Ðáp: - Tối thiểu là năm người tiền an cư
mới được thọ y Ca Thi Na. Người phá an cư, người hậu
an cư, người ở trú xứ khác không được. Nếu trú xứ không
đủ năm người thì được phép mời chúng tăng ở chùa khác
đến cho đủ túc số để thọ. Tỳ kheo khách đến cho đủ
túc số thì không được thọ (chia phần y).
Nếu trú xứ có bốn tỳ kheo và một Sa di, an
cư sắp xong, cho sa di ấy thọ đại giới để đủ túc số
năm người thọ y Ca Thi Na. Vị tân tỳ kheo ấy cũng được
thọ.
Một tỳ kheo và bốn sa di thọ đại giới cũng
như trên.
Một trú xứ có năm hay trên năm tỳ kheo nhưng
không biết cách thọ y Ca Thi Na, được phép thỉnh một tỳ
kheo biết pháp ở trú xứ khác đến tiến hành pháp yết ma
thọ y Ca Thi Na. (Vị ấy) được phép tiến hành pháp yết
ma nhưng không được chia phần y.
Ðáp: - Y của cả bảy chúng và y của chư thiên
đều được nhận để làm y Ca Thi Na.
Nếu người không hiểu cách làm y Ca Thi Na đến
hỏi thì tỳ kheo nên dạy họ. Y Tăng Già Lê (y nhiều
lớp), Uất Ða La Tăng (y vai trái) hay y An Ðà Hội (y nội),
bất kỳ loại nào cũng được thọ làm y Ca Thi Na.
Vào ngày 16 khi minh tướng xuất hiện, đem
vải để may y Ca thi na đến giao cho tăng. Tỳ kheo nên nói
với chủ y rằng cần có số lượng kim, chỉ và tỳ kheo làm
y, nhuộm y.
Nghe xong, thí chủ nên cúng dường thức ăn
uống theo (số lượng) tỳ kheo làm y. Người thọ y Ca thi na
cho tăng phải biết cách thức thọ y. Nếu là vải may y, trước
tiên phải giặt sạch đưa cho nhiều tỳ kheo cùng nhau cắt,
ráp, may lại và ngay ngày hôm ấy phải nhuộm, làm dấu xong
rồi thọ.
Nếu có nhiều người đưa y Ca thi na đến,
chỉ thọ một y, phần còn lại thì phân chia, nên yết ma để
thọ.
Tăng đem y Ca thi na dâng cho ai? Nên dâng cho vị
mà y bị rách. Nếu số tỳ kheo có y hư rách nhiều thì
chọn vị già để dâng. Nếu không có vị già thì chọn
lớn tuổi hạ nhất, không được dâng cho người tham lam
keo kiệt.
Phật bảo các tỳ kheo: - Nên thọ trì pháp
yết ma về y Ca thi na như vậy.
Trong luật đã nói rằng nếu y (may) chưa xong
thì gọi một tỳ kheo khác cùng làm cho xong, không được nói
(mình có) đạo đức để trở ngại việc may y, trừ người
bệnh.
Pháp sư nói: - Tại sao đối với y Ca thi na có
sự ân cần như vậy? Vì được chư Phật khen ngợi.
Thời quá khứ, đức Phật hiệu Liên Hoa có đệ
tử Thanh văn tên Tu Xà Ða. Vị này làm y Ca thi na chưa xong
(trong ngày) nên được đức Phật sai một vạn sáu ngàn
tỳ kheo tập trung đến cùng (giúp) làm y Ca thi na.
Sau khi được làm xong, vị tỳ kheo trì y xả y
Tăng Già Lê đang thọ trì (và nói rằng) đây là y Ca thi na,
tôi xin thọ trì - nói ba lần như vậy. Sau khi nói ba lần,
đặt y này trên người, mặc y bày vai trái đi đến trước
thượng tọa, chắp tay hướng về chư tăng thưa rằng đại
đức, con theo đúng pháp thọ trì y Ca thi na của tăng, xin tăng
tùy hỷ.
Vị thượng tọa đứng dậy, mặc y bày vai trái,
chắp tay hướng về Tăng mà nói rằng trưởng lão thọ trì
y Ca thi na này của tăng đúng pháp, tôi xin tùy hỷ.
Tuần tự đến các vị hạ tọa cũng nói như
vậy. Chư tăng hay nhiều người đều không được thọ y Ca
Thi Na. Y Ca thi Na chỉ được thọ với một người. Chư tăng,
nhiều người tùy hỷ theo thì sau đó cũng thành tựu y Ca
thi Na.
Nếu người nào đem cả ba y dâng đến tăng để
làm y Ca thi Na và họ nói rằng vị nào thọ y Ca thi Na thì
được cả ba y (này) thì tùy theo lời thí chủ mà dâng cả
ba y đến người thọ y, các vị khác trong tăng không được
nhận.
Y Ca thi Na được thọ xong, chư tăng được dâng
các lợi dưỡng, vật thường thì được phân chia, vật quý
trọng thuộc về tứ phương tăng.
Nếu trong một cương giới bố tát có nhiều
trú xứ thì không được thọ y Ca thi Na riêng, nên hòa hợp
lại một chỗ để theo pháp thọ một y Ca thi Na, không được
may sẵn, chỉ nên (đo) lấy dấu sẵn, người được giữ y
mang y chưa may ra ngoài cương giới.
Ngoài cương giới là chùa khác.
Pháp sư nói: (người được chọn) thọ y Ca
thi Na rồi, nhận lấy (vải may y) và ra ngoài cương giới (đến
chùa khác để làm y).(?)
Vì muốn sống an lạc nên không có ý trở
lại: tỳ kheo ra khỏi cương giới rồi, thấy trú xứ
(mới) có phòng ở tốt, nên có ý không trở lại thì bị
mất trú xứ trước, sau đó mất công đức y... Các cău văn
khác trong luật đã nói rõ.
Ta không (nhận) làm y và cũng không trở về:
nếu đã có ý nghĩ này thì cả trú xứ và công đức y đều
mất.
Mất do (không đúng với) thời gian làm y: người
được làm y, trước mất trú xứ, sau đó mất y công đức.
