HOẰNG PHÁP VÙNG SÂU VÙNG XA
Thích Tâm Hoa
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Vài nét lịch sử đề tài:
Hoằng pháp là nhiệm vụ quan trọng của người tu
sĩ Phật giáo. Chư Phật cũng như chư Bồ tát đều
có những hạnh nguyện cao cả như thế. Ngày xưa Tổ
Bồ Đề Đạt Ma vượt ngàn dặm xa xôi từ Ấn Độ sang
Trung Quốc truyền giáo. Trong lịch sử đã có biết
bao vị Tổ đã không quản gian lao khó nhọc để đến
với những đất nước xa xôi như Tây Tạng cao ngất
hay nước Nga giá rét…
Nhận xét về nhiệm vụ hoằng pháp, hòa thượng
Thiện Hoa đã nói: “Người hoằng pháp không sợ
gian lao, không từ khó nhọc”. Hòa thượng Trí
Quảng cũng dạy: “Hoằng pháp ở vùng sâu vùng xa,
trình độ văn hóa người dân ở đó kém ta, chắc
chắn họ dễ nghe, dễ chấp nhận ta nên ta dễ phát
huy năng lực…”
Là người con Phật, ngoài mục đích tu tập giải
thoát, chúng ta phải lập hạnh lợi tha. Tùy theo
khả năng, trình độ, hoàn cảnh bản thân mà chọn
cho mình những phương pháp phù hợp để làm Phật
sự một cách hiệu quả nhất, hoàn thành trách
nhiệm của một sứ giả Như Lai, xứng đáng với ngôi
Tam Bảo.
2. Lý do chọn đề tài:
Là một tăng sinh xuất thân từ một làng quê nghèo
khó, con may mắn hội đủ phước duyên được xuất
gia tu học. Nhận được sự dạy dỗ của Thầy tổ và
Chư tôn đức, con thấy mình phải có trách nhiệm
tu học thật tốt nhằm báo đáp phần nào công ơn to
lớn ấy; trước là tìm con đường đúng đắn để tu
tập giải thoát cho chính mình, sau nữa có thể
đem ánh sáng Phật đà sáng soi, cứu khổ cho những
người dân ở các vùng quê xa xôi hẻo lánh.
Người dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa có một
đời sống thuần phác, hiền lành, nhưng đa số lại
rất nghèo khó. Đời sống văn hóa, tinh thần thiếu
thốn đã đành, đời sống vật chất càng vất vả. Họ
cực nhọc quanh năm mà vẫn thiếu thốn. Họ là
những người làm ra lương thực, lúa gạo rau quả,
nhưng những hạt gạo tinh khiết nhất, những rau
quả tươi ngon nhất đều dành để bán cho người
thành phố dùng, còn bản thân họ thì luôn kham
khổ. Họ là những người Ỏũ hiền nhưng chưa gặp
lành.
Cùng cộng nghiệp, sống trong những năm khó khăn
chung của một đất nước đang phát triển, nhưng
người dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa có lẽ là
nơi chịu đựng vất vả, thiệt thòi nhiều nhất! Là
người đệ tử Phật, chúng ta nên học theo hạnh của
ngài Ca Diếp, luôn hết lòng đối với những người
nghèo khổ, để phần nào giúp họ có được một đời
sống tinh thần tốt đẹp; hiểu Đạo, biết tu để dần
dần tích phước, hạn chế những nghiệp dữ mà có
thể vì thiếu nhận thức có thể gây ra. Giúp họ
cải thiện cuộc sống, bớt đi những gian khó, tiến
đến an lạc hơn.
Nông thôn, vùng sâu vùng xa là nơi đang rất cần
những ánh sáng tri thức, những sinh hoạt văn
hóa, tinh thần bổ ích. Là người con Phật phải
luôn nằm lòng câu phát nguyện: “Nơi nào Chánh
pháp cần, con đến; nơi nào chúng sanh cần, con
đi. Chẳng quản gian lao, chẳng từ khó nhọc…”
Trong khi ở những vùng đô thị có rất đông Tăng
Ni tập trung về tu học và làm việc, những ngôi
chùa trong thành phố dày đặc những khóa tu,
những lớp giáo lý thường xuyên v.v… thì ở những
vùng nông thôn xa xôi rất thiếu vắng những bóng
áo nâu, áo vàng của Tăng Ni. Những ngôi chùa rêu
phong kín cổng; những lớp giáo lý, những buổi
thuyết pháp càng hiếm hoi; người dân chỉ biết
đến chùa vào những ngày rằm. Tăng Ni chỉ có vai
trò trong việc cúng sám lễ bái khi hữu sự ma
chay v.v… Người dân nông thôn rất cần có những
tấm lòng đại Bi đại Trí, mang ánh sáng Phật Đà
đến với vùng sâu vùng xa, cho những con người
quanh năm cúi mặt vào bờ ao mảnh ruộng biết
ngẩng lên tìm về nẻo sáng.
Tăng sinh xuất thân vùng nông thôn nên có sự
thông cảm và hiểu sâu tình hình thực tế cũng như
tâm hồn người dân nông thôn, do vậy có khả năng
thực hiện đề tài này một cách tốt hơn những đề
tài khác.
Một phần quan trọng nữa là từ năm 2001, con được
tuyển vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành
phố Hồ Chí Minh, được nghe Hòa thượng Trưởng ban
hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt
Nam triển khai bộ Kinh Pháp Hoa, qua thực tế Hòa
thượng giáo hóa rất nhiều tín đồ ở vùng sâu vùng
xa một cách thành công đó là Đạo tràng Pháp Hoa.
Đến khi gần mãn khóa, Ban Tổ chức cho phép mỗi
tăng sinh phải viết luận văn tốt nghiệp trình
bày sự ưu tư hiểu biết của mình qua quá trình
học tập ở nhà trường, qua sự kiểm nghiệm tự thân
trong cuộc sống tu tập. Với cảm nhận rằng mình
có duyên với Kinh Pháp Hoa, nên chọn môn Kinh
Pháp Hoa, chọn cách hoằng pháp theo Kinh Pháp
Hoa, nối gót bật tiền bối gữi gìn Phật Pháp còn
mãi ở đời, đem lại lợi lạc cho mọi loài, góp
phần tô điểm ngôi nhà Tam bảo ngày càng xương
minh hưng thạnh. Có được như thế mới khỏi phụ ân
đức rộng sâu của Đấng Từ Tôn và đền đáp được
phần nào trong vô lượng công ân của Chư Thiền
Đức đã dày công giáo dưỡng, cũng làm kim chỉ nam
cho mình trên bước đường hoằng pháp lợi sanh.
3. Phạm vi đề tài:
Khi nói đến chữ hoằng pháp phải kèm theo chữ lợi
sanh, vì hoằng pháp là truyền bá giáo pháp, song
giáo pháp có nhiều loại, có loại đem lại lợi lạc
cho chúng sanh, như Phật giáo chủ trương từ bi,
bình đẳng, bác ái vị tha…; có loại giáo pháp
không làm cho chúng sanh an lạc mà làm cho con
người quay cuồng điên đảo, như đạo Bà La môn ở
Ấn Độ ngày xưa chủ trương “Tế lễ là vạn năng”,
giết hàng trăm hàng ngàn loài cầm thú, cho đến
loài người đem tế lễ Thần để phù hộ, ban phước,
dứt tội cho dân. Nhưng cúng tế như thế không xoa
diu được nổi thống khổ của con người mà còn gây
sự đau thương cho vô số hàm linh thấp kém.
Thế nên ở đây dùng hai chữ lợi sanh kèm theo hai
chữ hoằng pháp nhằm xác định mục tiêu hoằng pháp
trong Kinh Pháp Hoa. Lấy lợi sanh làm căn bản
tùy theo nhu cầu của thời đại, quốc độ, con
người mà nói để người nghe hiểu được Phật Pháp,
cảm nhận được an lạc giải thoát, phát tâm bồ đề
kính tin Tam bảo, đem giáo pháp ứng dụng có lợi
lạc an vui thực sự trong cuộc sống. Theo Phật
quang đại tự điển thì không dùng từ hoằng pháp
mà dùng từ bố giáo đồng với nghĩa hoằng pháp.
