| Tiếng Việt |
|
Giới Luật |
| ...... ... | . |
Ðối với tăng sự phổ thông, là những tăng sự ngoài việc bố-tát (uposatha) và việc Tự tứ (pavaara.naa), vị Tỳ kheo không vào ngồi dự với tăng được, thì thỉnh một vị Tỳ kheo nào đó đến và nói như sau: Chanda.m dammi chanda.m me hara chanda.m me aarocehi (ba lần) Nếu nhờ vị cao hạ hơn thì nói: Chanda.m dammi chanda.m me haratha chanda.m me aarocetha (ba lần). Tôi xin gởi thỏa hiệp, Ngài hãy đem đi và trình lời thỏa hiệp của tôi. Phần vị Tỳ kheo lãnh lời, khi đến nơi tăng trước lúc làm tăng sự, hãy trình bạch cho tăng biết sự thỏa hiệp của Tỳ kheo vắng mặt, như sau: Aayasmaa bhante itthannaamo mayha.m chanda.m adaasi tassa chando mayaa aahato saadhu bhante sa"ngho dhaaretu. Bạch đại đức tăng, tôn giả itthannaama đã trao lời thỏa hiệp cho tôi, lời thỏa hiệp của vị ấy tôi đã mang đến rồi, kính mong chư tăng ghi nhận. Nếu trình tăng lời thỏa hiệp của Tỳ kheo thấp hạ hơn mình thì nói: Itthannaamo bhante bhikkhu mayha.m chanda.m adaasi tassa chando mayaa aaha.to saadhu bhante sa"ngho dhaaretu. Bạch đại đức Tăng, Tỳ kheo itthannaama đã đưa lời thỏa hiệp cho tôi, lời thỏa hiệp của vị ấy tôi đã mang đến rồi, kính mong chư Tăng ghi nhận. * * * Ðối với tăng sự bố-tát, là tăng sự tụng giới bổn và sám hối thanh tịnh của chư Tỳ kheo trong ngày bố-tát (uposatha). Vào ngày chư tăng làm lễ bố-tát, nếu vị Tỳ kheo nào trong chùa vì hữu sự không thể vào chánh điện dự tăng sự bố-tát, thì phải đưa lời thỏa hiệp và tỏ sự thanh tịnh (gọi chung là chandaparisuddhi) để nhờ vị Tỳ kheo bạn đem trình Tăng. Cách đưa lời thỏa hiệp tăng sự (chanda) giống như cách đã trình bày; cách tỏ sự thanh tịnh (parisuddhi) như sau: Paarisuddhi.m dammi paarisuddhi.m me hara paarisuddhi.m me aarocehi [22]. Tôi tỏ sự thanh tịnh, ông hãy đem đi và trình sự thanh tịnh của tôi. Phần vị Tỳ kheo nhận chuyển lời, sau khi đến chỗ Tăng hội trước lúc làm tăng sự tụng giới, hãy trình tăng lời thỏa hiệp của Tỳ kheo bệnh rồi tình tăng sự tỏ thanh tịnh của vị ấy như vầy: Aayasmaa bhante itthannaamo [23] gilaano pari-suddho’ ti pa.tijaani parisuddho’ ti ta.m sa"ngho dhaaretu. Bạch đại đức Tăng, Tôn giả itthannaama bị bệnh, vị ấy đã tự nhận thanh tịnh, xin chư Tăng nhận biết vị ấy là người thanh tịnh. Hoặc có thể trình một lần cả hai việc, lời thỏa hiệp và sự thanh tịnh của Tỳ kheo bệnh, như sau: Aayasmaa bhante itthannaamo gilaano may-ha.m chanda~nca paarisuddhi~nca adaasi tassa chando ca parisuddhi ca mayaa aahaỉaa saadhu bhante sa"ngho dhaaretu. Bạch