương tâm trên thế giới. Có thể họ là những kẻ đi gõ cửa bán hàng từng nhà: chính trị gia, người truyền giáo, hoặc những kẻ thuần túy nói dối và ăn cắp!

Một số niềm tin của nhiều tôn giáo không chịu đựng nỗi với sự khảo sát chặt chẽ và nghiên cứu tận tường, vì nó không được đặt trên căn bản sự thật. Dĩ nhiên là chúng ta có thể giải thích làm sao chỉ cần hợp lý cho mình trong khi nó không chút hợp lý nào cả; chúng ta thích chơi trò ú tim, chơi mãi như vậy đã từ lâu đến độ ta quên đó là trò chơi và xem nó như thiệt, vì vậy bị lạc đường mà không hay. Hoặc chúng ta ngủ, ngủ một giấc rất dài cho đến khi nào có một chuyện gì đó làm đau đớn và khó chịu đến với chúng ta làm phiền giấc mơ của mình rồi lại đưa ta trở lại con đường cũ.

Ít khi nào ta tự thấy với con mắt và cái tâm riêng của mình mà thường qua những người khác: gia đình, bạn bè, lãnh tụ, nhà văn, nhân vật nổi tiếng–đôi khi với con mắt của kẻ thù với mình nữa! Chúng ta chấp nhận các tiêu chuẩn của người khác: họ nói đẹp nói xấu, nói hay nói dở...ta cũng nói theo. Ta rất dễ bị khai dụng và kiểm soát. Nếu chúng ta dùng đôi mắt và tâm riêng của mình, chúng ta có thể biết để tự thấy sự việc rõ ràng hơn và sâu sắc hơn; chúng ta sẽ trở nên thức giác hơn về các môi trường kỳ thú cũng như cái đẹp của chúng. Tự nhìn rồi sẽ thấy khác!

Ở đây tôi không khuyên bạn là không theo quan điểm của tha nhân mà là nên nhìn theo nhiều góc cạnh khác của một sự việc chừng đó chúng ta sẽ có một bức tranh rõ ràng hơn. Không, chúng ta không nên tự cho phép mình bị ảnh hưởng một cách thái quá bởi những người khác trong việc chấp nhận quan điểm của họ mà không xem xét cẩn thận. Chúng ta có khả năng suy nghĩ, phải không các bạn? Đây là yếu tố chính yếu để phân biệt chúng ta với các loài vật cấp thấp chỉ biết sống bằng bản năng và có rất ít sự chọn lựa cách sống riêng cho mình. Chúng ta có thể suy nghĩ, chúng ta có thể chọn lựa và quyết định, chúng ta có thể thay đổi cuộc sống của mình–nếu chúng ta thực sự muốn.

Trang 6. Đa số nghĩ rằng từ bỏ niềm tin là mất tất cả; điều nầy không thể có được. Có thể nào sống mà không cần lòng tin về tái sanh, thiên đàng, v.v... Có thể nào nghe người khác, chẳng hạn như một người truyền giáo, cha, thầy, lãnh tụ...mà không cần vội tin, để sau đó ta có thể khám phá xem những gì họ nói là có thật hay không? Tôi xin nói: ‘‘Vâng, có thể được!’’ Và cũng xin đừng tin tôi vội. Cố gắng đi các bạn. Hãy tự mình tìm hiểu cho mình.

Tại sao lại phải bằng lòng với mấy khúc xương cũ? Hãy đòi hỏi thực tế ngay bây giờ?

                                                   *  *

                             Nếu nó sai, hãy vứt nó đi!

Trang 7. Cách đây nhiều năm, truyền hình Anh quốc có phát thanh một chương trình có tên là Catweazle nói về một người phù thủy từ thời vua Arthur trong thần thoại. Vì một trong những thần chú của người phù thủy nầy bị thất bại, xảy ra không đúng như ý muốn nên ông bị chuyển đổi vào thời thập niên 1960’s. Hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên với những sự việc xảy ra chung quanh ông: bóng đèn điện làm mê hoặc ông mà ông tưởng như ‘mặt trời trong cái chai’; điện thoại viễn liên (chúng ta ngày nay sử dụng thoải mái không phải suy nghĩ tại sao lại có) mà ông gọi là ‘bộ xương biết nói’ (vì quả thật nó giống như bộ xương). Cũng có các sự việc buồn cười khác trong câu chuyện của vị phù thủy nầy nhưng bây giờ thì tôi đã quên.

Giả thử bây giờ chúng ta hãy đem máy truyền hình trở ngược lại 500 năm và trình bày cho con người thời ấy xem: bạn nghĩ là họ sẽ nghĩ sao? Chắc chắn sẽ có người cho rằng đây là trò yêu thuật hay của đám ‘Ma quỉ’ và sẽ cố gắng phá hủy nó. Cũng có kẻ cho đây là phép lạ và biến nó thành một thứ tôn giáo mới với các các giáo sĩ phụ tá điều hành và dùng nó để khuất phục người khác. Lại cũng có người không nhận đây là sự thật mà cho đó là ảo tưởng là trò lừa đảo. Cũng có thêm một loại người sẽ tìm hiểu tại sao quá nhiều người nhiều vật lại tập hợp được hết vào trong một cái hộp nhỏ như vậy. Các phản ứng quả thật là khác nhau. Nhưng liệu có ai hiểu được điều nầy không?

Đến ngày nay thì truyền hình được xem là chuyện quá thường, chẳng ai buồn hỏi tại sao. Thì thấy nó như vậy là như vậy chẳng cần biết là nó đã xuất hiện được bao lâu rồi. Và có mấy ai hiểu được ngay cả việc vận hành của chiếc máy truyền hình! Có người cho đó là dụng cụ của bọn ‘Ma quỉ’ (ngay khi tôi viết các dòng nầy, báo chí đã cho biết nhóm Hồi giáo chính thống kiểm soát chính quyền tại nước A phú hãn tức nhóm Taliban đã ra lệnh cho người dân ở đó hủy bỏ các máy truyền hình và máy chiếu cá nhân trong vòng 15 ngày vì họ cho rằng nó là người gốc của sự mất đạo đức. Có người cho đó là một phép lạ (trong một ý nghĩa nào đó thì quả thật là như vậy). Và như các bạn đã thấy có nhóm dùng nó al2 một thứ tôn giáo. Phần đông mọi người chỉ vặn lên và xem chẳn thắc mắc gì.

Trang 8. Cái ý mà tôi muốn nói ở đây là: dám nhận ra mình dại tức là mình đã khôn hơn ra. Những người có lương tâm-tức những người chân thật muốn tìm ra đâu là sự thật, không bằng lòng theo người khác hoặc phải chấp nhận các thuyết lý đã được trao truyền từ quá khứ- đều can đảm từ bỏ các tư tưởng sai lầm, vô ích và có hại khi họ biết rõ như vậy; họ không hỗ thẹn mà nhận rằng họ không biết khi họ biết chắc rằng họ không biết, vì chính nhờ nhận ra sự vô minh của mình tức có nghĩa là trí tuệ họ đã tăng trưởng. Thật vậy, người ta đã cho là Đức Khổng Tử đã nói: ‘‘Tự nhận rằng mình không biết những gì mình không biết, chính người đó đã biết, đã có trí tuệ; Đức Phật cũng có nói: ‘‘Dại, biết mình là người dại tức là người khôn được một chút rồi đó; kẻ dại mà nghĩ rằng mình khôn tức anh ta là kẻ dại thật!’’

Tại sao Tôn giáo và Khoa học lại cách xa nhau thế? Hễ là Tôn giáo thì phải đầy các điều dị đoan, lễ nghi và các tín điều ngu xuẩn? Có thể nào có một tôn giáo mà nó không mâu thuẫn với Khoa học–-một Tôn giáo có tính cách khoa học hay một Khoa học có tính cách tôn giáo? Chúng ta có thể nào xem xét các sự vật một cách khách quan và đầy khoa học hay không? Các khoa học gia luôn sẵn sàng thay đổi các lý thuyết của họ khi họ thấy không còn áp dụng được nữa; nhờ vậy mà Khoa học đã tiến bộ khá xa và tiếp tục tiến bộ. Nếu Tôn giáo cũng được tinh tấn theo cùng một mức độ như vậy thì chúng ta đã tiến bộ, thế giới sẽ không ở trong tình trạng mờ mịt, mơ hồ. Thực tế là vẫn còn nhiều người ‘sống trong hang’ nếu nói theo nghĩa của tôn giáo, họ không sẵn sàng cũng như không thể cập nhật hóa trong lãnh vực nầy. Vì vậy thế giới hiện này vẫn còn trong tình trạng được gọi là mâu thuẫn ‘tôn giáo’ và chiến tranh, và điều nầy có thể đưa đến sự bùng nổ Thế Chiến Thứ Ba.

Có hai loại Biết (Kiến thức): Loại Biết Trực tiếp và loại Biết Gián tiếp. Hầu hết các loại Biết (Kiến thức) của chúng ta không phải là của chúng ta mà là ‘sản phẩm đã xài rồi’. Chúng đến với ta từ những nguồn như sách vở, truyền hình, người khác, nghe nói v.v...Chúng tuy có ích trong nhiều lãnh vực nhưng chắc chắn không đủ. Ngược lại, chúng ta Biết khá ít từ chính chúng ta. Với những cái Biết Trực tiếp do tự chúng ta khám phá thì không có gì thay thế. Chúng ta phải tự kinh nghiệm lấy với Sự Thật và với Thực Tế, giống như ta có kinh ngiệm với lửa: ta Biết lửa thì nóng và cháy chứ không phải chỉ Tin nó mà thôi.

Trang 9. Biết về máy móc, máy vi tính, nghề mộc, nghề in, v.v...là điều quan trọng vì nó có thể giúp chúng ta không chỉ kiếm ăn sinh sống mà cũng là để cải thiện thế giới chúng ta đang sống. Tuy nhiên đời sống không phải chỉ để kiếm ăn sống còn vì đó là cuộc sống bên ngoài. Còn cuộc sống bên trong nữa thì sao? Chúng ta cũng phải xét đến việc cân bằng hòa hợp giữa 2 mặt đó sao cho nó không mâu thuẫn với nhau. Phương Tây đã tập trung phần lớn và những việc bên ngoài và đã tiến bộ vượt bực trong lãnh vực nầy; nó đã sản xuất ra nhiều thứ có lợi cho toàn thể thế giới nhưng nó cũng đã gây ra nhiều thiệt hại khủng khiếp, như võ khí hoá học và vi trùng, v.v...Nó đã thờ ơ với tinh thần bên trong và chỉ để ý đến vật chất bên ngoài. Vì vậy hiện nay đã có sự mất thăng bằng và khủng hoảng khắp mọi nơi. Chuyện xảy ra như vậy cũng là thường thôi; chúng ta đong đưa từ thái cực nầy sang thái cực khác, giống như quả lắc đồng hồ. Đến một lúc nào đó bất cân xứng không còn hòa hợp và đau khổ thì quả lắc không còn hoạt động nữa.