Bố giáo là hoằng dương giáo pháp đồng nghĩa với
những từ hoằng pháp, tuyên giáo, truyền giáo…
Nhật Bản gọi bố giáo là khai giáo lấy cái ý
nghĩa là khai thác ruộng giáo lý… Song song theo
sự bố giáo là phát triển học đường, giáo dục trẻ
em làm việc từ thiện, giúp đỡ dân nghèo…
Hiểu được tầm quan trọng của công việc hoằng
pháp, tuy nhiên sức mình có hạn, không thể bao
quát tất cả, con chỉ xin gói gọn trong phạm vi
hoằng pháp ở vùng sâu vùng xa, với những mục
tiêu sau:
- Tìm hiểu thực tế đời sống sinh hoạt Phật giáo
ở vùng nông thôn.
- Đề ra phương hướng có thể thực hiện tốt công
việc hoằng pháp ở nông thôn.
- Nói lên những kiến nghị mong Giáo hội, các Bậc
Tôn Đức, đội ngũ Tăng Ni trẻ, các tổ chức có
liên quan v.v… có thể đóng góp tích cực cho công
việc hoằng pháp ở nông thôn.
4. Ý nghĩa, nhiệm vụ đề tài:
Sau khi Phật niết bàn, kinh điển được truyền
khẩu từ thế hệ này xuống thế hệ khác. Phương
pháp truyền giáo song song sau đó là phương pháp
truyền bằng văn tự được thực hiện để khai triển
giáo lý của Ngài suốt 25 thế kỷ. Các nhà truyền
giáo triển khai giáo lý Phật đà chỉ một mục đích
tự giúp mình giải thoát và giúp con người giải
thoát khỏi khổ đau, hướng đến hạnh phúc tuyệt
đối.
Nói chung, ý nghĩa cơ bản của hoằng pháp là làm
con người hướng nhận thức đúng đắn để đánh giá
hành động và thực hành các giá trị hầu tiến tới
sự an lạc và giải thoát trong hiện tại và tương
lai.
Trăn trở với đề tài hoằng pháp, con chỉ mong tìm
ra được vài biện pháp tối ưu nhằm đem giáo lý
Phật đà đến được vùng sâu vùng xa, là ý kiến
đóng góp cho Giáo hội, cho các tổ chức xã hội có
sự lưu tâm hơn, có những biện pháp tốt hơn để
giúp cho đời sống tinh thần người dân nông thôn
được nâng cao, tốt đẹp hơn. Kêu gọi những Tăng
Ni trẻ, hãy lập hạnh hoằng pháp ở nông thôn, hãy
đến với vùng sâu vùng xa, nơi ấy đang rất cần
những bậc Bi-Trí-Dũng vượt mọi gian khó, mang
ánh sáng Chánh Pháp đến với mọi người.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH THỰC TẾ
1.1. Cơ sở vật chất:
a. Một số ngôi chùa đã được sửa chửa, trùng tu,
xây dựng:
Phải công nhận rằng nông thôn ngày nay cũng có
một số nơi những ngôi chùa được trùng tu, sửa
chữa hoặc xây cất mới khá khang trang nhờ sự
phấn đấu của các vị trụ trì, Ban Trị sự các tỉnh
và tấm lòng hảo tâm của Phật tử, mà chủ yếu là
kiều bào ở nước ngoài. Nhưng đa số các ngôi chùa
được xây dựng đều theo một mục đích tín ngưỡng
thuần túy. Cách kiến trúc nhằm mục đích biến
chùa thành nơi để lễ bái cúng kiến tham quan, du
lịch hơn là nơi để chư Tăng Ni thực hiện công
việc truyền bá đạo Pháp, Phật tử có thể tập
trung tu học. Chánh điện được tô vẽ sặc sỡ, kỳ
công với nhiều tượng, phù điêu, tranh đắp, bục
thờ v.v… nhằm mục đích cúng kiến lễ bái cầu an
cầu phước nhiều hơn. Hiếm có nơi nào chú trọng
đến việc xây cất những giảng đường, nơi dành để
thuyết giảng Phật Pháp cho đông đảo người nghe.
b. Không ít ngôi chùa không được quan tâm, xuống
cấp và hư hại:
Bên cạnh một vài ngôi chùa “may mắn” thì đa số
chùa ở nông thôn, mà nhất là vùng sâu vùng xa
chưa được sửa chữa xây dựng. Chùa nghèo nhìn rất
buồn! Những vị trụ trì chưa đủ khả năng vực dậy
phong trào tu học, thu hút Phật tử đến chùa,
không thiết lập được những mối quan hệ với các
mạnh thường quân. Chùa tồn tại lẻ loi và dường
như không dính dáng gì đến xã hội bên ngoài, vị
trụ trì dần dần giống như ông Từ giữ đền chớ
không còn là một vị sư trụ trì nữa. Có những
ngôi chùa khá cổ, có lối kiến trúc khá đặc sắc,
có giá trị nhưng không được quan tâm đúng mức,
dần hư hại, rất uổng phí!
c. Những khu dân cư mới hầu như không có bóng
dáng một ngôi chùa:
Điều này cũng dễ hiểu. Do nhiều điều kiện hoàn
cảnh khách quan và chủ quan. Người dân ở những
khu dân cư mới thường là dân từ nhiều nơi qui về
nên tín ngưỡng, tập tục khá khác nhau. Họ lo
việc định cư, mưu sinh là chính, ít quan tâm đến
đời sống tâm linh; chính quyền địa phương cũng
không tạo kiện, không ủng hộ sự có mặt của các
tôn giáo vì e ngại những phần tử xấu lợi dụng
gây rối. Do vậy, ở những khu dân cư mới hầu như
không có bóng dáng của một ngôi chùa.
d. Một số ngôi chùa bị biến thể thành nơi thờ
cúng nửa vời, lai tạp, mang tính cách cá nhân
hoặc sử dụng vào việc khác:
Một số ít bị cá nhân sở hữu, xem chùa như của
riêng một giòng tộc, gia đình, đôi khi biến
thành giống như am miếu, nơi để cầu xin cúng
kiến. Một số khác do không người quản lý nên địa
phương đưa vào sử dụng cho những việc khác như
phòng thuốc đông y, cơ sở từ thiện v.v…
1.2. Đội ngũ Tăng Ni:
a. Những Bậc Tôn Đức, quí Tăng Ni lớn tuổi:
Ở những vùng nông thôn xa xôi hiếm có những Bậc
Tôn Đức trú ngụ hành đạo. Nếu có cũng là nơi ẩn
tu của các vị chỉ chuyên tâm tu hành một cách
lặng lẽ, không tham gia Phật sự. Quí Tăng Ni lớn
tuổi thì đa số trình độ giáo lý và khả năng
thuyết pháp có hạn, chỉ có thể làm công việc
tụng kinh lễ bái, cúng sao giải hạn…
b. Lớp Tăng Ni trẻ:
Một số được đào tạo học hành ở thành phố về thì
không có điều kiện thể hiện khả năng hoặc cũng…
thực sự không có khả năng làm Phật sự. Một số vì
sự lơi lỏng của bổn sư trở nên dễ dãi lôi thôi,
làm mất đi vẻ đẹp hình ảnh tăng chúng trong lòng
dân chúng. Chuyện phá giới nhậu nhẹt của những
vị thầy ở nông thôn, vùng sâu vùng xa là chuyện
thường xảy ra, không một người dân nông thôn nào
không biết thực tế đáng buồn ấy! Đó là một thực
trạng mà nếu Giáo hội, các Ban Trị sự các tỉnh
không quan tâm sâu sát, có biện pháp giáo dục xử
lý nghiêm khắc thì ảnh hưởng xấu đến uy tín của
đạo Phật không thể lường được. Người dân mất
lòng kính tin Tam Bảo, và cái nhìn ấy khắc sâu
rồi truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang
đến hậu quả rất nghiêm trọng.