Mất do nghe: trước mất y công đức, sau mất
trú xứ.
Không còn sự mong cầu (có đủ vải để may
y): trước mất trú xứ, sau khi mất sự mong cầu (vải) thì
lại có (vải) theo sự mong cầu hoặc là có (vải) nhưng không
do mong cầu.
Văn này trước sau thay đổi nhau nên thành
nhiều câu chứ không có ý nghĩa sâu xa, trong luật đã nói
rõ.
Hết phần Kiền Ðộ Ca thi Na
(Kathinakkhandhakavan-nanà nitthità).
Người đang hành pháp biệt trú, nếu có người
thỉnh hoặc cho người khác thọ giới thì được phép tạm
thời ngừng hành pháp, sau khi xong việc trở lại tiếp tục
hành.
Khi xả hành pháp (biệt trú) nên nói thế này:
tôi xin xả pháp Ba Lị Bà Sa (parivàsa - hành biệt trú), nói
ba lần.
Ðối với việc hành biệt trú pháp Ma Na Ðỏa
(Mànatta - tùy thuận sự giáo dục của Tăng), người đang
chấp hành pháp này mà các tỳ kheo (ở đó) đi vắng hết,
thì chỉ cần tâm niệm rằng nếu có tỳ kheo đến, ta sẽ
thưa (với họ). Nếu trong suốt sáu ngày (hành pháp này) không
có tỳ kheo nào để thưa trình thì cũng được xuất tội.
Nếu trong chùa có nhiều tỳ kheo lai vãng nên
khó thưa trình, vào ngày được xả hành pháp, khi minh tướng
chưa xuất hiện, đưa bốn hay năm tỳ kheo ra ngoài cương
giới, ngoài tầm đá ném, người thọ hành pháp bạch tăng
rằng con hành pháp đã qua... ngày, còn lại... ngày.
Nếu trong cương giới có tỳ kheo đi ra đến nơi
đang hành pháp thì nên bạch (với họ). Nếu không bạch thì
bị mất đêm (số ngày đã hành pháp).
Nếu có tỳ kheo đi theo, thọ hành pháp xong,
khi họ trở về nên để lại một vị chờ minh tướng
xuất hiện để xả hành pháp rồi cùng nhau về chùa (làm)
theo như pháp trước đây, đủ sáu đêm thì được xuất
tội.
Pháp xuất tội trong luật bản đã nói rõ nên
không nêu ra nữa.
Bấy giờ, tại một trú xứ ở Câu Diệm Di có
hai tỳ kheo: một vị luật sư, vị kia là kinh sư.
Một hôm, vào nhà xí, sau khi sử dụng chậu nước
để rửa xong, vị kinh sư không đổ nước (thừa) ra và úp
chậu xuống. Vào nhà xí, thấy còn để nước thừa trong
chậu rửa, vị luật sư hỏi kinh sư rằng ai vào nhà xí mà
không đổ nước thừa và úp chậu xuống?
Vị kinh sư đáp: - Chính tôi.
Vị kinh sư đáp: - Tôi thật không biết tội tướng.
Luật sư nói rằng: - Thầy phạm tội Ðột-cát-la.
Vị kinh sư nói: - Nếu phạm tội Ðột-cát-la
thì tôi phải sám hối.
Kinh sư nói: - Không cố làm.
Luật sư: - Nếu không cố ý làm thì không có
tội.
Vị kinh sư nghe rõ lời luật sư nói là không
có tội.
Trở về phòng, vị luật sư nói với đệ tử
của mình rằng: vị kinh sư kia không biết phạm, chẳng
biết không phạm.
Nghe thầy mình nói như vậy, đệ tử vị
luật sư nói với đệ tử vị kinh sư rằng thầy ông không
biết phạm hay không phạm gì cả.
Nghe như vậy, đệ tử vị kinh sư đến nói
với thầy mình về sự việc ấy.
Nghe đệ tử mình nói, vị kinh sư bảo họ
rằng luật sư này trước đây nói ta vô tội, nay lại nói
ta có tội, luật sư ấy nói dối.
Nghe thầy mình nói như vậy, đệ tử của kinh
sư nói với đệ tử luật sư rằng thầy ông phạm tội nói
dối.
Nghe nói như vậy, đệ tử vị luật sư đem thưa
lại thầy mình. Cứ như vậy, sự việc này lan rộng ra
trở thành cuộc tranh cãi lớn. Sau đó, vị luật sư tìm
được lỗi của kinh sư nên tập họp tăng để cử tội
vị này và tác pháp yết ma cử tội. Do đó, trong luật nói
hòa hợp cử tội.
Hỏi: - Tại sao bằng năng lực thần thông, đức
Phật rời chỗ ngồi đi đến nước Xá Vệ mà không nói
với các tỳ kheo?
Ðáp: - Nếu ở giữa chúng tăng, đức Phật làm
vị phán quyết thì người thắng lý sẽ hoan hỷ, người
thua lý sẽ nói rằng đức Phật thiên vị cho nhóm người
kia và phỉ báng Như Lai rằng Ngài có yêu thương và ghét
bỏ. Do phỉ báng Phật nên khi qua đời họ bị đọa địa
ngục. Cho nên đức Phật rời chỗ ngồi ra đi mà không
chịu phán quyết cho họ.
Hết phần Kiền Ðộ về Câu diệm di
(Kosambhikkhandh-akavannanà nitthità).
Phần Chiêm ba kiền độ không giải thích
(Campeyyak-khandhakavannanà nitthità).
Tranh cãi nhau bằng lời thì diệt bằng hai pháp
tỳ ny (là) hiện tiền tỳ ny (Sammukhàvinaya) và đa mích tỳ
ny (Yebhuyyasika-phán đoán theo số đông có đạo đức). Ưùc
niệm tỳ niệm (Sativinaya) chỉ áp dụng cho bậc tỳ kheo ái
tận cho đến bậc A Na hàm chứ không dùng cho phàm phu.
Ða mích tỳ ny là đến khắp nơi tìm các vị
tỳ kheo biết pháp để phán quyết nên gọi là đa mích (tìm
nhiều) tỳ ny.
Ma Di (Màtika) là hai bộ ba la đề mộc Xoa
(giới bản của tăng và ny).