Thế giới ngày nay đầy những ý tưởng sai lầm và điên rồ. Không có một thực thể hay thực tế nào được gọi là Thế giới; tự chúng ta chế nó ra; nó chỉ là ý tưởng, và ý tưởng thì phải chịu sự thay đổi, thay đổi rất mau! Nếu chúng ta hiểu được điều nầy, ta sẽ có thể thay đổi các ý tưởng sai trái và điên rồ trở nên tốt đẹp hơn; không có lý do gì để chúng ta không làm được chuyện nầy.

Trang 10. Đức Phật đã nói: ‘‘Có hai thứ không có giới hạn của nó: Không gian và sự Dại dột của Con người’’. Làm sao cái quả khổ có thể giảm bớt nếu cái nhân gây ra quả khổ đó tiếp tục thắng thế? Chính những tư tưởng điên rồ–tức vô minh–đã gây ra đau khổ cùng tất cả những tội ác trên thế giới. Không phải vì ta xấu xa và tội lỗi mới làm những việc không hay, mà chính vì ta mù quáng và dại dột. Có người có lúc mù dại, cũng có người luôn luôn mù dại. Không lẽ ta cứ phải chịu mù quáng và dại dột hoài như vầy sao? Nếu có là tại ta Muốn như vậy mà!

Nếu nói về mặt hiểu biết thì ta có 4 loại người?:  1. Người hiểu mau;  2. Kẻ hiểu chậm;  3. Người không hiểu;  4. Kẻ hiểu lầm.

Và nếu bạn biết là sai thì tốt hơn không nên hiểu. Hiểu sai và Biết sai chỉ làm cho người ta đau khổ.

Có bao giờ bạn nghĩ đến là tại sao chúng ta luôn luôn nghĩ rằng mình đúng và kẻ khác sai không? Dĩ nhiên là ta nghĩ rằng sai và đúng là thuộc về con người: Ông Đúng, Bà Sai. Quả thật chúng ta không cần nhìn thật sâu ở đâu cả. Đúng và Sai không phải thuộc về Con Người, không phải tôi, không phải bạn và nếu chúng ta chỉ cần ngừng lại và xét đến Cái Gì sai Cái Gì đúng, thay vì Ai sai Ai đúng, nhiều vấn đề sẽ biến mất ngay. Xin bạn cứ thử đi rồi sẽ thấy ngay!

 

  

                                      Học và tập

Trang 11. Học và tập (to learn) là một cái gì khác với học hỏi, nghiên cứu (to study). Học Tập là căn bản và nó liên hệ đến kinh nghiệm của chúng ta, và vì vậy nó không có cái gì có thể thay thế nó được. Trái lại học hỏi nghiên cứu là khoa bảng và thường là những gì đã được biết rồi, được người khác cho biết, được cắt sẵn và khô khan, giống như cỏ khô.

Một em bé không ngồi xuống và nghiên cứu tập đi đứng từ sách vở, mà học tập từ kinh nghiệm riêng của nó, và sau nhiều thất bại, chán nản, đau khổ và nước mắt. Ngay cả những em bé mù cũng phải học cách đi; nó không phải chỉ do bắt chước mà được. Nó là Đạo, là Con đường.

Nếu muốn Học-Tập, bạn không nên chú ý đến cá tánh hay diện mạo của người thầy, những việc ấy không phải là chuyện của bạn. Chỉ nghe những gì ông nói, suy nghĩ kỹ để xem chúng có thật hay có ích hay không. Nếu bạn thích hay không thích người thầy đó thì cái nhìn của bạn sẽ bị che mờ.

Giữa ‘chicken’ và ‘kitchen’ có khác nhau không? Giữa ‘teacher’ và ‘cheater’? (Tôi đã được nghe những người học tiếng Anh lẫn lộn về hai chữ nầy). Rất có nhiều người lừa đảo giả dạng làm thầy: ta nên cảnh giác và cũng đừng vội tin hoặc phản bác họ ngay.

Vị ‘thầy’ chỉ quan trọng khi những gì họ nói là sự thực và thích đáng. Thầy không nên làm cho chúng ta tùy thuộc họ như một vị thuốc không có không được. Họ giúp ta học và hiểu rằng mọi người mọi vật đều là người thầy. Đây là bổn phận của một người thầy.

Một vị vua trong dịp đi thăm một vùng cai trị của ông, có các quan hầu cận. Trên đường đi, ông thấy trong vườn xoài có cây sai trái có cây không. Vì thích xoài nên ông nghĩ: ‘‘Bận về, sau khi xong chuyện ta sẽ bảo hái xoài cho ta’’ và ông tiếp tục đi. Các quan hầu cận thì lại nghĩ khác. Họ cũng thích xoài nhưng không thể nào đợi chờ nên lén nhà vua hái xoài bằng cây hoặc ném bằng đá. Kết quả là nhiều nhánh cây bị gãy.

Trang 12. Sau đó, vua trên đường trở về định bụng ăn xoài nhưng kết quả là xoài dập hư rất nhiều. Là bậc hiền trí, ông không vội giận mà suy nghĩ rằng: ‘‘Đây là điều ta để ý: cây sai trái thì bị gãy dập, cây không có trái ngon thì không hề hấn gì. Quả thật đây là bài học cho ta. Có nhiều đau khổ nhiều, có ít đau khổ ít. Với tâm thức nầy, nhà vua trở về hoàng cung, gọi người con trưởng, đặt vương miện lên đầu người con và nói: ‘‘Từ hôm nay con là vua. Hãy cai trị nước nhà một cách hiền trí.’’ Rồi ông thay áo mão nhà vua bằng bộ quần áo khất sĩ, rời hoàng cung, sống trong rừng. Có người tình cờ gặp ông hỏi: ‘‘Ai là người thầy của ông,’’ ông đáp: ‘‘Người thầy của ta là cây xoài.’’

Chúng ta không nên ỷ lại vào sự chỉ dạy hoàn toàn của người thầy mà phải luôn luôn tưới tẩm một tinh thần học hỏi chuyên cần không ngừng. Tự học-tập luôn luôn có kết quả tốt đẹp nhiều hơn là được chỉ dẫn. Tất cả những sự chỉ dạy trên thế giới sẽ vô dụng nếu chúng ta không cần học.

Các câu trả lời cho hầu hết các vần đề của chúng ta không được tìm thấy trong các sách vở. Nếu chúng ta dựa vào sách để giải quyết tất cả vấn đề thì chúng ta sẽ luôn luôn chạy vào thư viện để tìm câu trả lời. Đây không phải là chúng tôi bác bỏ sự hữu ích của sách vở vì có vô số sự việc chúng ta cần đến nó; sẽ là sự dại dột nếu chúng ta làm như vậy. Tuy vậy, hiểu được Phật Pháp, điều mà chúng ta có thể tìm từ kinh sách, sẽ đem chúng ta đi xa hơn là những gì trong kinh sách có. Đồng thời nó cũng giúp đỡ và khuyến khích chúng ta phát triển được cái trí tuệ cần thiết để tìm ra các câu trả lời.

Trang 13. Muốn theo Con Đường (Đạo), chúng ta phải là những người học tập chứ không phải là những kẻ học theo (tức như những người khoa bảng). Điều đó có nghĩa là, với những điều không biết, sẵn sàng thành thật nhìn nhận sự không biết của mình. Giả dối về chuyện nầy và che dấu qua kinh nghiệm bằng cấp đại học là một chướng ngại lớn. Có người vì lòng tự hào đã khiến cho họ không nhìn nhận những điều không biết của mình. Do vậy, việc nói dối đó lại khiến cho họ vô minh lần thứ hai. Lòng tự hào là một trở ngại hơn là một đức tánh. Đã có người viết: ‘‘Hãy khiêm cung và càng khiêm cung hơn khi bạn đắc được Trí tuệ.’’

Tôi có hơi buồn khi có người phê bình các buổi nói chuyện của tôi: ‘‘Tôi học được gì nơi ông ấy?’’ Tôi buồn là buồn cho họ chớ không phải cho tôi, là vì: họ có thể đúng, nhưng không phải là vì không có gì để học mà là đầu óc của họ đã đầy ấp sự chấp thủ không còn chỗ trống để chứa vào đâu cả. Nếu bạn biết cách học tập, bạn có thể học cái gì đó từ mọi việc và mọi người. Khi muốn cầu tiến, chúng ta sẽ không phiền khi phải chọn học ai.

Để chứng minh điều nầy, tôi xin kể lại một câu chuyện nhỏ về một bác sĩ tại đất nước Mã lai Á.

Trong khi phục vụ tại một bệnh viện nọ thuộc Ban Đánh Thuốc Mê, Bác sĩ Tân thường gặp phải khó khăn đối với các máy móc đã quá cũ kỷ. Khi gặp như vậy, một nhân viên bệnh viện tên Muniandy được gởi tới sữa vì anh ta là nhân viên độc nhất biết sữa loại máy đó cho nó chạy trở lại. Viên bác sĩ vừa phục nhân viên nầy vừa buồn là sao chỉ có một mình anh nầy có khả năng sữa máy mà không có ai khác. Vị bác sĩ nầy quyết định học cách sữa.

Trang 14. Khi Muniandy được yêu cầu chỉ dẫn, anh rất đổi ngạc nhiên vì nghĩ mình không được học nhiều sao một vị bác sĩ lại đi hỏi chuyện cái máy nầy. Anh khiêm nhượng từ chối. Bác sĩ vẫn một mực yêu cầu và giải nghĩa rằng nếu tự biết sửa kịp thời thì ông có thể cứu được mạng người nếu máy hư. Muniandy hiểu ra và rồi cắt nghĩa tận tình cho vị bác sĩ cách vận hành và cách sửa chiếc máy đó. Bác sĩ hiểu ngay những gì Muniandy trình bày vì đây chỉ là những gì do kinh nghiệm chứ không phải là trong lý thuyết.