1.3. Phật tử:
Đa số người dân ở những vùng sâu vùng xa, ai
cũng nghĩ rằng mình theo đạo Phật, đến ngày rằm,
mùng một thì đi chùa, ăn chay, nhưng nếu hỏi đến
pháp danh và việc quy y thì hầu như đa số chưa
biết quy y là gì! Đến chùa nghe kinh thì được
chớ ngồi xuống tụng kinh thì việc ấy xa vời lắm!
Ở một số ngôi chùa vùng thị xã, thị trấn thì
trình độ người Phật tử có khá hơn, thuần thành
hơn nhưng chủ yếu vẫn chỉ là niềm tin thuần túy,
chưa hiểu biết gì mấy đến giáo lý, thọ Ngũ giới
rồi nhưng chủ yếu là sống theo những nguyên tắc
đạo lý dân gian.
1.4. Sinh hoạt Phật sự:
a. Chủ yếu là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng, cầu
an cầu siêu, hành hương du lịch:
Đa số các chùa ở nông thôn chủ yếu là tổ chức lễ
bái vào những ngày rằm, ngày vía, ngày kỵ, cúng
sao v.v… chớ chưa quan tâm đưa việc truyền bá
giáo lý bằng hình thức thuyết pháp cho dân
chúng.
b. Những khóa tu tổ chức một cách thiếu chặt
chẽ, khoa học:
Những chùa khá hơn, thỉnh thoảng có tổ chức
những khóa tu niệm Phật, Bát quan trai… nhưng
còn rất sơ khởi, chưa thu hút được nhiều Phật tử
tham gia.
c. Những buổi thuyết pháp hiếm hoi mang tính
chất ra mắt, giới thiệu nhiều hơn là thuyết
giảng:
Thỉnh thoảng có vài Bậc Tôn Đức ở thành phố về
thăm nhân dịp húy kỵ hoặc khánh thành công trình
tự viện nào đó thì cũng có tổ chức những buổi
thuyết pháp, nhưng đề tài cũng chỉ “cỡi ngựa xem
hoa” chung chung, không thể đi sâu bởi lâu lâu
mới có dịp gặp một lần và có thể cũng không còn
lần trở lại thì làm sao mà có đề tài thuyết pháp
cho sâu sắc, có hệ thống
được.
Trên đây chỉ là những nét cơ bản, khái quát tình
hình thực tế về việc hoằng pháp ở nông thôn vùng
sâu vùng xa hiện nay. Trước thực trạng như thế,
một phương án hoằng pháp cho vùng nông thôn từ
lâu đã được tăng sinh trăn trở, ấp ủ. Rất mong
có ngày được trình bày, được áp dụng, ngõ hầu
mang ánh sáng Phật Đà soi cùng mọi nẻo, đem lại
chút lợi lạc cho những mảnh đời của người dân
vùng nông thôn, được tiếp cận với Chánh pháp mà
tu tập cải thiện đời sống tốt đẹp an lành hơn.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN HOẰNG PHÁP VÙNG SÂU VÙNG XA
2.1. SỰ CHUẨN BỊ
2.1.1. Tinh thần:
Xác định rõ mục đích hướng đến để chọn cho mình
một phương pháp phù hợp và quyết tâm thực hiện
một cách cương quyết, bền chí theo tinh thần
Bi-Trí-Dũng của đạo Phật. Tinh thần là một yếu
tố rất quan trọng đối với một hành giả muốn đem
chánh pháp trở lại với lòng người, nếu yếu tố
tinh thần không kiên quyết bền chí thì e rằng sự
việc khó thành. Do đó khi đã chọn cho mình hướng
đến, một phương pháp phù hợp thì phải quyết tâm
và thành tựu, chớ không nên (đem con bỏ chợ) làm
không đâu tới đâu.
Người có tâm nguyện về hoằng pháp thì sẽ không
ngại khó, ngại khổ, không cân đo quyền lợi,
không tính toán thùụ lao. Phải phát nguyện
nghiêm túc, như một lời thề, như thế sẽ có thêm
sức mạnh bản thân, đồng thời thêm lực gia hộ từ
Chư Phật, Chư Thiên. Không phát nguyện đàng
hoàng, chúng ta vui làm buồn bỏ, không cố gắng
giữ uy tín. Từ tâm nguyện nhiệt tình này sẽ
chiêu cảm những thứ khác; thí dụ chúng ta sẽ ham
học hỏi, nghiên cứu giảng dạy cho sâu sắc, cố
gắng giảng dạy sáng tạo hấp dẫn, dễ hiểu, tìm
thêm các hoạt động khác lôi cuốn người học đến
chùa... Nói chung nhiệt tình là cái gốc của sự
dấn thân, khi dấn thân sẽ xoay sở để vượt qua
mọi khó khăn. Có nhiệt tình rồi, có thêm năng
khiếu nữa thì sẽ thành công. Thực tế, trong tăng
đoàn chúng ta số người có năng khiếu giảng dạy
không nhiều lắm. Tuy nhiên trong trường hợp ít
năng khiếu mà có nhiệt tình thì việc hoằng pháp
cũng được bù đắp ít nhiều, bù đắp từ việc nghiên
cứu, học hỏi tài liệu, từ việc mày mò sáng tạo
như chuẩn bị giáo án chu đáo, làm thêm những mô
hình minh họa cho bài học, cắt dán tranh ảnh vui
mắt dễ thuộc, khiến cho Phật tử thích thú, không
buồn ngủ. Tóm lại, giảng sư không có năng khiếu
cũng đừng sợ, cứ mạnh dạn vào cuộc dần dần thì
cũng được thành công khả quan.
Rèn luyện học tập, cập nhật những thông tin mới,
tiếp cận với những hơi thở cuộc sống và con
người hôm nay, thì mới tìm cách thuyết phục
thính chúng. Cho nên bên cạnh học nội điển,
chúng ta còn ủng hộ việc học ngoại điển, chúng
ta còn ủng hộ việc đọc báo, xem thời sự... Mục
đích không tham luyến mà quan sát cuộc sống, tìm
lối đi phù hợp cho việc hoằng pháp. Phước đức,
đây mới chính là tiềm ẩn phía sau, gần như quyết
định sự nghiệp giảng sư. Người có phước đức lớn,
từ nhiều đời nhiều kiếp, nổi tiếng ngay thuận
lợi đủ bề. Người kém phước, thì gặp nhiều nghiệp
duyên, thậm chí muốn lên giảng cho người ta cũng
không được vì không đủ hảo tướng, hoặc ngôn ngữ,
hoặc ủng hộ… Tuy nhiên với tâm huyết mạnh mẽ thì
chúng ta có thể chuyển nghiệp được. Có người cứ
cần mẫn làm công tác chùa, cho huynh đệ, chuyện
nhỏ lớn gì cũng không từ nan, tích lũy phước đức
để sau nầy thực hiện hoài bão, vì có phước đức
thì tự nhiên sanh năng khiếu, sanh sự sáng tạo,
trí thông minh học hỏi, những thuận duyên khác
nữa. Ngược lại chúng ta có sẵn phước đức mà
không biết giữ gìn, lại còn làm hao tổn đi, như
tính cù lao chê dùng khó khăn, ganh tỵ với đồng
nghiệp, kêu căn mất oai nghi phẩm hạnh… thì việc
hoằng pháp cũng bị gãy đỗ, vị ấy sẽ không đạt
được tâm nguyện hoằng pháp.
Tóm lại, muốn cho công tác hoằng pháp vùng sâu
vùng xa được thực thi, người phát nguyện phải
chuẩn bị cho mình một tinh thần Bi-Trí-Dũng.