Nếu hành Xá La (Salaka-thẻ bỏ phiếu) mà bên
nhiều thẻ (là) phi pháp thì thu thẻ xướng lên rằng sáng
mai tiến hành phát thẻ lại.
Trong thời gian đó, lại tìm kiếm những người
cùng phe như pháp.
Nếu thượng tọa lấy thẻ phi pháp thì người
đếm thẻ nói nhỏ riêng rằng thượng tọa tuổi già sao
nắm lấy thẻ phi pháp như vậy, nên bắt lấy thẻ đúng pháp.
Hết phần bảy pháp diệt sự tranh cãi (Satta
adhikaranasamathà).
Tại sao đức Phật không cho người nữ xuất
gia? Vì cung kính pháp vậy. Nếu độ cho người nữ được
xuất gia thì chánh pháp chỉ tồn tại được năm trăm năm.
Do đức Phật chế tám pháp tôn kính cho tỳ kheo ny nên chánh
pháp lại được tồn tại một ngàn năm.
Pháp sư nói: - Sau một ngàn năm, Phật pháp
bị diệt tận (phải không?).
Ðáp: - Không phải bị diệt tận, trong một ngàn
năm (đầu có người) đắc tam đạt trí; trong một ngàn năm
tiếp theo đắc ái tận A la hán, không có chứng tam đạt trí;
trong một ngàn năm tiếp theo đắc A Na Hàm; trong một ngàn năm
sau nữa chứng Tư Ðà Hàm; trong một ngàn năm nữa chứng Tu
Ðà Hoàn; học pháp trong năm ngàn năm tiếp theo, trong năm ngàn
năm này có đắc đạo; sau năm ngàn năm này có học mà không
đắc đạo; sau một vạn năm (10,000) kinh sách bằng văn tự
đều bị tiêu diệt hết, chỉ còn có biểu hiện sự cạo
tóc, mặc pháp phục mà thôi.
Hết phần kiền độ tỳ kheo ny.
-ooOoo-
Vật có giá trị lớn không được phân chia:
không được đem ruộng vườn, ao giếng của tăng bán đổi
lấy vật khác, chỉ trừ trao đổi (vật cùng loại).Những
vật của tăng như giường, tòa ngồi, vật dụng không được
phân chia, không được bán, trừ trao đổi. Ống đựng
thuốc nhỏ mắt, cây ráy tai, kim chỉ, dao nhỏ, khóa cửa, tích
trượng, tiểu hoàn(?) vật dụng bằng sắt thì được phân
chia, những vật dụng khác không được phân chia trừ dao (búa)
chẻ cây chà răng, trừ dao nhỏ, dép da, dù thì được phân.
Nếu có người dâng cúng tre, cỏ và đất thì
không được phân, dâng thuốc thì được phân, dâng tủ rương
thì không được phân. Nếu họ dâng vật dụng trong phòng tăng
thì không được phân chia gì cả, trừ ống đựng dầu.
Hết phần kiền độ về pháp (Vattakkhandhaka).
Phụ
lục
-ooOoo-
Phẩm Ðại đức Xá
Lợi Phất hỏi Ô Ba Ly về luật hành
(Nam truyền luật
tạng, tập 5, trang 329, V.3-8).
Phần Kệ tụng:
Xá Lợi Phất hỏi Ô
Ba Ly (U-bà-li, Upali):
Bao nhiêu tội về thân
Bao nhiêu tội về miệng
Che dấu bao nhiêu tội
Xúc chạm bao nhiêu loại?
Ô Ba Ly nói kệ đáp với Xá Lợi Phất:
Do thân có sáu tội
Tội miệng cũng có sáu
Che dấu có ba tội
Xúc chạm có năm tội.
Câu hỏi 2:
Trời sáng bao nhiêu
tội?
Ba lần xướng, bao tội?
Mấy trường hợp tám việc
Tất cả tụ bao nhiêu? (Sabbasamgaho - tất cả học xứ)
Ðáp:
Trời đã sáng, ba
tội.
Ba lần xướng có hai
Ðây là một tám sự
Một gồm tất cả sự
Hỏi 3:
Như Lai kiết giới rõ
Luật có bao nhiêu tướng
Tội trọng luật mấy loại
Dấu tội thô mấy loại?
Ðáp:
Như Lai phân biệt
dạy
Luật gồm có hai tướng
Tội trọng luật có hai (Ba-la-di + tăng tàn)
Dấu tội thô cũng hai.
Hỏi 4:
Giữa tụ lạc bao
tội
Qua sông có bao nhiêu
Ăn thịt gì Thu Lan
Thịt gì Ðột-cát-la?
Ðáp:
Giữa tụ lạc có
bốn
Qua sông cũng có bốn
Một loại thịt Thu Lan
Chín loại Ðột-cát-la.
Hỏi 5:
Ðêm, nói chuyện
mấy tội?
Ngày, nói chuyện mấy tội?
Ðem cho bao nhiêu tội?
Nhận lấy bao nhiêu tội?
Ðáp:
Ban đêm, nói hai tội
Ngày, nói cũng hai tội
Ðem cho có ba tội
Nhận lấy có bốn tội.
Hỏi 6:
Mấy tội đối thủ
sám?
Mấy tội phải yết ma?
Làm rồi không thể sám
Như Lai đã chế rõ.
Ðáp:
Năm tội sám hối
được
(Thứ?) sáu tội phải yết ma
Một tội không thể sám
Như Lai phân biệt kết.
Hỏi 7:
Quan trọng, luật có
mấy?
Phật dạy nghiệp thân miệng
Vị phi thời mấy loại
Mấy loại tứ yết ma?
Ðáp:
Luật do hai quan
trọng (thân miệng)
Thân miệng cũng như vậy
Vị phi thời một loại
Một bạch tứ yết ma
Hỏi 8:
Ba-la-di mấy loại
Bao nhiêu đất hòa hợp
Bao nhiêu đêm thất dạ (mất ngày)
Kết hai ngón mấy giới?(Ny. Ba-dật-đề 5)
Ðáp:
Ba-la-di có hai
Ðất cộng trú có hai
Mất đêm cũng có hai
Giới hai ngón có hai
Hỏi 9:
Ðánh thân có mấy
loại
Có mấy loại phá tăng
Tội bắt đầu bao nhiêu
Tác bạch rồi bao nhiêu?