Khi chuyển qua một bệnh viện khác, bác sĩ Tân gặp phải một chiếc máy mới nhập cảng từ Đức quốc với các tờ chỉ dẫn cách sử dụng nó bằng tiếng Đức. Tuy nhiên nhờ đã biết được cách sử dụng máy cũ nên bác sĩ Tân nắm rõ sự phức tạp của chiếc máy mà không cần phải xem tờ chỉ dẫn nhiều. Ông luôn nhớ những lời chỉ dẫn của Muniandy khi tiếp cận chiếc máy.

Vài năm sao đó, khi bác sĩ Tân bắt đầu mở phòng mạch riêng, Muniandy, lúc đó đã về hưu, đến thăm ông. Họ kể lại thời gian làm việc chung với nhau và khi nhắc đến chuyện cái máy cũ, nước mắt Muniandy lưng tròng. Anh nói: ‘‘Trong 35 năm làm việc tại bệnh viện, ông là người duy nhất hỏi tôi về cách thức sửa chữa chiếc máy. Đó là những lúc vui sướng nhất của tôi!’’

Có ai trên đời nầy mà biết tất cả không? Chúng ta không có lý do gì để tự hào rằng tôi không biết hoặc không thể nói, ‘‘Tôi không biết’’. Chỉ khi nào nói được với tất cả sự thành thật và khiêm tốn thì lúc đó mới nói được rằng chúng ta đã tiến bộ trên con đường tâm linh.

Trong mọi trường hợp, dù thích hay không thích, đều là cơ hội để học hỏi. Các sự việc, dù đau khổ hay không thích thú thế nào đi chăng nữa, đều có những điểm tốt để học. Một con muỗi chẳng hạn. Nó giúp chúng ta: chế phục sự sợ đau, luyện tâm, thực hành sự kiên nhẫn và nhất là lòng từ bi cao đẹp. Sao lại một ‘con muỗi’–một con vật tầm thường và bị ghét cay ghét đắng–lại giúp ta được nhiều chuyện như thế?

Trang 15. Vâng, dĩ nhiên không ai thích bị muỗi cắn, nhưng vì sợ đau  nên chính cái sợ đó bị khuếch đại khiến cái đau đó lớn hơn bình thường, đủ làm cho người ta có thể thức nhiều giờ trong đêm, lo lắng con vật nầy tuy nhỏ nhưng gây phiền toái, đang bay kiếm thức ăn chiều cho chúng. Bạn có thể tự trắc nghiệm tâm lý chính mình. Để một con muỗi nào đó đậu trên da bạn. Nó hút máu bạn, bạn không đuổi đi mà cố quan sát. Chỉ tốn 5, 10 phút thì nó đầy bụng. Yên lặng nhìn tiến trình hút máu của muỗi đồng thời tự xét phản ứng của mình. Không giận không sợ. Bạn sẽ cảm thấy là cái đau không lớn lắm trong khi nếu bạn sợ thì nó có vẻ lớn hơn nhiều. Muỗi sau khi no nê, cứ để cho nó bay đi. Dĩ nhiên là không giết nó. Đầy bụng, nó sẽ khó khăn di động để bay thoát đi. Ta biết rằng chỉ có muỗi cái mới cắn và hút máu để nuôi trứng đẻ. Đấy là việc tự nhiên, loài muỗi không có cách chọn lựa nào khác.

Riêng chúng ta là loài người không cần phải chọn theo các bản năng ác nghiệp đó. Chúng ta không cần phải hút máu các sinh vật khác (mặc dầu có những kẻ chế tạo khí giới và những người hiếu chiến có vẻ họ đã sống trên xương máu của đồng loại). Chúng ta có thể chọn cách sống không bạo lực, không phá hủy hoặc sống yên bình và sáng tạo. Không ai bắt buộc chúng ta phải hành động như những dã thú.

Sau khi muỗi bay đi, bạn cố gắng bình tĩnh (chánh niệm) và quán sát sự mong muốn gãi ngứa ngay vết muỗi cắn; tự hỏi nếu không gãi thì có sao đâu. Khi quán sát tức là bạn đang kiểm soát tâm thức bạn. Bạn sẽ cảm thấy rằng mức độ muốn gãi chỉ bằng phân nửa mức độ nếu bạn không quán sát nó. Đây chỉ là vấn đề ‘tinh thần trên vật chất’ mà thôi và quả thật là nó có hiệu quả.

Trang 16.  Trong một vài phút, cái ngứa sẽ biến đi, trong khi nếu gãi nó sẽ kéo dài hơn. Tôi đã từng thấy con người đầy vết thẹo trên cánh tay và chân do vết muỗi cắn mà vì họ đã gãi đến chảy máu khi họ còn trẻ.

Tất cả các sinh vật đều muốn vui mà không muốn khổ, ai cũng vậy. Chúng ta không thích những người khác đến làm phiền, làm tổn thương hoặc sát hại ta. Đây là luận chung cho tất cả. Là con người, chúng ta nên thường xuyên nhớ đến điều nầy. Ngay cả vi trùng nhỏ nhất cũng oằn xéo, phản ứng nếu có một giọt ắc xít đổ lên trên nó. Sự không thích khổ phổ biến khắp mọi nơi.

Người cứu mạng có giá trị hơn người sát hại. Ai cũng có thể sát hại được, không cần phải thông minh để sát hại vật khác. Nhưng muốn chữa lành và cứu mạng thì không dễ dàng. Nó cần lòng lòng từ, ý nghĩ tốt và sự cố gắng. Nếu không giúp được thì không nên làm hại.

Các Phật tử nhìn các giống vật thấp kém hơn và các loài khác như là em út của họ. Sự hiện hữu của chúng không phải để dùng chúng trong các trò chơi thể thao hay thức ăn, dù cho ai nói hay sách vở nói sao đi chăng nữa. Chúng hiện diện ở đây là để sống cuộc sống riêng của chúng, để trả hết cái định mạng của chúng, để biến hóa và lớn lên, để leo trèo tuy chậm chạp và đau khổ lên ngọn núi Toàn Hảo, nơi đó không có sanh và tử. Nơi đó, chúng sẽ không khác chúng ta. Nếu không thích chúng, chẳng hạn như không thích các con muỗi kia, chúng ta có thể chọn lựa tùy theo ý thích của mình vì đó là do các cá tính khác nhau của con người mà thôi, không có gì ngạc nhiên. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, ra ngoài cái bản ngã ‘cận thị’ nông cạn của mình, ta sẽ thấy Tình Thương không phải là sự chọn lựa mà là sự bảo bọc tất cả mọi người một cách bình đẳng; điều nầy không có liên quan gì đến ‘anh’ và ‘tôi’, đến sự ‘thích’ với ‘không thích’, vì điều nầy không phải là ‘ngã’. Cái ‘ngã’ là trung tâm của hầu hết các hành động của chúng ta. Tình Thương thì không và vì thế không có chuyện lòng vòng và cũng không có giới hạn. Chúng ta có thể hiểu được Tình Thương dù chúng ta chưa giác ngộ bằng cách biết cái giới hạn của cái ‘ngã’ đồng thời bước lên trên nó một bực. Như vậy không phải là đã Giác Ngộ rồi sao?

                                                             *

                            Mong nhiều khổ nhiều (Cầu bất đắc khổ)

Trang 17. Nếu đến nước Ấn độ,  có dịp đi vào các vùng quê, bạn sẽ nhận thấy rằng đời sống diễn ra giống như đời sống cách đây cả trăm năm, có thể cả đến hằng ngàn năm. Nhiều làng mạc vẫn không có điện, truyền hình, điện thoại, đường tráng nhựa, nước vòi. Người dân vẫn dùng cày bừa theo lối cổ truyền do bò hay trâu kéo, nước thì múc hay kéo từ giếng, nấu nướng bằng lửa phân bò, v.v ...

Trong các điều kiện như vậy, ta mới có thể dể dàng hình dung đức Phật đi chân không từ nơi nầy đến nơi khác để làm vị khất sĩ hành đạo. Áo cà sa của ngài hẳn phải chịu bụi trần bẩn thỉu và có thể đôi khi không giặt kịp. Cũng có thể ngài không cạo râu tóc kịp như chúng ta hiện nay. Hẳn ngài không phải luôn luôn có một định hướng trong đầu và chắc ngài cũng không vội vã hấp tấp mà ngài tiêu pha thời giờ với những người muốn tìm học đạo hoặc những người mà ngài nghĩ có thể hướng dẫn được. Với trí tuệ bát nhã, ngài có thể nói cho người khác Nghe Hiểu Thấy Biết. Bạn có thể thấy Ngài là một bậc Thầy vĩ đại như vậy được không? Một vị Thầy, một con người chứ không phải Chúa, không phải Thượng đế, không phải Đấng Cứu thế. Bởi vì Phật tử bác bỏ cái ý niệm cho rằng người nầy có thể cứu được người kia nhờ kết quả của việc họ làm.

Trong quyển sách ‘Ảo Tưởng’ hay ‘Cuộc Phiêu Lưu Bất Đắc Dĩ Của Một Đấng Cứu Tinh’ của Richard Bach, có một câu chuyện khá vui về một vùng đất của các sinh vật sống ở dưới một lòng sông. Trọn đời chúng sống bám vào các hòn đá và rong rêu dưới sông. Có một lần, một trong những sinh vật đó buồn chán vì phải bám hoài vào một tảng đá, đã nói rằng nó sẽ chết vì buồn chán nếu cứ phải sống như thế nầy. Chú ta bèn quyết định rời tảng đá để xem dòng nước sẽ mang chú đi đâu. ‘Đồ khùng’, các chú khác nói với chú như vậy, ‘Chưa ai làm như bạn vậy! Bạn sẽ bị dập vào các tảng đá khác và rồi sẽ chết mau hơn là chết vì buồn chán!’ Nhưng chú ta bất kể các lời khuyên. Chú cứ hành động theo ý chú và tức khắc bị dòng nước cuốn phăng đi.

Trang 18. Đầu tiên, chú quả thực bị dập vào các tảng đá khác nhưng không chết. Thay vì chống lại với làn nước chảy phăng phăng, chú cứ để cho dòng nước đưa chú đi đâu thì đi. Chẳng bao lâu dòng nước đưa chú lên trên mặt nước không đá không cỏ rêu.