Phải trang bị cho mình một hành trang kiến thức
chu đáo, một tinh thần vững vàng. Phải xác định
chấp nhận khó khăn, quyết tâm làm Phật sự, vì
lòng bi mẫn với người dân nông thôn. Chuẩn bị
một tinh thần như thế thì khi bước vào thực tế
khó khăn, người mang trọng trách sứ giả Như Lai
sẽ không chùn bước. Công cuộc hoằng dương Chánh
Pháp mới có thể thành tựu.
2.1.2. Vật chất:
Phải chuẩn bị cho mình nguồn tài trợ, ủng hộ khi
cần trong công việc hoằng pháp. “Có thực mới vực
được Đạo”! Xã hội ngày nay không như ngày xưa,
công việc hoằng pháp đòi hỏi nhiều điều kiện trợ
duyên hơn ngày xưa nhiều. Ngoài tinh thần truyền
dạy giáo lý triết lý nhà Phật đến với người, ta
cần phải tạo dựng một nguồn tài chính để chủ
động trong mọi hoàn cảnh. Bản thân mình không
cơm ăn áo mặc, không có đủ những phương tiện cần
thiết nhất thì khó mà làm việc một cách thuận
lợi được.
Công tác hoằng pháp phải cần một số cơ sở vật
chất làm phương tiện để hoạt động, thí dụ: phòng
ốc, ampli, loa… Tuy nhiên, đừng quá quan trọng
tiêu chuẩn này. Vấn đề là đem giáo pháp cho Phật
tử, bất luận nhiều hay ít, đừng tham lam, làm
rình rang mà quá sức mình. Tùy nhân duyên mà độ,
miễn tâm nguyện chân thành là được. Tùy nhân
duyên, nhân và duyên là hai yếu tố để hình thành
một pháp. Nhân là yếu tố chính, duyên là yếu tố
phụ thuộc, có nhân mà không có duyên hay có
duyên mà không có nhân đều không đủ hình thành
một pháp, cần có một vật “tướng như vậy, thể như
vậy, dụng như vậy” thì đều thiết yếu phải có đủ
“nhân như vậy, duyên như vậy” mới hình thành quả
như vậy, nó không thể thiếu hay dư, vì thiếu hay
dư nó không thể hình thành một pháp khác thích
ứng với nhân duyên của nó. Thí dụ như muốn có
được đĩa xôi thơm ngon phải có hạt nếp, nước,
lửa, nồi… Trong đó hạt nếp là yếu tố chính
(nhân), những yếu tố còn lại là phụ (duyên). Nếu
có đủ nồi, nước, lửa, bếp (duyên) mà không có
hạt nếp (nhân) thì không có đĩa xôi thơm ngon;
ngược lại có hạt nếp (nhân) mà không có nước,
lửa, nồi, bếp... (duyên) thì hạt nếp không thể
thành đĩa xôi, khi có đủ những thứ trên cũng
chưa trở thành đĩa xôi thơm ngon, vì nếu lửa dư
thì nếp khét, lửa thiếu thì nếp sống, nước thiếu
thì thành nếp rang, dư nước thì thành cháo… Thế
nên muốn được đĩa xôi thơm ngon như ý muốn điều
cần phải có đủ những yếu tố và liều lượng (nhân
duyên) thích ứng với nó. Từ đó suy ra tất cả các
pháp cũng như vậy, cho đến thân người phải có đủ
yếu tố đất, nước, gió, lửa,… mới hình thành, cho
nên việc hoằng pháp chúng ta hôm nay, muốn đạt
được kết quả mỹ mãn như ý muốn cũng cần phải có
đầy đủ yếu tố thích ứng.
Để chuẩn bị cho mình một nền tảng khá vững chắc
về mặt vật chất, có lẽ ta nên có các mối quan hệ
với các mạnh thường quân, tâm sự với họ phát
nguyện của mình, trình bày lý tưởng, kế hoạch
của mình một cách thuyết phục để vận động, khơi
dậy lòng hảo tâm nhiệt tình đóng góp khi công
tác Phật sự cần. Bởi nguồn tài trợ chính đó nó
giúp chúng ta thuận lợi về mọi mặt khi hoằng
pháp ở nông thôn.
2.1.3. Sự ủng hộ giúp đỡ của Giáo hội, các Bậc
Tôn Đức và khả năng tự thân:
Ngoài sự chuẩn bị về tinh thần và vật chất,
chúng ta cần có nguồn động viên và trợ lực của
Giáo hội và các Bậc Tôn Đức. Phải có một nguồn
động viên tinh thần và chỗ dựa vững chắc về mặt
pháp lý và giáo lý. Nếu đơn phương độc mã thì
việc hành đạo sẽ rất khó khăn. Nếu được sự giúp
đỡ quan tâm của Giáo hội thì công việc hoằng
pháp về mặt quản lý, pháp lý, xã hội sẽ an ổn,
tạo nhiều thuận duyên cho ta. Nếu được sự nâng
đỡ, trợ lực của các Bậc Tôn Đức thì công việc
mới vững vàng, ta sẽ tự tin hơn.
Ngoài sự ủng hộ của giáo hội và các Bậc Tôn
Đức, người làm Phật sự phải luôn trao dồi giới
luật, trao dồi đạo đức bản thân. Đức hạnh là đạo
đức phẩm hạnh, là nếp sống hành vi có mực thước,
khiến cho mọi người cung kính tôn trọng. Vị
giảng sư là sứ giả của Như Lai, là bậc gương mẫu
thay Phật chuyển pháp làm lợi lạc cho mọi người,
là người dẫn đường sáng suốt biết căn tánh nhu
cầu của chúng sanh hướng dẫn họ đến cứu cánh an
lạc. Như trong Kinh Pháp Hoa phẩm thứ 12 Phật
thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật [12,320]. Đó là
cái đức sâu rộng của Phật khiến cho mọi người
quy kính không cùng tận. Nhờ tài đức chiêu cảm
khiến cho mọi người phát bồ đề tâm cầu đạo vô
thượng chuyển thù thành người thân, hủy bán
thành kính trọng. Như trong Kinh Pháp Hoa phẩm
“Thường Bất Khinh Bồ Tát” thứ 20 ghi: “lúc ấy
bốn chúng tăng thượng mạn khinh tiện, đánh nén
thường bất khinh Bồ Tát thuở trước, thấy Ngài
đặng sức thần thông lớn, sức đại nhạo thuyết,
sức đại thiện tịch, nghe vị đó nói pháp đều tin
phục tùy tùng” [12,466]. Cho nên tài đức giảng
sư vô cùng quan trọng, có khả năng cảm hóa người
khác, vì thế vị giảng sư không thể thiếu tài và
đức. Tuy nhiên có những trường hợp vị giảng sư
có đủ tài đức nhưng giáo hóa người khác không
tin nhận, vì họ không có duyên lành với giảng sư
như 5000 vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu
bà di bỏ pháp hội ra đi khi Phật sắp nói Kinh
Pháp Hoa. Cho nên điều thứ hai đòi hỏi thính
chúng phải có duyên lành với giảng sư...Vị giảng
sư có tài đức là yếu tố quan trọng để cảm hóa
người nhưng chưa đủ thành tựu một pháp hội mà
cần phải thính chúng, đủ nhân duyên với giảng
sư, nếu không có nhân duyên thì không thể nghe
pháp mầu như trong Kinh Pháp Hoa phẩm phương
tiện thứ 2 có ghi “khi Phật nhận thỉnh lời cầu
của xá lợi phất thì trong chúng hội có Tỳ kheo,
Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cả thảy 5000 từ
chỗ ngồi đứng dậy đến lễ Phật mà lui về”
[12,62]. Đây là những chúng hội không có duyên
lành với giảng sư, dù họ sắp được nghe mà không
nghe được. Ngược lại có đủ duyên lành Tam bảo
mới được nghe pháp mầu, như trong Kinh Pháp Hoa
phẩm “Thường Bất Khinh Bồ Tát” thứ 20 Phật kể
tiền thân Ngài là một Tỳ kheo tên Thường Bất
Khinh, nhờ nhẫn nhục chịu đựng sự mắng nhiếc,
đánh đập của tứ chúng tăng thượng mạn nên sớm
thành tựu pháp mầu vi diệu và giáo hóa họ thành
tựu thánh quả chính là 500 vị Bồ Tát, 500 vị Tỳ
kheo, 500 Ưu bà tắc có trong hội chúng [12,468].