Ðáp:
Ðánh thân có hai
loại
Nhân phá tăng có hai
Mới làm có hai tội
Bạch rồi cũng có hai.
Hỏi 10:
Sát sanh có mấy tội
Tội trọng miệng mấy loại
Mắng chưởi bao nhiêu loại
Làm mai có mấy loại?
Ðáp:
Sát sanh có ba tội
Tội trong miệng có ba
Mắng chưởi cũng có ba
Làm mai có ba tội.
Hỏi 11:
Thọ đại giới mấy
người
Yết ma gồm mấy loại
Ðuổi hẳn có mấy loại
Thuyết một lời mấy loại?
Ðáp:
Không thọ với ba người
Yết ma gồm ba người
Ðuổi hẳn cũng có ba
Một lời cũng có ba
Hỏi 12:
Giới trộm có mấy
tội
Giới dâm có mấy tội
Cố giết có mấy loại
Ném bỏ có bao nhiêu?
Ðáp:
Giới trộm có ba
tội
Giới dâm có bốn tội
Giết đúng có ba tội
Vì vứt bỏ có năm
(vứt bỏ cho chết có 5. Xem luật tạng Nam truyền, trang
338 - chú 5)
Hỏi 13:
Dạy giới tỳ kheo ny
Mấy Ba Dạ, Ðột Kết
Bao nhiêu mới dự vào
Y có bao nhiêu loại?
Ðáp:
Trong việc dạy giới
ny
Ba Dạ, Ðột kết la.
Có bốn tin Phật dạy
Cho y, hai loại tội.
Hỏi 14:
Phật dạy ny có mấy
Ba la Ðề có mấy
Ăn hạt giống có mấy
Ba-dật-đề, đột La?
Ðáp:
Phật dạy pháp của
ny
Ba La Ðề có tám
Ba Dạ Ðề, Ðột kết
Vì ăn dùng hạt sống.
Hỏi 15:
Ði có bao nhiêu tội?
Ðứng có bao nhiêu tội?
Ngồi có bao nhiêu tội?
Ngủ có bao nhiêu tội?
Ðáp:
Khi đi có bốn tội
Khi đứng có bốn tội
Khi ngồi có bốn tội
Khi ngủ có bốn tội.
Hỏi 16:
Bao nhiêu Ba-dật-đề?
Tất cả không một loại
Chẳng trước cũng chẳng sau
Bị phạm cùng một lúc.
Ðáp:
Có năm Ba-dật-đề
Loại này không phải một
Chẳng phải trước hay sau
Bị tội trong một lúc
Hỏi 17:
Bao nhiêu Ba-dật-đề
Tất cả chẳng phải một
Không trước cũng chẳng sau
Bị tội trong một lúc?
Ðáp:
Có chín Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Chẳng trước cũng chẳng sau
Bị tội trong một lúc.
Hỏi 18:
Bao nhiêu Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối bằng (thân?) miệng
Như Lai giảng dạy rõ?
Ðáp:
Có năm Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối bằng một lời
Như Lai giảng dạy rõ.
Hỏi 19:
Bao nhiêu Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám bằng bao nhiêu lời
Như Lai giảng dạy rõ?
Ðáp:
Có chín Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối bằng một lời
Như Lai đã dạy rõ.
Hỏi 20:
Bao nhiêu Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối bằng tên riêng
Như Lai đã dạy rõ?
Ðáp:
Có năm Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối bằng tên riêng
Như Lai giảng dạy rõ.
Hỏi 21:
Bao nhiêu Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối tên tánh tụ
Như Lai đã giảng rõ?
Ðáp:
Có chín Ba-dật-đề
Chẳng phải cùng một loại
Sám hối bằng tên tụ
Như Lai đã giảng rõ.
Hỏi 22:
Khuyên ba lần mấy
tội
Vì ăn có bao nhiêu
Khi ăn có bao nhiêu
Do ăn có bao nhiêu?
Ðáp:
Lần thứ ba ba tội
Vì ăn có sáu tội
Khi ăn có ba tội
Năm lọai gây tội ăn.
Hỏi 23:
Tất cả quá ba lần
Nơi phạm tội có mấy
Hỏi tội bao nhiêu (người)
Tránh sự có bao nhiêu?
Ðáp:
Tất cả quá ba lần
Có năm trường hợp tội
Khéo đáp tội năm người
Gây tránh sự năm người.
Hỏi 24:
Luận sự bao nhiêu người
Diệt bằng bao nhiêu pháp
Mấy trường hợp vô tội
Có mấy chỗ thành thiện?
Ðáp:
Quyết sự phải có năm
Dùng năm người để diệt
Năm hạng người thanh tịnh
Theo ba chỗ thành thiện.
Hỏi 25:
Ðêm, thân phạm mấy
tội
Ngày, thân phạm mấy tội
Khi thấy bao nhiêu tội
Khất thực bao nhiêu tội?
Ðáp:
Ðêm, thân phạm hai
tội
Ngày, thân phạm hai tội
Khi thấy bị một tội
Khất thực có một tội.
Hỏi 26:
Biết ân có mấy
lọai
Theo người thành sám hối
Bị đuổi có bao nhiêu
Thiện hạnh có bao nhiêu?
Ðáp:
Biết ân có tám
lọai
Theo người thành sám hối
Bị đuổi có ba hạng
Bốn mươi ba thiện hạnh.
Hỏi 27:
Bao nhiêu chỗ nói
dối
Bảy ngày có bao nhiêu
Mấy pháp Ba La đề (xá ny)
Sám hối có mấy hạng?
Ðáp:
Nói dối có năm chỗ
Pháp bảy ngày có hai (Nam-Luật 5, trang 33, 3 dòng 10)
Mười hai Ðề xá ny
Sám hối lại có bốn.
Hỏi 28:
Nói dối có mấy phần
Bố tát có mấy phần
Sứ giả có mấy phần
Ngoại đạo có mấy pháp?
Ðáp:
Tám phần thành nói
dối
Bố tát cũng có tám
Sứ giả cũng có tám
Ngoại đạo có tám pháp.