Các sinh vật khác ở dưới khi thấy chú chuyển được lên trên, thốt lên sự ngạc nhiên. ‘‘Xem kìa, chú kia cũng như mình vậy mà chú bay dược! Chú là đấng ‘Cứu Độ’ chúng ta! Đấng Cứu Thế! Đấng Cứu Thế! Chú la lên, ‘‘Không, ta không phải là đấng Cứu Độ mà chỉ là một trong các ngươi thôi. Chính ta đã xả ly, đã tự để cho dòng nước đưa đẩy ta. Nếu các ngươi cũng tùy duyên để cho dòng nước đưa đi, các ngươi cũng thành như ta!’’. Họ không nghe chú nói và nhất quyết bỏ qua lời chú và đồng la lên: ‘‘Đấng Cứu Rỗi! Đấng Cứu Rỗi!’’. Chú được nước cuốn đi ra khỏi tầm mắt các bạn, các sinh vật kia vẫn bám chặt vào những chỗ mà họ đã được sinh ra, truyền miệng về câu chuyện Cứu Rỗi của chú.

Mặc dầu đức Phật đã nói rõ rằng không ai có thể cứu ai nổi mà là mỗi một người phải tự độ mình, nhiều Phật tử cũng vẫn còn trông chờ người cứu rỗi giùm họ, cầu nguyện chư Phật và chư Bồ tát tha thứ cho tội lỗi của họ, tẩy trừ ‘nghiệp tội’ v.v... giùm họ. Đôi khi họ cũng mong thấy các vị sư là kẻ siêu phàm, không muốn coi sư sãi là con người thường chút nào cả. Họ kính trọng quá đáng sư sãi, đặt họ lên trên quá cao đến độ muốn nhìn viễn vọng kính để tìm họ trên không trung! Lúc đó nếu người anh hùng của họ làm điều gì không phải hoặc họ không còn thích nữa, họ trở nên thất vọng và các thầy không còn được tôn quí nữa. Tại sao họ thất vọng? Có phải tại vì các thầy làm sai không? Hay tại vì đại chúng ‘cho họ lên’ quá? Nếu mong đợi càng nhiều thì thất vọng lớn sẽ nằm chờ kế bên. Và nếu các thầy tự để mình được nâng cao quá, làm sao họ có thể sống theo nổi với sự đề cao quá đáng đó. Cố gắng sống theo tức tự chuốc lấy sự tai hại, bởi vì mặc dầu chúng ta muốn được giải thoát nhưng việc mong muốn với cái thực tế (có thể thoát được hay không) là hai việc khác nhau. Dĩ nhiên, chúng ta muốn được giải thoát nhưng  muốn mà thôi thì không đủ mà chúng ta phải tìm kiếm, giành lấy và nhất là chúng ta phải sẵn sàng.

Trang 19. Kế đến, trong khi đề cao các vị sư sãi, chúng ta đồng thời tự hạ mình xuống rất thấp nghĩ rằng có thể là họ sẽ được miễn trừ khỏi giới luật. Họ dùng các vị sư làm một cái cớ để làm những việc họ biết là họ không thể làm. Một lần có một người đến nói với tôi là họ thấy một tu sĩ hút thuốc và nói rằng hút thuốc đối với một tu sĩ là điều rất xấu. Tôi đồng ý với ông nhưng nói: ‘‘Sao bạn nói với tôi về một tu sĩ hút thuốc mà bạn lại vừa hút thuốc vừa nói chuyện với tôi?’’Anh ta cải lý rằng ‘vì không phải là tu sĩ nên anh hút thuốc là không sao’’. Nghe như vậy có hữu lý không các bạn? Chúng ta hãy xét đến cái ‘lý’ của một ý nghĩ như vậy.

Bản thân là tu sĩ, tôi đã thấy được cả ‘hai phía của một hàng rào’ vì vậy tôi tự cho là có thẩm quyền để nói rằng Con Đường của Phật (Phật Đạo) ngược lại với những gì các Phật tử nghĩ về các Tăng Ni và những người sống trong chùa chiền hay tu viện. Cửa chùa rộng mở cho bất cứ ai mong muốn thực sự theo học đạo. Không hiểu được điều nầy, nhiều Phật tử trong việc không hiểu biết và lười nhác, mong muốn những người khác làm mọi thứ cho họ. Để chữa được tật nầy, ta nên nói công khai rằng không có Hai thứ Luật của cuộc Đời, một cho các Tu sĩ và một cho các người lương, mà chỉ có một. Và Luật Nhân Quả không phân biệt với người cạo tóc với không cạo tóc, với người mặc áo tràng hay mặc thường phục, với người ở tu viện hay người có gia đình. Không có thiên vị, không có ưu đãi. Nếu tu sĩ cầm nắm cục than đang cháy ông ta sẽ bị phỏng, người lương cũng bị vậy thôi. Tu sĩ bệnh, già và chết, lương nhân cũng vậy. Tu sĩ không được miễn trừ các chuyện đó.

Trang 20. Theo đức Phật, có ý định (tác ý) là yếu tố mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nghiệp. Ngài nói: ‘‘Tác ý, các Tỳ kheo, ta tuyên bố đó là nghiệp’’. Bạn nhận cái quả từ nghiệp của bạn. Tôi hái cái quả từ nghiệp của tôi. Tôi không nhận cái quả từ nghiệp của bạn và bạn cũng không hái cái quả từ nghiệp của tôi. Nếu có chuyện chuyển được nghiệp của chúng ta sang người khác thì kẻ thù của ta sẽ tẩy trừ tất cả các bất thiện nghiệp của họ sang cho chúng ta để cho ta chịu đựng hết cái quả của các hành động không tốt của họ–thế có phải là rất tiện lợi cho họ hay không? Tuy vậy, làm sao được như vậy? Và cũng như vậy, làm sao có thể chuyển hết các nghiệp thiện của chúng ta sang cho người khác? Là Phật tử, lý do chúng ta được khuyên phải làm phước cho người khác, nếu chúng ta dám giả thử rằng chúng ta thực sự có đức để làm phước, là vì nó mở rộng ra cái tâm cái lòng của người làm việc đó. Đây là một hành động công đức, phải không quí bạn?

Có khi phải quán tưởng (hoặc quán tượng) ngay đức Phật để có thức giác liền để thành một con người luôn nghĩ đến kẻ khác. Tán thán Phật như nhiều người đã làm và cầu đến Ngài để nhờ hộ trì và cứu giúp là một lầm lẫn lớn, vì Ngài không bao giờ bảo rằng phải tin và cầu nguyện Ngài mà phải tự tìm ra Sự Thật từ đó mới Giác Ngộ và Giải Thoát. Giác Ngộ là Phật giác ngộ, không phải là ta giác ngộ. Phần công đức cũng vậy. Ta phải tự đạt lấy phần riêng cho ta mà không phải cầu xin. Ta sẽ luôn trong Luân Hồi nếu ta chỉ dựa vào việc cầu xin để được cứu độ.

Chư Thánh như các bậc A la hán và Bồ tát ngày nay rất hiếm; khó mà tìm thấy trong các chùa chiền và nhà thờ và nếu mong tìm họ ở các nơi đó, chúng ta chắc chắn sẽ thất vọng. Và chúng ta có nên đổ lỗi cho ai về sự việc nầy không? Có lý hay không khi ta đổ lỗi cho các tu sĩ hay giáo sĩ đã không sống theo sự mong đợi của ta để trở nên thần thánh như ta muốn hay không? Ta đổ lỗi cho ai nếu không phải là ta mong đợi quá nhiều? Việc phải đi theo con đường Đạo là việc quan trọng nhất. Chẳng có gì thay thế được. Chẳng có ai làm cho ta giống như chẳng ai ăn giùm cho ta được. Nếu không gieo hạt giống sẽ chẳng gặt hái được gì cả. Không tạo nhân thì chẳng bao giờ có quả. Tuyệt đối chẳng có ích lợi gì khi than phiền rằng chư Phật, chư Bồ tát hay các tu sĩ đã không cứu độ chúng ta nổi. Hãy xem tu sĩ là thầy của con đường Đạo, còn việc họ có theo con đường Đạo đó hay không là chuyện của họ; chuyện quan trọng nhất vẫn là chính chúng ta Học Tập, Học Tập  và Học Tập. Và khi nó quan trọng đến độ cần thiết cho ta, ta sẽ không cần để ý đến việc ta học từ ai (hay từ đâu).

Trang 21. Ở trường, khi học sử địa, ta có cần người thầy dạy các môn đó phải đích thân đến các địa danh hay phải là chứng nhân các sự kiện lịch sử mà họ mô tả, chỉ dạy hay không? Và bạn nghĩ sao nếu các tu sĩ giảng về chư Phật, các bậc A la hán, Niết bàn, Thiên đàng, Địa ngục, v.v...bạn nghĩ là họ nói từ kinh nghiệm cá nhân họ hay từ những gì họ nghe hoặc họ đọc? Cũng có thể họ nói thật từ kinh nghiệm riêng của họ nhưng cũng có thể là không? Nếu có thật, chuyện đó cũng không thật cho bất cứ ai, mà ta phải tự chứng thật cho mình (LND: và đó mới thật là Tự-Do [Do: noi theo; Tự: từ mình; tự do là theo mình, do mình; như vậy mới đúng nghĩa của chữ tự do). Chỉ đến lúc đó thì ta mới sẽ biết. Đây là lý do tại sao Phật ‘cổ vũ’ chúng sanh không nên tin những gì Ngài nói mà phải ‘‘Chứng nghiệm Pháp của ta giống như thợ kim hoàn thử vàng bạc của họ’’.

Có lần có người cho tôi biết một vị sư nổi tiếng nào đó (vị nầy thành lập một tông phái đặc biệt của Phật giáo Việt nam mà người ấy theo):   ‘‘Thầy là bậc A la hán chắc chắn 100%’’! Tôi hỏi sao ông chắc như vậy trong khi ông không được gặp mặt thầy ấy và ông cũng không phải là A la hán mà! Bạn muốn biết một người đã đắc A la hán hay không thì bạn phải là A la hán. Bởi vì đối với một vị A la hán, A la hán thật và Bồ tát thật, không phải như các người giả hiệu ngày nay, sẽ khó mà đi phô trương và tự tuyên bố như vậy. Chúng ta chỉ có thể nói, như tôi đã nói về (Ngài) Thích Quảng Đức và Mẹ Theresa, rằng chúng ta Suy Nghĩ người nầy là A la hán, người kia là Bồ tát; đó chỉ là ý kiến cá nhân của chúng ta mà thôi chứ chẳng có quan hệ gì với việc người ấy có thực như vậy hay không; ý kiến suy nghĩ không làm cho các vị ấy trở thành bậc nầy bậc nọ.