Từ trong những đoạn kinh trên, chúng ta có thể
nói từ chúng đệ tử trong pháp hội của Phật đều
là quyến thuộc đã gần gũi tu học với Ngài, theo
Ngài làm quyến thuộc, ủng hộ và giáo hóa chúng
sanh mà Ngài chỉ độ được những chúng sanh có
duyên với Ngài mà thôi, còn lại nhưng người
không có duyên thì Phật dùng phương tiện giáo
hóa khiến họ tin và kết duyên lành với Tam bảo.
Vì vậy muốn thành tựu pháp hội phải có quyến
thuộc đủ duyên lành với giảng sư. Tuy nhiên nếu
có đủ hai duyên đó cũng chưa đủ để thành pháp
hội, vì có giảng sư có thính chúng mà không có
pháp thích ứng, khiến thính chúng không thu nhận
được thâm ý cũng không kết quả. Căn tánh chúng
sanh không đồng nhau, Phật tùy chúng sanh, dạy
bày chúng sanh pháp thích ứng, phù hợp với hoàn
cảnh căn cơ của chúng sanh, pháp Phật nói ra
không pháp nào chẳng vi diệu, người thấy không
vi diệu là do không đúng căn tánh, nhu cầu của
người nghe như thuốc trị bệnh, thuốc nào cũng
hay nhưng không phải bệnh nào cũng trị được bởi
một thứ thuốc: Như nhâm sâm là thuốc qúy lại đem
cho người đang đau bụng uống vào là chết. Cho
nên cái nào thích ứng thì cái đó qúy, cái nào
không thích ứng dầu nó qúy đến đâu cũng thành vô
nghĩa, thậm chí có khi trở thành tai hại. Do đó
Phật tùy thính chúng mà phương tiện nói pháp phù
hợp tùy căn cơ của mỗi người, dẫn dắt họ đến cứu
cánh an lạc, như trong Kinh Pháp Hoa phẩm Thí dụ
thứ 3 Phật nói: “các đức Như Lai dùng sức phương
tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba”
[12,119] để dẫn dắt chúng sanh đồng nhất thiết
trí. Như ông trưởng giả muốn cứu con ra khỏi nhà
lửa, bèn nói dối ngoài cửa cha có ba thứ xe, các
con ra cha sẽ cho, các con đồng đua nhau chạy ra
khỏi nhà lửa, trưởng giả mừng vui, đồng cho xe
qúy nhất. Một giảng sư trong thời đại hiện nay
cũng tùy theo nhân duyên, căn tánh và nhu cầu
người nghe ở mỗi nơi mà dùng phương pháp thích
ứng, khiến cho họ phát bồ đề tâm, thành tựu tất
cả thiện pháp.
2.1.4. Năng lực:
Tuy nhiên, khi hoằng pháp không chỉ nhìn vào
nhân duyên mà quên đi năng lực chính mình, phải
thấy những ưu và khuyết để nhận lãnh việc thích
ứng. Hay nói khác hơn đòi hỏi khả năng giảng sư
phải ngang bằng hoàn cảnh mới đạt kết quả tốt.
Trong khi hoằng pháp, không phải lúc nào vị
giảng pháp bằng ngôn ngữ, mà có lúc thuyết pháp
bằng êm lặng, hoặc dùng đạo đức, công đức mà cảm
hóa. Ngôn ngữ: tất cả ngôn ngữ đều phát ra tâm
lý người hiểu biết, suy nghĩ như thế nào khi nói
biểu lộ như thế nấy, cho nên đồng câu nói có
người nói nghe mát dạ, có người nói nghe buồn
cười, người không tu nói nghe khác, người có tu
nói nghe khác. Ngày xưa đức Phật hiện cỏi đời
này tùy duyên mà thuyết pháp, ngôn ngữ ba thời
đều lành, làm vui đẹp lòng chúng, ngày nay vị
giảng sư muốn hoằng pháp phải có tâm hồn bình
ổn, suy nghĩ đúng đắng, nhìn chính xác, lời nói
phát ra nghe thâm trầm, thấm sâu vào lòng người.
Từ một lời nói, một câu kệ làm cho người nghe
phát tâm bồ đề kính tin Tam bảo. Như phẩm Phương
tiện thứ 2 trong Kinh Pháp Hoa, Phật nói: “Như
Lai hay dùng các món phân biệt, khéo nói các
pháp, lời nói im diệu vui đẹp lòng chúng”
[12,52].
Vị giảng sư nghiên cứu thâm nhập Tam tạng giáo
điển của Phật, thông hiểu thấu suốt các pháp
không chướng ngại, nhờ khả năng tu tập, thông
đạt những nghĩa lý sâu mầu. Do sự tinh tấn trao
dồi học tập, khéo chọn lựa lời nói, lâu ngày
thành thông đạt, khi đến pháp tòa diễn thuyết
lời lẻ êm dịu, sâu mầu, rõ ràng dễ hiểu làm thỏa
mãn người nghe, khiến họ được điều chưa từng có,
tự giác tự nguyện tu tập, đem khả năng của mình
ra ủng hộ Phật Pháp.
Tuy nhiên theo quốc độ, nhu cầu căn tánh chúng
sanh, ở mỗi thời kỳ không giống nhau, cho nên
giảng sư không phải lúc nào cũng thuyết pháp
bằng ngôn ngữ, mà có lúc êm lặng, không nói mà
nói thật nhiều, thật sâu sắc.