Hỏi 29:
Thọ giới có mấy
lời
Ðứng kính với mấy hạng
Mời ngồi với mấy hạng
Giáo giới ny có mấy?
Ðáp:
Thọ đại giới tám
lời
Ðứng kính với tám hạng
Mời ngồi với tám hạng
Tám pháp giáo giới ny.
Hỏi 30:
Mấy hạng người không
lạy
Cũng không chấp tay chào
Có mấy Ðột-cát-la
Dùng y có mấy loại?
Ðáp:
Mười hạng người
không lạy
Cũng không chấp tay chào
Có mười Ðột-cát-la
Dùng y lại có mười.
Hỏi 31:
Làm bất thiện mấy
điều
Như Lai giảng dạy rõ
Trong luật, phần Chiêm Bà
Tác pháp đều bất thiện?
Ðáp:
12 tác pháp bất
thiện
Như Lai giảng dạy rõ
Trong luật, phần Chiêm Bà
Tác pháp đều bất thiện.
Hỏi 32:
Theo câu đại đức
hỏi
Tôi đã tùy ý đáp
Ðáp theo từng câu hỏi
Không còn một nghi ngờ.
Giải thích:
Ðáp: 1. Thân đắc; 2.
Miệng đắc; 3. Thân miệng đắc; 4. Thâm tâm đắc; 5. Tâm
miệng đắc; 6. Thân miệng tâm đắc.
Thân nghiệp có sáu
tội: bắt đầu là dâm, nộ (giận). Khẩu nghiệp có sáu
tội: bắt đầu là lừa gạt nói dối.
Che dấu (phú tàng) có
ba tội: 1- Tỳ kheo ny che dấu tội trọng thì phạm Ba-la-di.
2- Tỳ kheo che dấu tội trọng của người khác thì phạm
Ba-dật-đề. 3- Tỳ kheo che dấu tội trọng của mình thì
phạm Ðột-cát-la. Ðây là ba tội do che dấu.
Xúc chạm nhau có năm tội:
1. Tỳ kheo ny xúc chạm
(nam) phạm Ba-la-di.
2. Tỳ kheo xúc chạm (nữ) phạm Tăng tàn.
3. Tỳ kheo xúc chạm vào y phục của người nữ phạm
Thu-lan-giá.
4. Tỳ kheo dùng y xúc chạm ngưỡi nữ phạm Ðột-cát-la.
5. Tỳ kheo dùng ngón tay chọc (lét) tỳ kheo khác phạm
Ba-dật-đề. Ðây là năm tội.
Minh tướng (sáng sớm)
xuất hiện có ba tội:
Một đêm, sáu đêm,
bảy đêm, mười đêm, quá một tháng khi minh tướng xuất
hiện thì phạm Ny tát kỳ Ba-dật-đề. Tỳ kheo ny ở qua đêm
một mình, khi minh tướng xuất hiện, phạm tăng tàn. Tỳ
kheo tự che dấu tội, minh tướng xuất hiện, phạm Ðột-cát-la.
Ðây là ba loại tội khi minh tướng xuất hiện (thì phạm).
Ba lần xướng có hai
loại: 1- Tỳ kheo. 2- Tỳ kheo ny. Khi đang thuyết giới (vị
yết ma) xướng ba lần (người) có tội mà không phát lộ,
phạm Ðột-cát-la. Ðây là hai loại tội từ ba lần xướng
lên.
Trong luật nói tám sự
thành tội: là tội Ba-la-di của tỳ kheo ny.
Tất cả tụ (nhóm) có
một: trong phần tựa của giới có nói: nhớ có tội phải
phát lộ. Phát lộ về (cả) năm thiên giới, nên nói có
một tụ (nhóm).
Như Lai giảng giải rõ:
giảng giải phân biệt sự khinh trọng về giới tướng.
Luật chú trọng về
hai (nghiệp) là thân và miệng.
Trong luật , (giới)
trọng có hai là Ba-la-di và Tăng tàn.
Che tội thô cũng có
hai là Ba-la-di và Tăng tàn.
Giữa tụ lạc có
bốn: một tỳ kheo và tỳ kheo ny hẹn nhau đi, tỳ kheo đi bước
thứ nhất, phạm Ðột-cát-la; đến cương giới tụ lạc,
tỳ kheo phạm Ba-dật-đề; một chân bước vào cương
giới, một chân ở ngoài, tỳ kheo ny phạm Thu-lan-giá; cả
hai chân vào cương giới, (tụ) phạm tăng tàn. Ðây là bốn
tội giữa tụ lạc.
Qua sông có bốn tội:
tỳ kheo và tỳ kheo ny hẹn nhau đi chung thuyền, Vừa bước
đi, tỳ kheo phạm Ðột-cát-la. bước lên thuyền, tỳ kheo
phạm Ba-dật-đề. Bước một chân lên bờ, tỳ kheo ny
phạm Thu-lan-giá. Bước cả hai chân lên bờ, tỳ kheo ny
phạm Tăng tàn. Ðây là bốn tội về qua sông.
(Ăn) Một loại thịt,
bị phạm thu lan dá là thịt người.
(Ăn) chín loại thịt
phạm Ðột-cát-la: là thịt voi, ngựa, chó...
Nói chuyện trong đêm có
hai tội: (ban đêm) tỳ kheo ny cùng với đàn ông vào phòng
tối, đến chỗ khuất kề tai nói nhỏ, phạm Ba-dật-đề.
(Ðêm) tỳ kheo ny cùng đàn ông ở một chỗ cách xa nhau ngoài
hai khủy tay, phạm Ðột-cát-la. Ðây là hai tội nói chuyện
ban đêm.
Ban ngày cũng có hai:
tỳ kheo ny cùng đàn ông ở chỗ khuất trong phạm vi hai
khủy tay rưỡi, phạm Ba-dật-đề; ngoài hai khủy tay rưỡi,
phạm Ðột-cát-la. Ðây là hai tội về ban ngày.
Về bố thí có ba:
với ác tâm, tỳ kheo đem cho thuốc độc để giết người,
phạm tội Ba-la-di; giết phi nhân, phạm Thu-lan-giá; giết súc
sanh, phạm Ba-dật-đề. Ðây là ba tội về cho.