Trang 22. Cách đây vài năm, tôi có nói chuyện với một nhóm Ki tô giáo trong một chùa Phật ở thủ đô Manila; họ đi truyền giáo trong một số nước có đa số là Phật tử và cũng muốn biết về Phật giáo. Trong bài nói chuyện, tôi trích một số giáo lý trong Thánh kinh Ki tô để nhấn mạnh một vài điểm giảng và so sánh. Bài nói chuyện chấm dứt và đến giờ giải đáp thắc mắc, một nữ tu nói: ‘‘Chúng tôi nghe ông trích Thánh kinh ra mà nói (ý nói Thánh kinh Ki tô, như thể là chỉ có Thánh kinh nầy là độc nhất trên thế giới được xem là ‘thánh kinh’) ông có được phép nói như vậy không’’ Tôi trả lời: ‘‘Kim cương là kim cương không cứ gì nó phải từ đâu ra’’. Chúng ta không mong tìm ra Sự Thật chỉ ở trong kinh sách và chắc chắn không phải chỉ từ kinh sách Phật. Sự thật không phải chỉ có giới hạn như vậy, và nếu chúng ta hiểu những gì Phật đạy, chúng ta có thể thấy được Pháp Phật không cứ phải từ giáo lý của các tôn giáo khác, mà là trong tất cả mọi vật, mọi nơi. Pháp (Phật) ở trên Danh (Tâm) và Sắc (Vật) và không có giới hạn.

Tuy mẹ Theresa là một nữ tu Ki tô giáo, nhưng bà không màng đến việc tiếp xúc với người bị bệnh, kẻ cùng đường hoặc người hấp hối dù họ là người Ấn độ giáo hay Hồi giáo. Bà không dùng sự giúp đỡ của mình làm phương tiện để mong họ cải đạo theo Ki tô giáo. Ý tưởng làm như thế có thể không bao giờ ở trong tâm thức của bà! Có lẽ bạn cũng biết chữ ‘Ki tô’ có 2 tự loại, một là danh từ, hai là tính từ. Khi được dùng làm danh từ, ta có thể nói ‘Người nầy hay người kia theo Ki tô’, có nghĩa là tín đồ Ki tô giáo. Nhưng nếu được dùng làm tính từ như khi ta nói rằng người kia ‘có quan điểm Ki tô giáo’, nó có nghĩa là ‘đại chúng, tự do, rộng rãi, rộng mở’. Tôi nghĩ mẹ Theresa theo ‘Ki tô giáo’ với nghĩa của tính từ hơn là với danh từ. Nếu người ta gọi bà là thánh (như nhiều người đã làm) và cũng có thể là gọi quỉ!, điều đó có làm thay đổi bà chút nào được không? Lòng bác ái và vị tha tạo bà thành chức thánh và cái đó là của bà; phong thánh bà sẽ là chuyện thừa. Không cần thiết sơn một đoá hoa hồng!

Trang 23. Không lạ lùng gì khi Phật giáo dạy về Vô ngã–có nghĩa là một cái ngã hay một linh hồn riêng biệt tách rời chỉ là một ảo tưởng–mà vấn đề ‘cá tánh’ lại trở nên quá quan trọng đối với các Phật tử. Chúng ta thường quan tâm đến cá tánh  của người thầy hơn là  những điều chỉ dẫn của ông, và điều nầy là một chướng ngại lớn. Thường chúng ta hay nghe người ta chỉ trích các tu sĩ và nói rằng họ thích thầy nầy chứ không thích thầy kia trong khi không để ý gì về Phật Pháp cả. Cái loại ‘giác ngộ’ nầy để lộ ‘cái tôi’ và do đó nó bị giới hạn và dễ dàng đưa đến mê lầm. Tuy chưa giác ngộ nhưng chúng ta cũng không cần phải luôn luôn vướng vào cái giới hạn của cái tôi nầy và hành động theo cách vị kỷ đó. Ta có thể vượt lên trên nó bằng cách tự nhắc nhở rằng Pháp Phật, chứ không phải ‘cái tôi’, nên là trung tâm điểm của việc hành xử của ta đối với kẻ khác.

                                                             ***

 ‘‘Giá trị của một người nên được xét đến những gì người ấy cho chứ không phải những gì người ấy nhận.

‘‘Động cơ quan trọng nhất cho việc làm và trong trường học và trong cuộc đời là sự thích thú làm việc, vui với kết quả của nó và trong cái nhận thức giá trị của một cộng đồng,  Trong sự tỉnh giác và củng cố của các yếu tố tâm lý trong con người trẻ, tôi thấy rằng cái công tác quan trọng nhất vẫn là được trường học tặng cho. Một nền tảng tâm lý như vậy chỉ một mình nó thôi cũng dẫn đến sự vui thích đến các sở hữu cao nhất của con người: kiến thức và tính làm việc nghệ thuật.

 Albert Einstein: Out of My Later Years.

                                                            ***

                                     Tìm vui tránh khổ

Trang 24. Thật là buồn cười nếu ta thấy ai đó trèo lên một cây táo để bẻ chuối, phải không các bạn? Nhưng chuyện nầy kể cũng không lạ lùng lắm đâu bạn. Tìm hạnh phúc ở những nơi không thể có hạnh phúc thì nó lại càng lạ lùng hơn và vô lý hơn là đi bẻ chuối từ cây táo.

Cách đây vài năm, tôi được mời nói chuyện với một số học sinh Phật giáo Á châu tại một trường nọ ở Sydney. Tôi quan sát thấy các em loạng quạng đi vào lớp trễ, không quan tâm, không chú ý và đã mất–hay từ bỏ– cung cách và sự tự trọng của truyền thống Á châu.

Để gây sự chú ý, tôi hỏi các em, con người trên thế giới hiện nay muốn gì. Vì chúng hầu hết là các con em của người Việt nam hay Căm pu chia tỵ nạn nên nhiều em nói là ‘Tự Do’. Tôi nói lại là nhiều người đã có nó rồi và vì vậy không muốn tìm nó; quả thật, có người đã có quá nhiều tự do và không biết phải làm gì với nó, lại lạm dụng nó và phá hủy nó thay vì trân trọng nó như là bảo vật. Dĩ nhiên điều nầy có nghĩa là họ không sẵn sàng để nhận cái đó; tự do sẽ bị phí phạm đối với những người không hiểu, không chịu hiểu hoặc không trân quí nó. Nó phải là cái gì tự mình tìm kiếm chứ không ai cho mình, bởi vì nếu chúng ta không cố gắng tự tìm nó, chúng ta sẽ không biết giá trị của nó và vì vậy nó sẽ dễ dàng bị phí phạm và đánh mất đi.

Có em bảo là ‘Tiền Bạc’. Mặc dầu có nhiều người, nếu không muốn nói là hầu hết đều đi tìm nó; và mặc dầu tiền bạc, chắc chắn là ‘tôn giáo’ đối với hầu hết mọi người trên thế giới nhưng không phải người nào cũng đi tìm nó. Có một số ít đã có tiền nhưng không tìm thêm.

Lại có em bảo là ‘Tình Thương’. Vâng, hẵn bạn cũng biết, dù rằng từ nầy được dùng khá nhiều đến nỗi gần như ‘vô dụng’. Tình Thương, cái phẩm chất của nó vẫn là một cái gì tất cả chúng ta đều cần, cách nầy hoặc cách khác. Câu trả lời mà tôi muốn là ‘Phúc Lạc’. Tôi hỏi chúng: ‘‘Nếu các em hạnh phúc trong quốc gia mình ở trước đây thì các em có vượt biển làm người tỵ nạn không?’’ Câu trả lời là: ‘‘Không, chắc không’’ Vậy các em trốn thoát khỏi quốc gia của mình là vì không có phúc lạc ở đó và vì cuộc sống nơi đó quá khó khăn’’.

Trang 25. Tôi đã đi đến gần 40 quốc gia và đã thấy rằng mặc dầu có các sự khác biệt giữa con người, các căn bản chính yếu vẫn là: mọi người đều muốn phúc lạc, không ai muốn khổ đau. Tôi tiếp tục nói: ‘‘Vì vậy, phúc lạc phải là một cái gì rất quan trọng, phải không? Các em trả lời: ‘‘Dạ’’ -‘‘Vậy thì tôi hỏi các em, cái phúc lạc đó rất quan trọng, thế họ có dạy các em về chuyện đó ở trường học hay không?’’ Tất cả đều đồng thanh la lên ‘‘Không, không bao giờ!’’.

Phúc lạc là một việc rất quan trọng vậy mà nó nó đã bị xao lãng hoàn toàn ở trường học! Tại sao lạ vậy? Tại vì nó không thể dạy được mà phải tự tìm lấy hay khám phá ra do chính mỗi cá nhân? Hay vì không thể được hay không nên nói về nó? Hoặc nó đã bị bỏ qua một bên vì nó ‘rất cảm tính’, nên ném vào thùng rác để nói cái gì đáng nói hơn, thí dụ như sự ‘thành công, thắng lợi’?

Riêng tôi, tôi xem hệ thống giáo dục ngày nay là Kẻ Thù Chung Số Một, vì nó khắc sâu vào tâm não con người nhiều đặc tính mà thế giới hiện nay cần ít hơn thay vì nhiều hơn, và nó đã dẫn trực tiếp đến sự xung đột: đua tranh, thô bạo, ích kỷ, tự hào, tham cầu, đố kỵ, tọc mạch, vô tâm đối với người khác,v.v...

Có người cãi lại rằng nếu không có đua tranh chúng ta sẽ không tiến bộ. Nếu vậy thì tôi không đồng ý vì chúng ta vẫn tiến bộ được mà vẫn không đua tranh hơn thua nếu chúng ta học cách hợp tác với nhau cho lý tưởng chung. Và tôi tin rằng chúng ta có thể được chỉ dẫn phô bày từ những giai đoạn đầu tiên cách hợp tác nhau. Thế Chiến thứ II–chỉ là một ví dụ điển hình cho sự xung đột vô nghĩa nhất–gây ra chết chóc cho 50 triệu người, làm thiệt hại và tàn phá nhiều thứ mà chúng ta không thể được biết và không so sánh được. Nhưng chúng ta vẫn không học được bài học đó: thế kỷ 20 là thế kỷ đẩm máu nhất. Ngay hiện nay, đã có vô số xung đột với các tầm mức khác nhau trên thế giới và sẽ là một điều cực kỳ may mắn nếu chúng ta thoát khỏi được Thế Chiến thứ III!