Êm lặng: người nói nhiều chưa hẳn là nói hay, có
nói hay mà không đúng nhu cầu người nghe, họ
không chấp nhận, cũng trở thành dỡ. Nên người
nói hay không phải nói nhiều mà nói đúng thời,
đúng đối tượng, đúng nhu cầu thậm chí ít nói,
không nói mà làm cho người tỏ ngộ. Như phẩm tựa
thứ nhứt trong Kinh Pháp Hoa ghi: “đức Phật nhập
định” [12,22] vô lượng nghĩa xứ thân và tâm
không lai động, lúc đó trời rải hoa cúng dường,
khắp cỏi nước Phật sáu diệu vang động. Bây giờ
từ tướng bạch hào Phật phóng luồng hào quang soi
sáng khắp mười phương thế giới, làm cho chúng ở
cõi nầy thấy suốt các cõi khác. Việc nảy làm đại
chúng ngơ ngác không hiểu ý gì. Di lặc liền đến
hỏi Văn Thù, Văn Thù thực lại bản hạnh của Phật
Nhật Nguyệt Đăng Minh, đại chúng biết được việt
làm của Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Hiền Thánh
Tăng thời quá khứ, lòng mừng phấn khởi việc chưa
từng có và mong cầu hôm nay được nghe pháp hy
hữu chính nơi Phật. Đức Phật nhập định, lặng lẽ
không một lời, khi đó một tia sáng nhỏ từ tướng
bạch hào khiến đại chúng thấu suốt khắp pháp
giới, trời rải hoa cúng dường, khắp cõi Phật sáu
diệu vang động. Đức Phật không cần nói mà bao
nhiêu người lắng nghe, lòng suy nghĩ miên mang:
Phật sẽ nói gì?… Họ khao khát được biết, khi đó
một cử chỉ nhỏ của Ngài, hoa trời cũng rơi rụng,
chẳng khác nào:
“Đại hạn phùng cam vũ
Tha phương ngộ cố tri”
Nghĩa là, đương cơn nắng hạn được đám mưa rào,
xứ lạ xa quê gặp người tri kỷ. Cho nên Phật êm
lặng để lòng chúng chấn động, soi xét tất cả
những gì từ xưa đến nay Phật đã làm, đã nói, đã
nghĩ bằng cuộc đời cao thượng vượt khỏi cấu
trược thế gian. Như hoa sen vượt khỏi bùn lầy
hiến dâng cho người cành hoa tươi thắm, hương vị
đậm đà, tròn đầy những hạt, họ thích thú được
điều chưa từng có. Trên đường hoằng pháp cũng
thế, thính chúng chưa thuần thục, chưa muốn nghe
vì chưa đủ duyên, đủ niềm tin nơi chúng ta, khi
đó không nên nói mà phải êm lặng thực hành vì tự
an ổn, được lợi lành lớn, làm cho đủ niềm tin,
thích thú tìm hiểu nơi chúng ta, càng tìm hiểu
họ mới thấy có giá trị, khi đó nhất cử nhất động
đều là một bài pháp để họ học, cũng như chỉ một
tia sáng bạch hào của Phật mà họ thấy khắp tất
cả pháp giới những hạnh nghiệp của Tứ Thánh, Lục
Phàm, họ tìm cho mình con đường giải thoát. Họ
lắng nghe những gì nơi giảng sư, từ đó mà họ
nhận được chân lý trên cuộc đời. Cho nên trong
lúc giảng pháp có khi chúng ta êm lặng mà đạt
kết quả không thể nghĩ bàn. Như cái êm lặng của
Duy Ma làm đại chúng được lợi ích, sự êm lặng
của Bồ Đề Đạt Ma mà Huệ Khả làm Tổ thứ 29, Tu Bồ
Đề êm lặng Chư Thiên lại cúng dường... những thứ
êm lặng đó đã nói đến chỗ tột cùng của chân ý,
làm cho ai ai cũng nhắm vào đó mà tu tập. Các
Bậc Cổ Đức êm lặng, cả cuộc đời đạo hạnh thanh
cao trí tuệ siêu phàm của các Ngài đi sâu vào
lòng mọi người, họ kính tin, tuân phục. Chúng ta
ngày nay muốn được như thế trước tiên phải làm
cái gì đó để đời học hỏi, ghi nhớ. Có phải chăng
đó là nếp sống đạo đức thật đẹp. Đạo đức: đạo
đức nói cho đủ là đạo lý và đức hạnh là nếp sống
thánh thiện có lợi ích cho người, có tác động
sâu sắc làm cho người kính phục và công nhận.
Người có đạo đức mới giáo hóa được người, họ mến
người tức là mến đạo, người thuyết pháp truyền
đạo là truyền dạy cái đạo đức, cái an lạc giải
thoát cho đời, nếu giảng sư không có đạo đức,
không có cái gì để người suy nghĩ, thì thuyết
pháp chẳng ai nghe. Vì giáo lý của Phật không
phải là giáo lý suông, mà là nguyên tắc đưa đến
cứu cánh an lạc giải thoát, người học đạo là học
để tu, để đưa lợi lạc giải thoát, chớ không phải
học để nói suông, cho nên vị giảng sư nói được
phải làm được để chứng minh pháp của Phật là
châu báu, là vô giá, lời nói của mình thật đưa
đến cứu cánh an lạc chứ không phải lời viễn vong
vô ích dùng để lý luận suông, nên pháp của Phật
nói ra có học có hành là kết quả an lạc giải
thoát:
“Như cành hoa tươi đẹp, có sắc lại thêm hương
Cũng thế lời nói hay, có làm có kết quả” (PC)
Quan niệm đạo đức của người tu là người chơn
chất, thật thà, chuyên tu khổ hạnh... Vị giảng
sư làm đạo, đến nơi nào phải phương tiện tùy
thuận nơi đó, như xứ kia qúy trọng người trí
thức thì phải đóng vai người trí thức, xứ nọ qúy
trọng người bảo hộ quần chúng thì vị đó phải
đóng vai bảo hộ quần chúng, xứ đó người nghèo
đói thì cần sự ăn mặc thì vị giảng sư đem cơm áo
đến cho người, xứ kia qúy trọng người tu hành
khổ hạnh thì vị giảng sư đến đó phải tu hành khổ
hạnh... có như thế họ cảm phục và kính tin.
Chừng đó giảng sư mới giáo hóa được họ. Như
trong Kinh Pháp Hoa phẩm An lạc hạnh thứ 14 Phật
dạy: “nếu vị Bồ Tát ở đời ác sau muốn nói kinh
này phải an trụ bốn pháp”, đó là: 1- Hành xứ và
thân cận xứ, 2- Nhứt thiết pháp không như thật
tướng, 3- An lạc hạnh, 4- Đại từ bi tâm
[12,346].
Đạo đức là nguồn an lạc vững chãi cho chính
mình, cho mọi người. Đạo đức cũng từng theo gốc
độ, thời gian nhu cầu của con người thời đại. Vị
giảng sư dùng đủ mọi phương tiện bước chân vào
đời, xây dựng cuộc đời tốt đẹp an vui hơn. Các
Bậc Tiền Bối đạo cao đức trọng, đời sống các
Ngài trầm mặc đẹp đẽ đã tác động đến muôn loài,
khiến chúng sanh bỏ ác làm lành, bỏ tà về chánh.
Các Ngài đối diện với cuộc đời, hiện thân trong
các ngành nghề, dùng trí tuệ xoa dịu khổ đau cho
họ, nung đúc nghị lực cho họ, họ cần vật chất
các Ngài dùng vật chất để đối trị, tạo cho họ có
cuộc sống vật chất đầy đủ. Các Ngài góp phần xây
dựng cuộc đời tốt đẹp hơn, tạo thành thế giới
cực lạc tại cõi Ta bà đau khổ này.
Sự thị hiện của đức Phật Thích Ca ở thế giới Ta
bà, cả cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng. Ngài
luôn nghĩ nói hành động phù hợp với nhu cầu của
mọi người, không chỉ đời này mà nhiều đời trước
cũng thế. Ngài đã từng làm như vậy, trong Kinh
Tiền Thân Đức Phật ghi rõ, khi hiện thân làm
người, Ngài có cuộc sống tốt đẹp vượt loài
người, đem an lạc cho mọi người. Cho nên đạo đức
cũng phải tùy nơi, tùy thời, tùy đối tượng.
Chúng sanh nơi nào, cần gì vị giảng sư đến đó,
phải làm như vậy, họ nghĩ người này tốt, người
này hay, người này thông thái tài giỏi có đầy đủ
đạo đức thì vị đó mới giáo hóa được họ.
Chư Phật Chư Bồ Tát thị hiện trên cuộc đời này,
nếp sống đạo hạnh của các Ngài đã gắn sâu vào
lòng muôn loài, các Ngài luôn sống vì lợi ích
chúng sanh. Các Ngài không nghĩ mình là ân nhân
của muôn loài, chính cái không chấp đó mà mọi
người tôn các Ngài là bậc Minh Sư, bậc Đại Từ
Phụ, lời nói của các Ngài được coi là kim ngôn
đáng để lưu truyền nhân gian, làm khuôn vàng
thước ngọc cho mọi người noi theo. Khi các Ngài
là bậc Người mẫu mực, công đức và phước trí mới
giáo hóa chúng sanh được như vậy. Công đức: Công
đức ở đây là nói đến công lao và ân đức, nghĩa
là có công lao với đời, có ân đức với mọi người
tạm gọi là công đức. Công đức là hai yếu tố
không thể thiếu đối với một vị tu sĩ. Người xuất
gia tu tập sống với đời dùng chúng sanh làm đối
tượng để tu, các vị Bồ Tát khi làm đạo thì hòa
nhập vào đời, dùng Tứ nhiếp pháp để hóa độ họ.