đại đức Tăng, Tôn giả itthannaama bị bệnh, vị ấy đã đưa lời thỏa hiệp và sự thanh tịnh với tôi; lời thỏa hiệp và sự thanh tịnh của vị ấy tôi đã đem đến đây, kính mong chư tăng ghi nhận. * * * Ðối với Tăng sự Tự tứ, là tăng sự yêu cầu chỉ lỗi làm trong ngày mãn thời an cư tức là ngày Tự tứ (pavaara.naa). Vào ngày chư Tăng làm lễ Tự tứ, nếu vị Tỳ kheo nào trong chùa bị bệnh không thể vào họp tăng làm lễ được thì hãy đưa lời thỏa hiệp và lời Tự tứ (gọi chung là chandappavaaranaa) nhờ vị Tỳ kheo bạn đem trình tăng. Cách đưa lời thỏa hiệp tăng sự (chanda) cũng giống như cách đã trình bày ở trước; cách đưa lời Tự tứ (pavaara.naa) như sau: Pavaara.na.m dammi pavaara.na.m me hara pavaara.na.m me aarocehi. Tôi đưa lời Tự tứ, ông hãy đem đi và trình lời Tự tứ của tôi. Có nói cách khác cũng được: Pavaara.na.m dammi pavaara.na.m me hara mam atthaaya pavaarehi. Tôi đưa lời Tự tứ, ông hãy đem đi và hãy làm Tự tứ cho tôi. Phần vị Tỳ kheo nhận chuyển lời, hãy đi đến Tăng, trước khi Tăng làm Tự tứ hãy trình lời thỏa hiệp và lời Tự tứ của Tỳ kheo bệnh, như sau: Aayasmaa bhante itthannaamo gilaano may-ha.m chanda~nca pavaara.na~nca adaasi tassa chando ca pavaara.naa ca mayaa aahaỉaa saadhu bhante sa"ngho dhaaretu. Bạch đại đức Tăng, tôn giả itthannaama bị bệnh, vị ấy đã đưa lời thỏa hiệp và lời Tự tứ cho tôi; lời thỏa hiệp và lời Tự tứ của vị ấy tôi đã đem đến, kính mong chư Tăng ghi nhận. DỨT PHÉP ÐƯA THOẢ HIỆP TĂNG SỰ. * * *
14. PHÉP NHẬP HẠ (vassuupagata)Mùa mưa (vassaana-utu) là thời an cư cấm túc của chư Tỳ kheo. Theo Phật lịch thì mùa mưa chính thức bắt đầu từ ngày 16 tháng 6 âl cho đến rằm tháng 10 (4 tháng), nhưng luật có qui định thời an cư chỉ 3 tháng. Do đó việc nhập hạ của chư Tỳ kheo có hai thời, thời tiền an cư (purimikaa vassuupanaayikaa) và thời hậu an cư (pacchimikaa vassuupanaayikaa). Thời tiền-an-cư từ ngày 16 / 6 đến rằm / 9 âl. Thời hậu-an-cư ngày 16 / 7 đến rằm / 10 âl.Tỳ kheo nhập hạ trong thời tiền an-cư, chỉ khi nào có việc không kịp thời tiền an-cư mới theo thời hậu an-cư. Ðến thời an cư mà vị Tỳ kheo cố ý không nhập hạ thời nào thì phạm tác ác (dukkata). Cách thức nhập hạ là đến ngày an cư, sau khi quyết định nơi chỗ, hãy quét dọn sạch sẽ và tích chứa nước dùng đầy đủ (nếu chỗ ở hiếm nước). chỗ an cư có thể là một ngôi chùa (aaraama),ngôi tịnh thất (vihaara), một cư xá (aavaasa), hoặc một liêu cốc riêng (senaasana); định nhập hạ ở đâu thì nguyện ở đó. Có thể phát nguyện một mình, hoặc có nhiều vị cùng nhập hạ thì phát