Trang 26. Với hệ thống giáo dục hiện nay, thực tế là mẫu hệ thống Hoa kỳ, chúng ta có thấy phúc lạc không? Chắc còn xa! Chúng ta đã biến thế giới thành một đám rừng đầy các thú vật hoang dã và tàn độc, nơi đó không có sự an toàn khi đi đêm ra ngoài phố, đôi khi cả ban ngày ở một vài nơi! Thật là lạ phải không quí bạn? Tại sao trong khi phóng người lên được cung trăng và gửi người xuống dưới đáy biển mà chúng ta không dạy được con trẻ–vì đây là nơi mà chúng ta bắt đầu–cách sống chung với những người khác trong sự hiểu biết và yên bình.

Những cách chúng ta mưu tìm hạnh phúc thì vô số. Tìm sướng tránh khổ là những theo đuổi chiếm phần lớn cuộc sống chúng ta. Chúng ta có thể nói một cách tổng quát là ai cũng muốn phúc lạc và tránh đau khổ; tất cả chúng ta đều có chung mong muốn nầy. Nhưng có bao nhiêu được phúc lạc? Đôi khi phúc lạc thì có, người nầy có phúc lạc hơn người kia thì có, nhưng bạn có biết ai được luôn luôn phúc lạc hay không? Riêng tôi thì không biết ai.

Có người tìm phúc lạc bằng những cách không hại người khác; có kẻ sẵn sàng làm tổn thương người khác để được phúc lạc, họ giết chóc, trộm cướp, nói dối, lừa đảo, v.v..., nếu họ nghĩ nó sẽ cho họ phúc lạc, họ sẽ tìm trong sự phẫn giận. Nhưng họ có phúc lạc không? Có thể là chút ít và ngắn ngủi và khi hành động họ chín muồi, thì phúc lạc của họ ở đâu? Có nhiều công thức để tìm phúc lạc. Công thức thông dụng nhất là: tiền bạc=phúc lạc. ‘‘Phải chi tôi giàu tôi sẽ hạnh phúc’’ họ nghĩ như vậy. Dĩ nhiên nếu gia đình ta đói hoặc không có nhà cửa thì sẽ khó mà hạnh phúc, nhưng giàu tự nó không giải quyết được các vấn đề và không đem lại phúc lạc.

Các công thức khác là : ‘‘Nếu tôi có một người bạn trai đẹp trai (hay một người bạn gái tuyệt đẹp) tôi sẽ hạnh phúc’’ ‘‘Nếu tôi trẻ trở lại (hoặc mạnh khoẻ, có quyền lực, nổi tiếng, có nhiều bạn, v.v...) tôi sẽ có hạnh phúc’’. Nhưng hạnh phúc có thể kế hoạch hóa được không? Ta hãy thử dừng lại một chút và tư duy về cái lòng luôn luôn chạy vội đi tìm phúc lạc của con người.

Trang 27. Hạnh phúc (và bất hạnh) không thể nào tìm được và thấy được, bởi vì nó là kết quả từ cái cách ta sống. Thực vậy, chính sự Mưu tìm hạnh phúc mới là Trở ngại lớn nhất cho việc có nó, thường chúng ta không thấy điều nầy chỉ sau khi chúng ta đã tìm đến lúc mệt lã người!

Có người đã nói: ‘‘Phúc lạc là nước hoa bạn không thể rưới lên người khác mà không nhỏ một vài giọt lên mình’’. Đây là điểm quan trọng: hãy quên mình và giúp người khác. Chúng ta nên làm thế chỉ vì chúng ta có cơ hội và khả năng làm được như vậy, chứ không phải nghĩ là làm như vậy thì sẽ được đền trả. Vì nếu nghĩ như vậy thì cũng như là đi tìm nó và kết quả là thường bị thất vọng.

Tại sao ta phải đi tìm hạnh phúc? Nếu ta đã có hạnh phúc rồi lại không có đau và khổ thì không cần thiết phải đi tìm nó! Vì không có hạnh phúc, vì có thể bị đau khổ nên ta mới tìm nó.

Đau là gì? Đó là phản ứng đối với một các nguyên nhân hay các điều kiện (nhân duyên) nào đó; đấy là kết quả của các nguyên nhân giống như mọi thứ khác, và nếu có thể khám phá và hiểu ra được các nguyên nhân, chúng ta có khả năng tránh được các hậu quả của nó.

Có hai loại đau: đau (bệnh) thân thể và đau (khổ) tinh thần. Ta có thân thể, bệnh là việc dĩ nhiên. Dù có thể tránh được vài trường hợp nếu ta chăm sóc thân thể kỹ hơn, nhưng có nhiều bệnh ta không thể tránh được thì đây cũng là chuyện dĩ nhiên vì thể xác phải càng ngày càng suy thoái giống như máy móc một ngày nào đó nó sẽ hư. Đây là lý do tại sao ngài Lão Tử đã nói: ‘‘Chấp nhận sự rủi ro xem nó như là chuyện đau thân thể; nếu không có thân thì đâu có rủi?’’

Trang 28. Khổ tinh thần ngược lại không phải là không tránh được vì ta có thể nắm quyền kiểm soát tâm thức của ta dễ hơn. Chúng ta không thể ngăn thân xác ta không già và không chết nhưng cái tâm trí ta thì ta kiểm soát được nếu ta muốn. Chúng ta không cần phải bị đau khổ vì lo lắng, buồn rầu, tuyệt vọng hay giận dữ; chúng ta không cần phải đố kỵ, trả thù, đe dọa hay tự hào; tâm trí ta không cần phải chất đầy sự tham muốn, ghét bỏ hay ngu muội. Nhưng chúng hay tới với chúng ta, phải không các bạn? Chúng ta đau khổ nhiều vì sự hiện diện của những cảm tính tiêu cực, nguy hại nầy; chúng gây cho chúng ta đau khổ ngay cả bình diện vật chất hay thân thể qua cái tâm tác ý lên trên thân xác. Quả thật là có nhiều rắc rối gây ra chỉ vì cái tâm! 

Không có ai, ít nhất đối với những người không điên khùng, thích đau khổ. Hầu hết mọi người tránh khổ, ghét khổ và sợ khổ nhưng ít ai muốn tìm hiểu nó, lắng nghe nó và chịu nghe nó nói. Quả thật cái khổ nó muốn nói lắm. Khổ là sự tự nhiên, nó muốn nói lên có cái gì sai trái, không còn thăng bằng, cần phải chú ý. Thực sự không phải nó là kẻ thù như ta nghĩ, bởi vì nếu chúng ta lắng nghe nó và học hỏi từ nó, điều đó sẽ ích lợi và có thể xem nó như là một người bạn, một người thầy, dù rằng mặt mày của nó trông xấu xí. Từ cái đau khổ của mình, ta  có thể hiểu được cái đau khổ của người khác. Điều nầy nẩy sinh lòng từ bi, một đức tính đáng quí. Lòng từ bi là những gì bắt buộc đức Phật phải chỉ ra con đường Đạo cho những người sẵn sàng muốn thấy. Nếu chính chúng ta không bao giờ đau khổ, sẽ khó mà cảm thông với những người khác.

Thế giới của chúng ta thật buồn phiền, dù rằng nó thường được che dấu sự đau khổ qua lớp mặt nạ. Cứ phải thường trực đương đầu với đau khổ khiến chúng ta phát điên. Đôi khi nếu chúng ta nhạy cảm, ta sẽ cảm nhận có một sự buồn phiền vô tận trong thế giới ngày nay, và nếu không biết gì về Luật Nhân Quả, chúng ta sẽ dễ dàng bị tràn ngập bởi phiền muộn. Nếu biết rằng trong Vũ trụ không có chi là tình cờ ngẫu nhiên mà mọi sự mọi việc đều có nguyên nhân của nó sẽ giúp ta phấn khởi là ta không bất lực và có thể làm được chút gì đó.

Trang 29. Có hai loại đau khổ: đau khổ tự nhiên và đau khổ nhân tạo. Nhờ tri thức tăng theo tuổi tác nên ta có khả năng làm giảm bớt đau khổ gây ra bởi Thiên nhiên. Ta có thể tiên đoán và đề phòng các trận động đất, bảo tố, núi lửa, sóng thần, v.v...Ta có thể làm dịu bớt hậu quả các nạn lụt lội, hạn hán; lại có thể diệt trừ hoặc kiểm soát nhiều bệnh tật gây tử vong và chắc chắn chúng ta sẽ làm được nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, hầu hết các đau khổ, các sự tàn ác trên thế giới ngày nay như chiến tranh tôi phạm và sử dụng thuốc kích thích thì không không phải là điều do thiên nhiên gây ra mà do chính con người gây ra và chính trong lãnh vực nầy mà chúng ta có khả năng dùng sự thông minh và từ bi nhân ái để đạt được thành công. Và đây có lẽ là điều quan trọng nhất mà tôi phải nói trong quyển sách nầy: Mỗi một người trong chúng ta đều có khả năng gia tăng hay giảm thiểu sự đau khổ trên thế giới. Có thể ta không làm được nhiều lắm nhưng ta vẫn có thể làm theo phần của mình và chính những phần nhỏ đó có công dụng của nó. Thế giới nầy là của chúng ta. Quí bạn sẵn sàng tham gia chứ?

 

Đạo đức không thể áp đặt từ bên ngoài vì nếu từ bên ngoài (thì đến một lúc nào đó) nó sẽ nổi lên chống lại. Nó phải đến từ bên trong do sự hiểu biết (giác ngộ). Một cá nhân cần được cho cơ hội, tự do và khuyến khích để hiểu biết chính người đó.

Xã hội bao gồm nhiều cá nhân. Con người sống trong các chế độ độc tài như chế độ Cộng sản bị tước đoạt mất tự do; tội ác và sự chống báng xã hội sẽ xảy ra khi cái nắp đè ép bị bật lên.

Chúng ta phải học cách tự sửa vì ta đã có tự do để trở thành những cá nhân có sống thực thay vì chỉ là kẻ tiêu thụ đầy tham muốn.

                                                        ***

                                          T THA  THỨ

Trang 30. Chúng ta nhọc nhằn và loanh quanh với cái gánh nặng tội lỗi mà không biết làm sao buông bỏ nó. Là người thì ai cũng lầm lẫn, làm những việc không nên làm và không làm những việc phải và đáng làm. Rồi tiếc nuối hối hận cứ theo ta mãi từ quá khứ đến hiện tại. Tuy phải nên cảm thấy hối hận vì lỗi lầm của mình nhưng chúng ta phải tiếp tục sống trọn vẹn hơn vì đời sống tự nó là tiếp tục. Ta không thể sống trong quá khứ vì nếu cứ ‘bị’ sống với quá khứ nó chỉ ngăn trở ta mà thôi. Làm sao ta có thể quẳng gánh lo nặng nề của quá khứ đó đi và tiến bước với tấm lòng nhẹ nhàng thơ thới?