Có chúng sanh Bồ tát mới thành tựu các công đức
rồi lại dùng công đức mà cảm hóa người, dẫn họ
đến con đường giải thoát giác ngộ. Ngược lại nếu
người không có công đức, giáo hóa chẳng ai nghe
mà còn phỉ báng, người thuyết pháp giảng kinh mà
làm cho người phỉ báng là vị đó phá pháp, tạo cơ
hội cho bọn ma chống phá, họ phá hạ Phật Pháp.
Cho nên trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện
thứ 2, Phật nói: “Nếu nói ra việc đó thì tất cả
trong đời, trời, người, A Tu La, đều kinh nghi,
Tỳ kheo tăng thượng mạn, sẽ phải sa vào hầm lớn”
[12,60]. Nên khi 5000 vị tăng thượng mạn gốc tội
sâu nặng ra đi. Ngài không ngăn cản, họ đi xong,
Phật bảo Xá Lợi Phất: “Trong chúng ta đây không
còn cành lá, rặt có hột chắc. Xá Lợi Phất! Những
gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt”
[12,62]. Phật nói cho Xá Lợi Phất nghe những
pháp vi diệu khó tin, khó hiểu thứ nhất. Đó là
pháp Nhất thừa, những người có đủ niềm tin nơi
Phật, sâu trồng căn lành mới có thể nghe nhận
được.
Đức Phật là người có đầy đủ công đức, lời người
nói ra ai cũng đều tin nhận. Trọn cuộc đời Ngài
đã thể hiện rõ những gì Ngài nói, Ngài dạy cho
người chỗ Phật tu, Phật chứng, là nếp sống mà
Ngài đã sống. Đối với đời Ngài là vị thái tử
giàu sang quyền thế mà không bao giờ ỷ lại. Luôn
thương tưởng đến mọi loài, vui lòng bỏ cung vàng
điện ngọc, vợ đẹp con thơ, chịu đói chịu khổ,
dấn thân vào chốn rừng thiên nước độc để tìm ra
con đường đem đến an lạc cho chúng sanh. Đối với
đạo, Ngài là vị giáo chủ sáng suốt, biết tùy
thuận chúng sanh, dùng phương tiện dẫn dắt mọi
người đến chỗ cứu cánh an lạc.
Đức độ của Ngài ảnh hưởng sâu sắc cho mọi loại,
cho đến ngày nay có người chỉ giả bộ như Phật
cũng được mọi người ưu đãi, như thế đều do cái
công đức quá sâu dày của Phật cho nên thời Kinh
Pháp Hoa mọi người mới có thể tin tưởng. Cho đến
các bậc đạo cao đức trọng sau này, các Ngài ẩn
trong rừng, trong núùi để tu tập mà mọi người
cũng lần mò tìm đến để được thấy, nghe, học
những gì từ các Ngài. Như Ngài Linh Hựu khi đến
núi Qui, xung quanh toàn là thú dữ, Ngài dùng
đức độ cảm hóa chúng trở thành thuần thiện. Ròng
rã 8 năm không một bóng người, thế mà lần hồi
ngọn núi Qui đã trở thành một đại tòng lâm danh
vang sử sách. Hay như trong hạ thứ 10 của Phật,
trong chúng có hai nhóm Tùy kheo kình chống
nhau, không tin lời Phật, Ngài lặng lẽ vào rừng
sống một mình dưới gốc cây thủy chúa, voi chúa
kính phục ôm bát đi hái trái trên cây, lội xuống
suối múc nước đem về dâng Phật. Công đức của
Phật cảm hóa được tất cả mọi loài trên từ trời,
người, dưới đến loài thú dữ đều kính mộ. Lần hồi
hai nhóm kình chống giải hòa đến sám hối và
thỉnh Phật trở về, cho nên người có đủ công đức
đến đâu cũng được mọi loài kính phục che chở và
cảm hóa được người ngang ngược trở thành hiền
hòa.
Chúng ta ngày nay có công đức với đạo thì đạo
che chở, có đức với dân thì dân ủng hộ. Nó là
chất liệu ẩn chứa bên trong người không thể
thấy, chỉ thấy nó bộc phát ra ngoài qua hành
động. Lời nói làm cho người thấy nghe cảm
phục.Vị giảng sư phải có cái này mới làm đạo
đức, nếu chỉ nói suông không có đạo lý gì để
người suy nghĩ cảm phục thì làm sao họ mến phục
được. Cho nên vị giảng sư nói được phải làm được
cũng để chứng tỏ rằng lời của Phật không phải là
những lời lý luận suông không có kết quả. Mà đó
là phương pháp chất liệu, nếu thực hành sẽ được
cuộc sống hoàn toàn an lạc, giải thoát đem lại
lợi ích cho mình và mọi người, từ đó mọi người
mới tin và học tập theo.
Tóm lại, một vị giảng sư muốn hoằng pháp phải
trao dồi ngôn ngữ, học rộng hiểu sâu, sống nếp
sống đạo hạnh, dùng đức mà cảm hóa người. Khi
cần nói thì nói, khi không cần thì im lặng, biết
tùy theo từng nơi, từng thời, từng đối tượng mà
sử dụng phương tiện thích ứng, đáp ứng đúng nhu
cầu của thính chúng, từ đó họ mới phát tâm, nghe
theo áp dụng tu hành và ủng hộ đạo pháp. Trong
thời hiện đại, nhu cầu dân chúng ngày càng
nhiều, càng đa dạng, vị giảng sư cũng phải có
khả năng ngang bằng nhu cầu xã hội mới có thể
hoằng pháp lợi sanh được; bằng ngược lại nên tự
tu để dùng đức hạnh mà trang nghiêm Tam bảo, tạo
niềm tin cho người. Người tu Phật là tượng trưng
cho trí, đức. Nếu trí không có cũng phải có đức
để người qúy kính. Nếu trí đã không có mà đức
cũng không thì không còn xứng đạo huống chi làm
giảng sư. Cho nên vị giảng sư đòi hỏi phải có
đức lẫn trí. Không có trí thì khác nào:
“Người mù dẫn lũ đui theo dõi,
Sa lửa hầm còn hỏi chi chi”
Cho nên giảng sư đòi hỏi phải có trí
hơn người, nếu không có trí hơn người thì phải
làm hưng long Tam bảo, cũng phải có đức hơn
người để gieo duyên lành cho chúng sanh và trang
nghiêm cho Tam bảo. Như thế mới khỏi phụ lòng
của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni và Chư Tôn Đức đã
dày công giáo dưỡng.
2.1.5. Hiểu rõ đối tượng:
Người nông dân ở nông thôn rất hiền lành chất
phác, tất nhiên họ thích nói giải dị, dễ hiểu
hơn là dùng chữ nghĩa văn hoa. Đôi khi giảng sư
phải học được những phương ngữ nơi vùng đất ấy,
sẽ tạo thêm thiện cảm với họ, hoặc tìm hiểu hoàn
cảnh vài người, rồi dẫn chứng họ rất cảm động,
nghĩ rằng giảng sư quan tâm đến họ. Người nông
dân học chậm nhưng tâm hồn lại thuần khiết, nên
giảng sư dạy cái gì họ tiếp thu trọn vẹn cái đó.
Không cần dạy nhiều, chỉ xoáy vào trọng tâm cuộc
sống là đủ giúp họ có cái nhìn đúng đắn với đạo.
Người dân ở nông thôn dễ thuyết phục, vốn đã sẳn
có đức tin mạnh mẽ và thuần khiết. Đây là một
trong những thuận lợi lớn dành cho chúng ta khi
về hoằng pháp ở nông thôn. Người bình thường có
đức trí mới hiểu được điều thiện ác. Có đức tin
mới dẫn chúng ta đến với con đường giác ngộ giải
thoát. Có đức tin mạnh mẽ và thuần khiết mới dứt
được khổ đau.