nguyện đồng loạt. Lời phát nguyện nhập hạ như sau: Imasmi.m aaraame [24] ima.m temaasa.mvassa.m upemi [25] Tôi nguyện an cư mùa mưa tại chùa nầy hết ba tháng. Trong thời gian an cư nếu rời khỏi chỗ qua đêm thì đứt hạ, trừ khi có nguyện giải giới. Tỳ kheo có việc ần làm như được tin cha, mẹ, thầy, bạn đau bệnh, hoặc Tăng sự, hoặc cư sĩ thỉnh mời thì được phép nguyện giải giới ra đi nhưng hạn trong bảy ngày phải về trước khi mặt trời mọc ngày thứ bảy. Cách nguyện giải giới an cư như sau: Sace me antaraayo natthi sattaahabbhan-tare aha.m puna nivattissaami. Nếu không có sự trở ngại cho tôi, tôi sẽ trở về trong vòng bảy ngày. Nguyện ra lời hoặc nghĩ trong tâm cũng được, hoặc báo với vị khác ý nghĩa đi đó cũng được. Cần chú ý là ngày đầu mới nguyện nhập hạ chưa được một đêm thì không được phép giải giới an cư để đi; mặc khác, khi chỉ còn vài ngày nữa là mãn hạ thì dù có đi luôn cũng phải nguyện giải giới bằng không sẽ đứt hạ. DỨT PHÉP NHẬP HẠ. * * *
15. PHÉP XỬ DỤNG Y BÁT* Sử dụng y (ciivara). Y là trang phục của vị Tỳ kheo. Y phục chính có 3 thứ, gọi là tam y (ticiivara):
Ngoài tam y còn có 6 thứ phụ thuộc khác:
Y phụ tùng gồm có :
Tất cả các trang phục trên, Tỳ kheo đều phải nguyện thành tên; riêng về tam y phải làm dấu hoại sắc trước khi nguyện tên. * Cách làm dấu tam y. Dùng mực một trong 3 màu là màu xanh hoặc màu xám hay màu đen khuyên tròn ở bốn góc y, điểm nhỏ cở mắt gà hay mút đủa, vừa đánh dấu vừa nguyện: Ima.m bindukappa.m karomi (3 lần). Tôi làm dấu y nầy. * Cách nguyện đặt tên y. Chú tâm đến lá y rồi chú nguyện: Ima.m [26] sa"nghaa.ti.m [27] adhi.t.thaami (3 lần). Tôi nguyện đây là y Tăng già lê. * Xả bỏ y cũ. Khi đổi thay y mới hoặc không dùng xài nữa thì phải xả bỏ y cũ. Chú tâm đến y đó và nói: Ima.m [28] sa"nghaati.m [29] paccuddharaami (3 lần). Tôi xả bỏ y tăng già lê nầy. * Sử dụng bát (patta) Bình bát có 2 thứ là ayopatta (bát sắt) và mattikapatta (bát đất). Tỳ kheo sử dụng bình bát cũng phải nguyện đặt tên; bình bát không cần làm dấu (bindu). * Cách nguyện bát. Chú tâm đến cái bát và nguyện rằng: Ima.m [30] ayopatta.m [31] adhi.t.thaami. (3 lần) Tôi chú nguyện bát sắt nầy. * Cách xả bỏ bình bát. Khi không dùng bình bát đó nữa thì phải xả bỏ, chú tâm như sau: Ima.m [32] patta.m paccuddharaami. (3 lần) Tôi xả bỏ bình bát nầy. * * * Y bát dù chưa nguyện xả bỏ nhưng khi bị rách, lủng lổ thì xem như đã đứt tên nguyện. Y bị rách thân vải trong cách đường biên quá 8 cm (4 ngón tay), chỗ rách lổ vừa đầu ngón tay, như vậy là hỏng. Bình bát bị rò rỉ lủng bể phần dưới đáy, lổ vừa lọt hạt cơm, như vậy là hỏng. Y có thể đổi thay tìm y mới, dù y cũ chưa rách; riêng bình bát nếu chưa lủng bể quá năm dấu thì không được tìm đổi bình bát mới. DỨT PHÉP XỬ DỤNG Y BÁT. * * *