Nhiều người tin rằng tội lỗi phải được tha thứ bởi một ‘Đấng Toàn Năng’, có kẻ lại tin là ta phải được cứu rỗi bởi một siêu nhân nào đó, nếu không ta sẽ bị đọa vào Địa ngục. Lại có người thấy chuyện niềm tin là những kỹ thuật tâm lý mà từ đó ta có thể tìm được sức mạnh để đỡ đần trách nhiệm và chấp nhận các hậu quả của các việc làm của mình và tiếp tục sống. Chúng có giá trị vì nếu không có chúng, nhiều người sẽ cảm thấy cuộc sống sẽ khó chịu đựng và sẽ chắc có nhiều trường hợp tự tử hơn bây giờ. Nhưng nếu một kỹ thuật mà không hiểu được tường tận mà trở thành một giáo điều không thể nào thay thế được thì đấy là sự trói buộc thay vì là một phương tiện để giúp ta. Đây là lý do tại sao các kỹ thuật mới phải được liên tục tìm kiếm trước khi những kỹ thuật cũ trở nên cứng nhắc và vô nghĩa.

Rõ ràng là việc ‘Xưng tội’ của phái Thiên Chúa trong đạo Cơ đốc đã được chấp nhận trong thời đại Dương lịch là từ đạo Phật, cùng với các sự việc khác; tuy nhiên nó đã trở thành giáo điều của đạo Chúa, và rất ít người biết đến ý nghĩa thực sự của nó. Hầu hết tín đồ đạo Chúa tin rằng khi họ xưng tội trước linh mục, vị nầy sẽ quở trách họ và có thể làm vài việc giúp họ tự hối lỗi và rồi thế là hết tội và họ có thể bắt đầu trở lại với một lý lịch sạch sẽ tức là tội cũ đã được bỏ qua. Các tín đồ đạo Tin lành, những người cũng không hiểu rõ ràng về việc xưng tội, chế nhạo tín đồ đạo (Thiên) Chúa về việc nầy; thật vậy, một trong những lý do khiến cho Martin Luther, một trong những người thành lập chánh thức phái Tin lành, tách ra khỏi nhánh Thiên chúa La mã là phần nghi lễ để bán chứng- chỉ - tha - thứ, được biết dưới từ ngữ là ‘Xá tội’. Có thể ông không chống chính các chứng chỉ đó mà chống công việc làm ăn sinh lợi của họ; kẻ giàu có thể được tuyên án vô tội bằng cách nầy trong khi người nghèo thì không được. Các thầy tu nói rằng họ là ‘người được Chúa lựa chọn’, họ có khả năng và quyền hạn để tha tội, dĩ nhiên là với một số tiền.

Trang 31. Tại sao chúng ta có thể mua bán vấn đề tội lỗi được? Chắc chắn đồng tiền không thể mua được chuyện nầy. Bằng cách xưng tội nói lỗi của mình cho một người khác là bước đầu tiên để thấy rõ hiểu rõ được chúng để những lần về sau nầy khi phạm những lỗi nhỏ nhặt hay to lớn chúng ta có thể khắc phục chúng.

Phật giáo dạy rằng ta bị trừng phạt bởi tội lỗi của mình chứ không phải chúng như các tôn giáo khác; nếu ta gieo hạt và nếu chúng nẩy mầm và phát triển, ta sẽ có quả chứ không phải người khác có quả. Phật tử không tin có ‘Chúa’ hay một ai hay bất cứ thứ gì khác ban ân hay quở phạt ta; khi chúng ta thoát khỏi hay được tự do ra khỏi (vọng) tưởng đó, chúng ta sẽ có khả năng làm được một cái gì đó cho cuộc đời riêng của mình, và có thể có khả năng kiểm soát cách sống của chúng ta.

Phật tử tụng ai, niệm cái gì? Chắc chắn, chúng ta tụng kinh không phải cho đấng ‘Chúa’ nào, và cũng chẳng phải chúng ta tụng niệm đức Phật vì Ngài chẳng những không bao giờ yêu cầu người ta làm chuyện đó mà trái lại cảnh báo chống lại chuyện nầy. Ngài nói với mọi người là nên học Pháp Phật rồi tự tìm con đường giác ngộ riêng cho mình. Đức Phật không tuyên bố Ngài là người cứu rỗi dưới bất cứ hình thức nào; chỉ có Sự Thật hay Pháp Phật mới cứu và giải thoát ta chứ không phải Phật hay ai khác. Khi hiểu được điều nầy rồi chúng ta sẽ tức khắc tránh được cái bẫy của các sự vật thuộc nhân thế vì nó là cái bẫy chộp bắt rất nhiều người trong chúng ta.

Trang 32. Nhưng có nhiều người thực sự cầu nguyện đến đức Phật, phải không quý bạn? Vâng, ta có thể nói như vậy. Mặc dầu việc nầy không sai trái tuy có thể làm ngăn trở trên đường học Đạo, nhưng nó không hẵn là sai. Bạn cũng biết là nhiều người không có ai để giải bày tâm sự hay vấn đề rắc rối của họ. Rất ít người có các bạn ‘thiện tri thức’ (nói theo Phật và Phạn ngữ là Kalyanamitta) chịu lắng nghe một cách cảm thông mà không phê phán, những người nầy sẽ giúp đỡ và đưa ra lời khuyên hay phê bình khi cần. Nếu thiếu những người bạn nầy thì các khúc mắc sẽ bị ngăn trệ, trở thành mối lo sợ và không thể cũng như không muốn diễn bày với ai. Các khúc mắc đó trở thành nội kết gây nhiều căng thẳng và khốn khổ, lại càng ngày càng lớn hơn và mạnh hơn cho đến một lúc họ phải tìm cách ‘thoát ra’.

Thông thường, nếu chúng ta không tự buông bỏ hoặc được giải bày các khúc mắc khó khăn của mình, chúng sẽ tích tụ và gia tăng mạnh mẽ cho đến khi bất thình lình không kiểm soát được chúng sẽ nổ tung ra như núi lửa và có thể rất nguy hại. Chúng ta cần tìm cách thoát khỏi cái khúc mắc của mình hầu khả năng phá hủy của chúng được giảm thiểu. Vì vậy mặc dầu việc cầu nguyện chư Phật không đúng hẵn theo hình tượng hay ảnh Phật nhưng nó có thể tác dụng như là một cách để thoát khỏi sự căng thẳng hay lo sợ bớt bị áp lực tích tụ. Với kỹ thuật nầy nó có thể hữu hiệu. Ta không nên để ý đến những kẻ phê bình và chỉ trích ta là ‘lạy tạ ảnh tượng’ mà hầu hết đều phạm phải chuyện phê bình không đúng đắn đó. Tín đồ đạo Ki tô cầu nguyện ‘Chúa’ chỉ là cái cách tạo ra hay phóng ra hình ảnh tinh thần vì mặc dầu họ cho rằng ‘Chúa tạo ra Người’ bằng hình ảnh riêng của Chúa nhưng thực sự nó là sự ngược lại: Người tạo ra Chúa theo lối riêng của Người tùy theo niềm hy vọng, mối sợ hãi hay sự suy tưởng do con Người mong muốn!

Trang 33. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, chúng ta phải nhận rằng sự kết án nầy là đúng: có một số  Phật tử quả thật  thờ phượng, cầu nguyện các hình tượng như là các bậc trên trước của họ đồng thời mong cầu được ưu đãi giúp đỡ, v.v...Nhưng nếu người ta hiểu rõ những gì đức Phật dạy thì họ sẽ không cầu nguyện hình tượng. Các hình tượng và tượng thánh chỉ là những biểu tượng mà nhờ vào đó ta tập trung định tâm để nâng cấp mức độ tâm thức của ta lên trên các tầng thiền cao hơn.

Không ai biết đức Phật ra sao? Kinh sách cho ta biết Thân Phật có một số dấu ấn đặc biệt. Nhưng tôi nghĩ rằng các dấu ấn nầy chỉ được nhận ra bởi những người tu tập thần thông đến mức độ nào đó như những người tiên tri hay thấu thị có nghĩa là có khả năng thấy được những sự vật mà nếu không có nó thì không thể nào ‘thấy’ chẳng hạn như các quỉ thần... Trong các kinh sách, có một số trường hợp trong đó người ta đã gặp Phật mà không nhận được ra Ngài. Chắc chắn, nếu các dấu ấn đặc biệt, chẳng hạn như phần nổi lên trên đỉnh đầu, đôi dái tai dài, vòng hào quang chung quanh đầu Ngài, được mọi người nhận ra thì Ngài hẵn sẽ được biết đến một cách phổ biến và bất cứ ai gặp sẽ có thể nhận ra Ngài ngay!

Năm 326 tr.T.l., tức sau 200 năm sau khi đức Phật tịch diệt, A lịch sơn Đại đế (Alexander the Great) đã chỉ huy đoàn quân của mình qua các đèo núi chập chùng thuộc nước A phú hãn ngày nay lại xuyên qua các cánh đồng của xứ Ấn độ. Đại đế chưa từng bại trận nhưng lần nầy ông bị lực lượng của Hoàng đế Chandragupta tức ông nội của A-dục Vương bắt phải dừng chơn tại sông Beas và không cách nào tiến thêm được nữa. A lịch sơn mất tại nước Ba tư trên đường trở về xứ Hy lạp tuy vậy một số ít quân của ông đã định cư tại Ấn độ. Vì có thiên hướng về nghệ thuật và triết học nên người Hy lạp rất ngưỡng mộ Pháp Phật mà họ tiếp cận trong khi sống tại Ấn độ và chính họ là những người đầu tiên tạc tượng đức Phật từ những hang đá dưới hình dạng giống như thần Apollo của họ đại diện cho Ánh sáng và Lý trí. Nhiều tượng tráng lệ từ những ngày đầu tiên hiện nay vẫn còn ở một số các bảo tàng viện.

Trang 34. Các tượng Phật có nhiều dạng: dạng Trung hoa, dạng Ấn độ. dạng Tây tạng, v.v...thời nay ta cũng thấy các dạng tượng mà mắt của Ngài được sơn xanh, tóc Ngài màu xám trông giống Anglo-Saxons! Việc nầy không thành vấn đề mà chúng ta nên hiểu mục đích của các hình tượng nầy thì hơn.