Về nhận lấy, có
bốn tội: người nữ dùng tay đưa cho, tỳ kheo nắm lấy,
phạm tăng tàn; tỳ kheo nhận lấy sự dâm dục của người
nữ cho, phạm Ba-la-di. Tỳ kheo nhận lấy y của tỳ kheo ny
không phải thân quyến, phạm Ny tát kỳ Ba-dật-đề. Với tâm
dâm dục, tỳ kheo ny biết đàn ông kia (cho với) tâm dâm
dục mà vẫn nhận lấy thức ăn của họ, phạm Thu-lan-giá.
Ðây là bốn tội do nhận lấy.
Năm tội có thể sám
hối: Thu-lan-giá (Dubbhàsita), Ba-dật-đề, Ba-la-đề Ðề-xá-ny,
Ðột-cát-la, ác thuyết. Ðây là năm tội có thể sám hối.
Tội thứ sáu cần phải yết ma (để sám hối): Tăng già bà
thi sa.
Một tội không thể sám
hối là Ba-la-di.
Luật có hai loại
(tội) trọng là Ba-la-di và tăng tàn.
Thân, miệng cũng như
vậy: sự chế định giới luật căn cứ vào thân, miệng.
Một loại vị ngon dùng
phi thời: tô tỳ diêm (nước súp loãng) làm bằng ngũ cốc
được dùng phi thời. Gọi là một loại vị ngon (súp) dùng
phi thời.
Một (pháp) bạch tứ
yết ma là sai (người đi) giáo giới tỳ kheo ny.
Ba-la-di có hai: tỳ kheo
và tỳ kheo ny.
Ðất hòa hợp (cộng
trú xứ) có hai: 1. Hòa hợp về thân, 2. Hòa hợp về pháp.
Mất đêm cũng có hai:
1. Hành Ba-lợi-bà-sa. 2. Hành Ma-Na-đỏa.
Kết giới về hai ngón
tay có hai: 1. Tỳ kheo ny tẩy tịnh. 2. Tóc trên đầu dài;
(cả hai) không được để quá hai ngón tay (chồng lên).
(Tự) đánh đập thân
mìnhcó 2 tội: tỳ kheo ny tự đánh mình phạm Ðột-cát-la;
khóc, phạm Ba-dật-đề.
Nhân hai việc (mà) phá
tăng: 1. yết ma. 2. nhận lấy thẻ.
(Khi) mới làm có hai
tội: 1. Tỳ kheo làm (thì) có tội bắt đầu (làm). 2. Tỳ
kheo ny làm (thì) có tội bắt đầu (làm).
Tác bạch cũng có hai
tội: 1. Bạch yết ma.2. Ðơn bạch.
Sát sanh có ba tội:
- Giết người: phạm
Ba-la-di.
- Giết phi nhân: phạm
Thu-lan-giá.
- Giết súc sanh: phạm Ba-dật-đề.
Tội nặng về lời nói
có ba: dạy người trộm, dạy người chết, nói với người
là mình đắc pháp Thánh lợi.. Ðây gọi là lời nói có ba
tội trọng.
Mắng chưỡi cũng có
ba: bằng tâm dâm dục. mắng nữ căn và hậu môn (của họ)
phạm hai tăng tàn. Mắng các phần khác trên thân phạm Ðột-cát-la.
Ðây là ba tội.
Làm mai mối có ba
tội: khi nhận lời, phạm Ðột-cát-la; đi đến nói, phạm
Thu-lan-giá; trở lại báo tin, phạm tăng tàn.
Ba hạng người không
được thọ (đại giới):1. Ở xa không nghe. 2. Thân thể không
đầy đủ. 3. Căn không hoàn bị. Không đủ y bát thuộc
về phần thân thể. Người bị 13 già nạn thuộc về các căn
không hoàn bị.
Tiến hành tụ (yết
ma) có ba trường hợp: 1. Biệt chúng. 2. Bạch không thành
tựu. 3. Yết ma không thành tựu. Ðây gọi là ba.
Ðuổi hẳn cũng có ba:
1. Tỳ kheo ny đem thân mình vu báng người khác (phạm giới
Ba-la-di) như tỳ kheo ny Từ Ðịa. 2. Sa di phá hoại sa di
(bằng cách) hành dâm vào hậu môn người kia. 3. Nói làm
việc dâm dục không chướng ngại đạo pháp. Ðây gọi là
ba tội bị đuổi hẳn.
Một lời nói cũng có ba: một (lời) yết ma,
cả ba người đồng thời đắc giới.
Giới trộm có ba tội:
trộm năm tiền phạm Ba-la-di; bốn tiền phạm Thu-lan-giá; ba
tiền xuống đến một tiền phạm Ðột-cát-la.
Giới dâm có bốn
tội: 1. Với nữ căn, Ba-la-di. 2. Với tử thi người nữ hư
rã một nữa, Thu-lan-giá; 3.không tiếp xúc bốn bên (căn người
nữ) Ðột-cát-la. 4.Tỳ kheo ny làm nam căn giả đưa vào
trong căn mình, Ba-dật-đề. Ðây là bốn tội.
Giết chặt bỏ hẳn cũng
có ba: giết người, Ba-la-di; chặt cây cỏ, Ba-dật-đề;
tự cắt bỏ nam căn,Thu-lan-giá. Ðây là ba nhân phạm tội.
Vứt bỏ có ba: 1. Có tâm
cố giết nên vứt bỏ thuốc độc, nếu người bị chết
(vì thuốc ấy) phạm Ba-la-di; phi nhân chết, Thu-lan-giá; súc
sanh chết, Ba-dật-đề. Ðây là ba loại vứt bỏ.
Lại có ba loại (vứt
bỏ): tỳ kheo (làm xuất) vứt bỏ tinh, tăng tàn; vứt bỏ
đại tiểu tiện trên cỏ sống, Ba-dật-đề; vứt bỏ (đại
tiểu tiện) trong nước, trên đất sạch, Ðột-cát-la.
Khạc nhổ cũng như vậy. Ðây là ba tội về vứt bỏ.