16. PHÉP KÝ GỞI Y BÁT (vikappa)Sự ký gởi giống như ký thác cái gì cho ai, để không bận tâm với cái đó nữa. Y dư (atirekaciivara) và bát dư (atireka-patta), Tỳ kheo giữ lâu lắm là mười ngày, nếu quá hạn sẽ phạm luật ưng xả đối trị. Trường hợp giữ không phạm tội là y bát dư đã ký gởi (vikappa) cho người khác rồi. Có thể ký gởi đến vị Tỳ kheo khác hoặc vị sa di nào đó cũng được; sự ký gởi có hai cách: Trực tiếp và gián tiếp. * Cách ký gởi trực tiếp. Gởi ngay vị ấy, gọi là ký gởi trực tiếp. Tỳ kheo muốn ký gởi y bát cho vị nào thì đem y bát đến tìm vị ấy và nói như sau: Ima.m [33] ciivara.m [34] aayamato vikappemi. Tôi ký gởi y nầy đến tôn giả. Vị nhận ký gởi ấy nên ủy quyền cho Tỳ kheo người gởi, như sau: Ima.m ciivara.m mayha.m santaka.m pari-bhu~nja vaa visajjehi vaa yathaapaccaya.m vaa karohi. Y nầy là sở thuộc của tôi, Ngài hãy dùng xài hoặc phân phát hoặc xử dụng tuỳ duyên. * Cách ký gởi gián tiếp. Ký gởi cho người vắng mặt, gọi là gởi gián tiếp. Tỳ kheo muốn ký gởi cho vị sư bạn nhưng không được giáp mặt thì hãy nói với một vị khác thay mặt, nói như sau: Ima.m ciivara.m [35] itthannaamassa bhikkhuno [36] vikappemi. Tôi ký gởi y nầy đến Tỳ kheo itthannaama. Vị được nhờ ký gởi cũng nên đại diện để ủy quyền lại Tỳ kheo người gởi, như sau: Ima.m ciivara.m itthannaamassa bhikkhuno santaka.m paribhu~nja và vissajjehi vaa yathaapaccaya.m vaa karohi. Y nầy là sở thuộc của Tỳ kheo itthannaama, Ngài hãy dùng xài hoặc phân phát hoặc xử dụng tùy duyên. DỨT PHÉP KÝ GỞI Y BÁT. * * *
Luật nghi tổng quát,
chỉ trình bày những nghi thức tăng sự -CHUNG-
[1]
Nếu sám hối với vị nhỏ hạ hơn mình thì đổi tiếng xưng hô là aavuso
(hiền giả).
[2]
Nếu sám hối tội ưng đối trị thì nói eka.m paacittiya.m; tội tác ác
thì nói eka.m dukkata.m; tội ác khẩu thì nói eka.m dubbhaasita.m.
[3]
Chứng cho vị lớn hạ hơn mình thì hỏi là passatha bhante ta.m aapatti.m.
[4]
nhắc nhỡ vị lớn hạ hơn thì nói là: aayati.m bhante sa.mvareyyaatha.
[5]
Cần thay đổi tiếng xưng hô theo hạ lạp.
[6]
Nếu là tội khác thì đổi dve paacittiyaayo, hay dve dukkataayo, hay dve
dubbhaasitaayo.
[7]
Cần thay đổi tiếng xưng hô theo hạ lạp.
[8]
Thay đổi tội danh nếu cần, như paacittiyaayo hay dukkataayo
hay dubbhaasitaayo.
[9]
Cần đổi tiếng xưng hô theo hạ lạp.