Mọi người biết rằng các tượng, ảnh đều được bắt đầu từ tâm ý của con người giống như tất cả mọi thứ do người tạo ra. Mọi người cũng biết ảnh, tượng của Phật không phải là đức Phật và cũng biết hình tượng Phật sẽ không đưa tay ra lấy trái cây cúng Ngài mà dùng. Vật cúng dường đặt trước hình tượng là tượng trưng cho sự trân quí để tưởng nhớ đến Ngài là bậc Thầy dẫn đường; vì vậy vật cúng dường là tượng trưng cho cái phước của người cung dưỡng nếu họ làm với tâm trí hoàn toàn thanh tịnh. Nó giống như cái cách mà các tín đồ Ki tô giáo đặt hoa lên trên các ngôi mộ thân nhân mình. Họ làm như vậy là để biểu lộ sự kính quí và yêu thương người quá cố chứ không phải họ thờ phượng các ngôi mộ!

Bạn có bao giờ thấy hình tượng Phật với một gương mặt buồn hay có nét đau khổ không? Có thể là bạn đã thấy cũng có thể là không, nếu người tạc tượng có lòng và khéo tay. Nhiều người mộ đạo và có đức tin muốn tạc hay vẽ hình tượng Phật nhưng thiếu kỹ năng nên thường tạo ra hình tượng không được đẹp đẽ nên gây các cảm giác khó chịu trong thời gian dài. Nếu không làm được ta không nên tạo ra các ấn tượng không hay không đẹp; tạo ra một hình ảnh Phật thô xấu là hành động xúc phạm chứ không phải là kính trọng và đó là cơ hội để cho một số người có ác tâm cười đùa. Một hình tượng thô xấu, không may là có khá nhiều tượng như vậy, đã ngăn trở mục đích tốt đẹp của một hình tượng mà đúng ra là để làm phấn khởi chúng sanh với cảm giác an bình, bất thối chuyển và để gợi lên cảm tưởng siêu hình bên trên của một gương mặt tươi cười: đó là Giác Ngộ, Trí Tuệ và Từ Bi.

Bạn hãy ngồi yên lặng và nhìn bất động vào hình hay tượng Phật đẹp đẽ trang nghiêm trong một khoảng thời gian. Để tâm buông xả các mong cầu, ít nhất là tạm thời. Rồi bạn có thể sẽ cảm thấy được một sự yên bình cho chính mình và một nụ cười giống như Phật sẽ như một đợt sóng êm ả trước mặt bạn, sau đó có thể thấm sâu vào trái tim bạn và lúc đó bạn không còn cảm thấy phải bận tâm với bất cứ cái gì cả.

Trang 35. Hình tượng Phật chỉ là một phương tiện, một kỹ thuật chứ không phải là một cứu cánh. Chắc chắn chúng ta không nên bị ràng buộc hình tượng quá đến độ để nó làm trở ngại cho chúng ta và chúng ta cũng không nên cúi đầu trước một ảnh tượng do sợ hãi hay do hy vọng muốn được phước. Khi cúi đầu đảnh lễ Phật, chúng ta làm như thế là do sự tôn kính, lòng tôn kính từ ái chứ không phải sự tôn trọng do sợ sệt. Ta làm như thế là do lòng biết ơn Người đã chỉ ta con Đường đúng đắn để sống trong một thế giới hỗn độn và khó hiểu hiện nay. Không ai chỉ cho ta biết Sự Thật một cách rõ ràng như đức Phật chỉ; hơn thế nữa, Ngài chỉ dẫn như vậy mà không bảo người nghe phải tin hay theo Ngài, mà Ngài chỉ nói thêm là phải tự khảo nghiệm chúng để tìm ra cùng một tình trạng giác ngộ như Ngài đã chứng ngộ.

Hình tượng Phật là để phản ảnh gương mặt thật của chúng ta giống như cái gương và cũng là để gợi lên các đức tánh hay đạo hạnh giống như Phật trong chúng ta ngõ hầu tìm lại được cái tánh giác (tánh phật) ở trong mỗi người chứ không phải ở trong tượng đá.

Nếu ta định nói về ‘thờ phượng thần tượng’, ta phải nhìn gần hơn là tượng hay ảnh. ‘Thần tượng’ phổ biến và mạnh mẽ nhất, mà mọi người ở mọi nơi và mọi thời đều thờ phượng- và từ đó tất cả các thần tượng khác, tượng ảnh khác cũng như vậy-dĩ nhiên chính là cái Tôi của họ, và mọi thứ được dùng trong việc thờ phượng nầy bao gồm cả tôn giáo! Bằng cách nghĩ và nói rằng chỉ có tôn giáo của họ là tôn giáo thật  và rằng tất cả tôn giáo khác là không thật-như nhiều người đã nghĩ và nói như vậy-họ muốn nói là cái Tôi nhỏ bé riêng tư là trung tâm của tôn giáo của họ, giống như con nhện là trung tâm của mạng lưới của nó, khai dụng mọi sự mọi việc theo các cách riêng của nó. Tôn giáo của họ vì vậy trở thành một lối nới rộng cái ngã hay cái tôi của họ và củng cố nó thay vì làm yếu nó đi. Có phải đây là mục đích của tôn giáo không?

Trang 36. Hãy xét đến tôn giáo của bạn xem ai hay cái gì là trọng tâm, nếu bạn cảm thấy mình tự được ‘đăng quang’ hay mình tự ‘tấn phong’ mình, trường hợp nầy bạn là người ‘thờ phượng thần tượng’ và cái ngã của bạn là thần tượng!

Tuy nhiên trong khi việc lễ lạy đức Phật không phải là chuyện xấu mà là một kỹ thuật để làm giảm bớt căng thẳng thì chúng ta phải tĩnh thức và không để nó trở thành một thói quen đến nỗi phải bị ‘ghiền’ nó. Nó nên dùng đến chỉ khi nào bị căng thẳng, cũng giống như một người bị đau chân đi không được phải dùng cặp nạng để giúp anh ta đi. Xa hơn nữa ta có thể phát triển tính tự lập để hiểu biết rằng dù chứng nghiệm thế nào đi chăng nữa nó chỉ là kết quả của các nguyên nhân và vì thế nên chấp nhận nó là như vậy: chấp nhận, quán xét và đánh giá để thấy những gì đã tạo thành nó và nó sẽ đi tới đâu.

Nếu bạn cầu nguyện trước hình tượng Phật, thổ lộ vấn đề của mình và khẩn cầu để được giúp đỡ, cái hình tượng vẫn cứ ngồi đó, với một cái cười không thay đổi trên gương mặt, không nói một lời nào, cũng không chuyển một bắp thịt nào. Nếu bạn hỏi các số may để chơi xổ số hay nhờ giúp đỡ ý kiến cho một cuộc phỏng vấn tìm việc, hình tượng Phật sẽ không thầm thì để cho bạn biết số nào là số may: ‘‘Mua số nầy nầy. . .’’; nó cũng không nói: ‘‘Đừng lo, ta sẽ tính dùm cho’’. Câu trả lời cho các lời cầu nguyện của bạn, nếu quả thật có câu trả lời, phải là từ chính bạn, và điều nầy tùy thuộc vào sự tự buông bỏ và tự tháo gỡ của chính bạn. Thường là trong khi nói lên vấn đề của mình, chúng ta lại tự tìm được câu trả lời cho mình. Đó là lý do mà nhiều thầy dạy trong nhiều môn học đã tự học được những gì do chính mình dạy. Cái nỗ lực nói lên và làm sáng tỏ vấn đề đã đem lại thêm sự hiểu biết cho người thầy, để có lúc ông ấy (hay bà ấy) đôi khi có thể tự ngừng lại giữa câu, suy nghĩ: ‘‘Mình đang nói cái gì đây? Ta đã nói chuyện nầy nhiều lần trước đây rồi nhưng ta đã không bao giờ hiểu nó tường tận như hiện nay!’’

Vì thế, cầu nguyện với đức Phật, nói với hình tượng, nếu bạn không có ai để tâm sự, thì đó là phương thức trị liệu tốt cho bạn. Tuy nhiên, hãy nên nhớ: tượng chỉ là bằng đá hay bằng gỗ và đức Phật không phải là người cứu rỗi hay là một văn phòng thông tin mà là người Thầy cho những lời khuyên thực tế trong cuộc sống. Cũng vì vậy bạn nên học Pháp của Ngài chỉ dẫn, cố gắng áp dụng vào đời sống để tránh được tất cả các khó khăn và cuối cùng nó sẽ được tiến hành với trí tuệ thay vì với sợ hãi.

Trang 37. Để tạo được tiếng tăm cho tốt không phải là một điều dễ dàng, tốn thời gian lâu, mất nó lại rất mau. Cũng vậy trong khi khó làm phai nhòa được tiếng xấu thì tiếng tốt bị mất đi chỉ cần trong chốc lát.

Nhiều người trong chúng ta sống ở đời thường hay tranh cải hoặc bất đồng với tha nhân và không bao giờ cố gắng giải quyết các việc đó. Nếu không thể tránh hoàn toàn sự mâu thuẫn cùng việc tranh cải, ta nên cố gắng giải quyết chúng càng sớm càng tốt hầu giúp chúng không đặc cứng lại giống như bê tông cốt sắt; trong khi bê tông còn ướt ta có thể làm cái gì đó để thay đổi nó, khi nó kết chặt lại rồi khó mà làm suy suyển nó.  Chúa Giê su ở Nazareth khuyên mọi người nên làm hòa với kẻ thù trong khi họ vẫn còn ở cạnh với chúng ta, lúc đó ta có cơ hội làm cái gì đó, trong trường hợp kẻ thù tố cáo ta ra tòa. Vì tính ương ngạnh và chấp thủ của con người, khá nhiều trường hợp dại dột được đem ra tòa án mà lẽ ra có thể và nên thanh thỏa trước; đó cũng là chỉ vì tính tự hào và mức độ dại dột chẳng ai sẵn sàng nhận lỗi mình. Đôi khi có người hận hiềm những mối buồn giận cũ cả năm nên không tha thứ và quên lãng vì thế chúng cứ nung nấu luôn trong lòng luôn. Nó mất rất nhiều năng lượng để giữ mối mâu thuẫn và ghét bỏ ấy trong lòng; có đáng để                       nó h