Ba-dật-đề và Ðột-cát-la:
giáo giới tỳ kheo ny đến chiều tối, phạm Ba-dật-đề.
Trước thuyết pháp, sau thuyết bát kính pháp, phạm đột cát
la.
Có bốn quy định (theo
lời) Phật dạy: 1. Phòng ở; 2. Giới; 3. Làm đúng pháp; 4.
Không làm đúng pháp.
Cho y có hai loại tội:
cho y đến tỳ kheo ny đầy đủ giới không bà con, phạm
Ba-dật-đề, cho y đến tỳ kheo ny không đầy đủ giới,
phạm Ðột-cát-la. (Ny) không đầy đủ giới là ny chỉ được
tỳ kheo ny bạch tứ yết ma nhưng chưa được đại tăng
bạch tứ yết ma. Ðây là hai tội về cho y.
Ba la đề có tám: là tám
Ba-la-đề Ðề-xá-ny của tỳ kheo ny.
Ba-dật-đề, Ðột-cát-la:
tỳ kheo ny xin hạt giống phạm Ba-dật-đề; khi ăn, Ðột-cát-la.
Ði có bốn tội: tỳ
kheo cùng hẹn đi với người nữ, khi bắt đầu đi, Ðột-cát-la;
đến thôn xóm, phạm Ba-dật-đề. Tỳ kheo ny đi một mình,
phạm Thu-lan-giá; đến thôn xóm, phạm tăng tàn.
Ðứng có bốn tội:
tỳ kheo ny và đàn ông đứng ở chỗ khuất, phạm Ba-dật-đề;
xa ngoài tầm tay, Ðột-cát-la. Tỳ kheo ny nào khi trời rạng
sáng mà không đi theo bạn, ở trong tầm tay, phạm Thu-lan-giá;
ở ngoài tầm tay, phạm tăng tàn.
Ngồi và ngủ cũng như
vậy.
Ba-dật-đề có năm: bơ,
dầu, đường, cục mật, mỡ (đựng) riêng từng lọ, nhận
lấy để quá bảy ngày, dùng bị năm Ba-dật-đề.
Loại ấy chẳng phải
một hạng: bơ, mật v.v...
Chẳng phải trước hay
sau: nhận lấy (các loại trên) (nhiều lần) để tập trung
một chỗ và dùng một lúc, đều bị tội.
Có chín Ba-dật-đề: xin chín thứ thức ăn
ngon bị chín tội Ba-dật-đề.
(Loại) Tội ấy chẳng
phải là do một thứ: về hình thức bơ, dầu, cá, thịt khác
nhau.
Tất cả đều sám
hối bằng khẩu nghiệp: chín tội Ba-dật-đề ở trên, dùng
chung một lời (văn) sám hối thì được hết tội.
(Ðối với) năm loại
Ba-dật-đề: nói ra tên họ để sám hối, liệt kê tên
tội để sám hối.
(Ðối với) chín loại
Ba-dật-đề: gồm chung lại một loại để sám hối và nêu
tên tội ra để sám hối.
Lần thứ ba bị ba
tội: tỳ kheo ny nào theo kẻ bị cử tội, được can gián
ba lần mà không bỏ, phạm Ba-la-di. Tỳ kheo bị tăng can gián
ba lần không bỏ, phạm tăng tàn. Tỳ kheo và tỳ kheo ny có
ác kiến, được can gián ba lần mà không bỏ, Ba-dật-đề.
Do ăn bị sáu tội:
Thế nào là sáu?
1. Vì thức ăn nên
tự xưng đắc pháp thượng nhân.
2. Vì ăn uống nên làm mai mối.
3. Vì ăn uống nên nói rằng người nào ở chùa này thì
đắc đạo quả nhưng không nêu rõ tên họ ra, phạm
Thu-lan-giá.
4. Vì ăn uống, không có bệnh mà xin thức ăn ngon.
5. Vì ăn uống, không có bệnh, tỳ kheo ny xin thức ăn
ngon, phạm Ba-la-đề Ðề-xá-ny.
6. Vì muốn ăn uống ngon, tỳ kheo không có bệnh, xin cơm,
phạm Ðột-cát-la.
Ðây là sáu tội do
thức ăn.
Ăn đúng giờ có ba tội:
1. tỳ kheo ăn thịt
người, phạm Thu-lan-giá.
2. Ăn thịt voi, ngựa, rồng (rắn), chó... phạm Ðột-cát-la.
3. tỳ kheo ny ăn tỏi (Lasuna) phạm Ba-dật-đề
Vì năm món ăn mà bị
tội:
Biết người đàn ông
có tâm ô nhiễm, tỳ kheo ny xin họ được thịt người,
tỏi, thức ăn ngon, thịt voi ngựa; nhận thức ăn của đàn
ông có tâm ô nhiễm, phạm Tăng tàn; ăn thịt người phạm
Thu-lan-giá; ăn tỏi phạm Ba-dật-đề; xin thức ăn ngon
phạm Ba-la-đề Ðề-xá-ny; ăn thịt voi ngựa... phạm Ðột-cát-la.
Ðây gọi là tội do năm loại thức ăn.
Tất cả quá ba lần:
tỳ kheo ny theo kẻ bị cử tội, can gián lần thứ nhất mà
không bỏ, Ðột-cát-la; yết ma lần thứ nhất mà không
bỏ, Thu-lan-giá; yết ma lần thứ ba mà không bỏ, Ba-la-di.
Ðây là ba loại tôi do ba lần can gián.
Phạm tội có năm
chỗ: tỳ kheo ny theo kẻ bị cử tội, tác bạch xong, không
bỏ, Ðột-cát-la; yết ma lần thứ nhất xong, không bỏ,
Thu-lan-giá; yết ma lần thứ ba xong, không bỏ, Ba-la-di. Nếu
muốn phá tăng, can gián ba lần không bỏ, tăng tàn. Có ác
kiến, được can gián ba lần không bỏ, Ba-dật-đề.
Ðây gọi là năm tội.
Khéo đáp tội có năm:
tỳ kheo, tỳ kheo ny, thức xoa ma na, sa di, sa, di ny, cả năm
chúng đều có tội khi can gián ba lần mà không bỏ.