[10] Tội ưng phát lộ có
thể có nhiều vị đồng phạm trong 1 điều luật, và như thế các vị có thể cùng
sám hối, phải đổi aapajji.m ra là aapajjimhaa, và
pa.tidesemi ra là pa.tidesema.
[11] xả nhiều y dư thì
nói imaani ... ciivaraani dasaahaatikkantaani nissaggiyaani imaan’
aaha.m ...
[12] Nếu Tỳ kheo chủ y
là vị trưởng lão cao hạ hơn tất cả các Tỳ kheo tăng hội, thì dùng tiếng
aavuso thay thế bhante.
[13] Lời tuyên ngôn
trình tăng để tự nhận đại diện Tăng chứng tội cho Tỳ kheo sám hối ưng xả
đối trị, sẽ được áp dụng giống nhau trong mọi trường hợp khác.
[14] Tùy theo hạ lạp của
vị sám và vị chứng phải biết dùng tiếng aavuso hay bhante
cho hợp lẽ như các trường hợp lễ sám hối đã nói trước.
[15] Nếu sám hối hai tội
ưng xã thì nói dve nissaggiyaayo paacittiyaayo aapanno taa ...; nếu
nhiều tội thì nói sambahulaa nissaggiyaayo paacittiyaayo aapanno taa
...
[16] Với nhiều y thì cần
thay đổi văn tự thích hợp, đổi imaani ciivaraani thay ida.m ciiara.m,
đổi nissaggiyaani thaynissag-giya.m, đổi nissa.t.thaani thay
nissa.t.tha.m.
[17] Tùy theo hạ lạp mà
dùng tiếng bhante hay aavuso.
[18] Nếu là y vai trái
thì nói là uttaraasa"ngo; nếu là y nội thì nói là antaravaasako.
[19] Ðối với y
uttaraasa"ngo hay y antaravaasako thì phải đổi là
vippavu.t.tho
[20] Nếu là y
uttaraasa"ngo hay y antaravaasako thì chỗ nầy phải là
nissaggiyo.
[21] Lưu ý sắp văn tự
trong lời khai tội với các nghi thức tuyên ngôn chứng tội ... cho hợp
nhau.
[22] Nếu nói với vị cao
hạ hơn mình thì nói là haratha... aarocetha.
[23] Nếu chuyển lời
trình tăng giúp vị Tỳ kheo nhỏ hạ hơn mình, thì nói Itthannaamo bhante
bhikkhu gilaano ... v.v...
[24] Thay đổi tùy theo
chỗ an cư.
[25] Nếu nhiều vị đồng
nguyện hạ thì nói upema.
[26] Nếu nguyện y trong
tầm tay thì nói ima.m , nếu ở ngoài tầm tay thì nói eta.m.
[27] Thay đổi tên trang
phục một trong chín thứ đã kể trên: uttaraasa"nga.m, antaravaasaka.m
... v. v...
[28] Nếu vật ngoài tầm
tay thì nói eta.m.
[29] Xả bỏ thứ y nào thì
nói tên y đó.
[30] Nếu bình bát để
ngoài tầm tay thì nguyện là eta.m.
[31] Nếu nguyện bát đất
thì đổi là mattikapatta.m. Hoặc nguyện là patta.m cho cả bát
sắt và bát đất cũng được.
[32] Nếu ngoài tầm tay
thì nói eta.m.
[33] Nếu gởi y bát để
ngoài tầm tay thì nói Eta.m.
[34] Nếu gởi bình bát
thì nói patta.m.
[35] Chú ý thay đổi cần
thiết tùy theo vật trong tầm tay hoặc ngoài tầm. Thay đổi tùy theo y (ciivara.m)
hay bát (patta.m). Thay đổi số lượng tùy theo ít hay nhiều.
[36] Nếu là Sa di thì nói itthannaamassa saama.nerassa; nếu là Tỳ kheo cao hạ hơn thì nói itthannaamassa aayasmato.
|
Biên tập
nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng
góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com