Tránh sự cũng có năm: năm chúng (xuất gia) đều
có bốn tránh sự.
Sự việc (bàn) luận
lại có năm: tránh sự do sự bàn luận của năm chúng.
Dùng năm pháp để
diệt: năm chúng diệt tránh sự của năm chúng.
Thanh tịnh có năm
loại: năm chúng phạm tội (mà biết) sám hối (thì đều)
được thanh tịnh.
Trong ba chỗ (trường
hợp) thành thiện: chỗ của tăng, chỗ của chúng, chỗ
của bạch y. (Cả) ba chỗ đều thanh tịnh, được gọi là
thiện.
Thân nghiệp về đêm có
hai tội: tỳ kheo ny và đàn ông cùng nhau vào phòng ban đêm,
thân cận trong tầm tay phạm Ba-dật-đề, ngoài tầm tay
phạm Ðột-cát-la.
Thân nghiệp về ban ngày
có hai tội: ban ngày, tỳ kheo ny cùng đàn ông ở chỗ
khuất, thân cận trong tầm tay, Ba-dật-đề; ngoài tầm tay,
Ðột-cát-la.
Khi thấy, bị một
tội: tỳ kheo cố nhìn căn của người nữ, phạm tội Ðột-cát-la.
Xin thức ăn bị một
tội: tỳ kheo không bệnh, không được xin thức ăn (ngon)
cho mình, (nếu xin được) phạm Ðột-cát-la.
Thấy (biết) ăn có tám
hạng: trong phần kiền độ Câu Diệm Di đã nói rõ.
Y (chỉ) vào người khác
để thành sám hối: sự sám hối của năm chúng xuất gia
cần phải nhờ vào người khác để mà sám hối.
Bị đuổi đi có ba: 1.
Che dấu (tội lỗi). 2. Không chịu sám hối. 3. Aùc kiến.
Hành động tốt bốn mươi
ba pháp: người bị đuổi mà thi hành bốn mươi ba pháp thì
được vào chúng, không hành pháp này không được nhập chúng.
Nói dối có năm tội:
Ba-la-di, Tăng tàn, Thu-lan-giá, Ba-dật-đề, Ðột-cát-la.
Pháp bảy ngày có hai:
Một, thuốc bảy ngày, thọ pháp bảy ngày đi ra ngoài cương
giới. Ðây gọi là hai.
Mười hai Ðề-xá-ny:
tỳ kheo ny có tám Ba-la-đề Ðề-xá-ny, tỳ kheo có bốn pháp
Ba-la-đề Ðề-xá-ny hợp lại là mười hai.
Sám hối lại có bốn:
Ðề bà Ðạt đa (Devadatta) sai ngươì hại Phật, cúng dường
A Nâu Lâu Ðà (là) Ưu Ba ly Ly xa tử, bị chúng tăng tác
yết ma phú bát. Tỳ kheo Sa bà Ca, bốn người này cùng đến
Phật xin sám hối.
Nói dối có tám phần
(quán): sinh tâm muốn dối, miệng nói ra lời dối, nói dối
xong, biết là nói dối, che dấu sự hiểu biết, nói ra
việc khác, người nghe hiểu rõ lời muốn nói, với tâm tà
vạy. Ðây gọi là phần (quán).
Bố tát (ngày trai
giới) cũng có tám: tám giới.
Sứ giả cũng có tám:
Ðiều đạt dùng phi pháp muốn phá tăng, tăng sai người đầy
đủ tám đức đến bảo rằng hành động của Ðiều Ðạt
là phi Phật pháp tăng , đây chỉ là hành động (riêng)
của Ðiều Ðạt.
Ngoại đạo có tám pháp:
ngoại đạo muốn xuất gia, hành tám pháp Ba lị bà sa là:
không đi đến năm nơi không nên đi đến, nghe khen ngợi
Phật, pháp, tăng thì hoan hỷ.
Tám lời thọ giới:
tỳ kheo ny bạch tứ yết ma (rồi đến) tỳ kheo bạch tứ
yết ma.
Ðứng dậy cung kính cũng
có tám: tám kính pháp của tỳ kheo ny.
Chuẩn bị chỗ ngồi cũng
có tám: khi đại chúng tập họp, tám vị thượng tọa
ngồi theo thứ tự, các vị còn lại tùy theo đó mà ngồi.
Tám pháp giáo giới cho
ny: tỳ kheo nào có tám đức mới được nhận việc giáo
giới cho tỳ kheo ny.
Không nên lễ bái mười
hạng người tỳ kheo ny, thức xoa ma na, sa di, sa di ny, ưu bà
tắc, ưu bà di bị phạm giới, người ngủ, người đang ăn,
người đang đại tiểu tiện, người đang xỉa răng. Không
nên chấp tay chào với mười hạng người trên.
Có mười Ðột-kiết-la:
nếu lễ bái hay chấp tay chào mười hạng người trên thì
bị tội Ðột-kiết-la.
Dùng y lại có mười:
cho phép được mặc mười loại y.
Mười hai hành động
bất thiện: bạch không đúng, phi pháp biệt chúng, phi pháp
hòa hợp chúng, pháp biệt chúng. Trong pháp bạch yết ma có
bốn phi pháp; trong pháp bạch nhị yết ma có bốn phi pháp;
trong pháp bạch tứ yết ma có bốn phi pháp. Bốn phi pháp
trong ba trường hợp yết ma gom lại là mười hai phi pháp.
Chú Giải Luật
Thiện Kiến
- Quyển 18 -
Bắt đầu dịch
01/06/1997
Dịch xong đêm 05/05/1999
(Tức 20/03 Kỷ Mão, PL. 2542)
TÂM HẠNH
Nguyện hồi hướng công
đức của pháp bảo này đến tất cả hữu tình và Phật
sự này được viên mãn.
Cầu an cho các Phật
tử hỗ trợ công tác phiên dịch này:
- Quốc Hưng, pd Nguyên
Hạnh
- Quang Hùng, pd Tâm Minh
- Hoàng Hải, pd Nguyên Trí
- Thùy Linh
- Hoàng Phong, pd Tâm Ðức.
Luôn luôn an lạc như
ý trong hào quang của Tam bảo.