Đạo Phật vốn đã bắt rễ sâu xa vào đời sống đa số
người dân Việt Nam. Giáo lý đạo Phật phù hợp với
tâm thế của con người Việt Nam, ảnh hưởng sâu xa
đến đạo đức, cách sống của người dân nông thôn
thuần phác, do đó, gieo hạt giống nhà Phật đến
vùng nông thôn, chúng ta đã có một mảnh đất màu
mỡ, hứa hẹn nhiều bội thu tốt đẹp.
Vùng nông thôn rất ít có những sinh họat văn hóa
giải trí, người dân rất nhàn rỗi thời gian, nếu
chùa có những sinh hoạt tinh thần bổ ích thì rất
dễ thu hút mọi người đến chùa.
Người dân nông thôn hạn chế về mặt kiến thức.
Đạo Phật là đạo giác ngộ nên rất coi trọng trí
tuệ. Tin và hiểu là hai vấn đề có liên quan mật
thiết với nhau. Niềm tin thiếu hiểu biết, đó là
mê tín; niềm tin đặt trên sự hiểu biết sai lạc
đó là mê lầm, thậm chí đi đến cuồng tín! cho nên
Luận Đại Từ Sa nói: “Niềm tin không có trí tuệ
chỉ tăng thêm ngu si”.
Con người là con người trong một cộng đồng mang
tính xã hội, chịu ảnh hưởng của xã hội, dự phần
tác động vào xã hội và có quan hệ mật thiết với
môi trường hoàn cảnh chung quanh, Tâm hay Thức
được Phật giáo định nghĩa là sự tổng hợp của bên
trong và bên ngoài tức là chủ thể của đối tượng,
thiếu đối tượng thì chủ thể không còn là chủ
thể. Lý duyên khởi cũng xác định hiện hữu là
hiện hữu của tổng thể. A có mặt thì B có mặt. A
không có mặt thì B không có mặt, cho nên nhược
điểm của người dân nông thôn là dễ sa vào mê
tín, tinh thần cầu học không cao, chỉ nương tựa
vào thần quyền bùa chú, hoặc nghĩ thần linh là
chỗ dựa trên hết của họ có thể đem quyết định
hên xui cho cuộc đời họ trong cuộc sống hằng
ngày, với sự mền lòng khả tin ấy đã đánh mất đức
tin chân thành của họ đối với một tôn giáo lớn,
họ chỉ biết cúng tế lễ lạy, mà không hiểu được
nghĩa của nó. Cho nên đây cũng là trách nhiệm
chung mà những người hoằng pháp chân chánh phải
ân cần và quyết định cho họ cuộc đời mới trong
tương lai.
2.1.6. Thuận lợi và khó khăn:
a. Thuận lợi:
Vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, rất hiếm những
sinh hoạt văn hóa, tinh thần. Người dân rất
nhiệt tình tham gia các tổ chức sinh hoạt. Nếu ở
vùng đô thị có rất nhiều phương tiện giải trí
tha hồ cho mọi người lựa chọn, thì ngược lại
người dân nông thôn rất “đói” những nón ăn tinh
thần. Chùa chiền, Đình làng… nếu tổ chức những
sinh hoạt, lễ hội thì rất dễ qui tụ người dân
đến tham gia.
Người dân quê chơn thiện, tâm tánh người nông
thôn thuần hậu, chất phác, rất tin vào đời sống
tâm linh, tâm hồn họ là mãnh đất mầu mỡ, trống
trãi, chưa bị tạp nhiễm, chỉ cần hạt giống tốt
là bám rễ, nảy mầm. Giáo lý nhà Phật lại gần gũi
truyền thống, đạo lý nhân nghĩa, tín ngưỡng dân
gian của người nông thôn, nên rất dễ được chấp
nhận, một khi đã tin thì tin rất mãnh liệt, bền
chắc. Đặc biệt, chúng ta cần chú ý đến đội ngũ
tri thức nông thôn như các thầy cô giáo, một số
công chức, những nông dân trẻ có trình độ,… bộ
phận này tuy không nhiều lắm nhưng họ lại có uy
tín trong địa phương, hoằng pháp được cho họ là
có hiệu quả, bởi họ sẽ có những tiếng nói hỗ trợ
chúng ta sau này. Trí thức nông thôn vừa mang
tín chất nông dân hồn hậu, lại vừa mang tính
tiến bộ của thời đại, tiếp xúc với họ thì khá dễ
dàng và thú vị.
Sinh hoạt văn hóa dễ thu hút người dân: nếu ở
thành thị có quá nhiều phương tiện giải trí như
sách báo, phim ảnh, sân khấu ca nhạc, công viên,
lễ hội,… diễn ra hằng ngày, hằng tuần, thì đối
với đời sống nông thôn lại thiếu thốn hơn, hiện
nay nhiều nhà có ti vi, đầu máy, nhưng nón ăn
tinh thần cũng chưa gọi đủ. Chính vì vậy việc
hoằng pháp nên tổ chức sinh hoạt lễ hội, đánh
thức nông thôn, cũng là đánh thức ngôi chùa và
ngôi chùa trở thành một trung tâm văn hóa làng
xã. Không phải chúng ta phá bỏ nếp sống tu hành
yên tĩnh của người xuất gia, khi nào cần tĩnh
thì tĩnh, khi nào cần động thì động, miễn sao
tĩnh động phải đúng lúc, với mục đích hoằng
pháp.
Làng quê không có trung tâm văn hóa cho người
dân, nên chùa chiền cần được tận dụng, nhờ thế
ngôi chùa trở nên gần gũi, và có gần gũi thì
chúng ta mới dễ hoằng pháp. Chỉ cần chúng ta
biết kiên nhẫn chịu khó thêm một chút sáng tạo
ra những hoạt động văn hóa cho cộng đồng, thì
chùa sẽ thu hút mọi người: như tổ chức học giáo
lý theo mô hình đố vui hoặc hái hoa dân chủ thì
phù hợp với nông dân hơn; soạn những giáo án,
tài liệu, gồm những câu hỏi đáp ngắn gọn, theo
kiểu đề cương thi, không nên tham soạn bài
nhiều, và bài cao, thà đi chậm mà chắc, học cái
nào ra cái đó, học thiết thực, lợi ích cho cuộc
đời của họ. Nhưng tùy theo từng địa phương mà
chúng ta phải thay đổi mô hình tổ chức sao cho
phù hợp: như địa phương Phật tử trí thức tham
gia khá đông đặc biệt lứa tuổi từ 20 tới 40
tuổi, vừa có kiến thức tốt, vừa có sự chững chạc
tự tin, đạo tràng như thế khá lý tưởng, nên soạn
bài cao hơn; còn địa phương toàn là thanh thiếu
niên thì công tác hoằng pháp của chúng ta phải
tích cực hơn, chính chúng ta phải chủ động tìm
cách tiếp cận các em chớ không thể thụ động chờ
các em tự đến với mình. Cần thay đổi quan niệm
mà hiện nay nhiều vị đang chấp chặt, đó là ai
cầu pháp thì mới thuyết giảng cho họ, giáo pháp
là qúy báu, không phải năn nỉ người ta học, sẽ
giảm giá trị. Chúng ta nhớ lại, lúc đức Phật
thành đạo dưới cội cây bồ đề, tại sao Ngài không
ngồi tại chỗ đó mà chờ người ta đến cầu pháp, mà
Ngài phải lặn lội trở về vườn Lộc Uyển tìm gặp
năm anh em Kiều Trần Như thuyết giảng cho họ?
Người tự giác đi cầu pháp là người căn tánh đã
thuần nhiều đời nhiều kiếp, chúng ta khỏi lo
lắng, còn người căn tánh chưa thuần thì chúng ta
mới sợ họ đi vào con đường xấu, càng nỗ lực giúp
họ chứ đừng câu nệ ai đi tìm ai. Chúng sanh mang
tâm bệnh chúng ta cần dỗ dành cho họ thuốc giáo
pháp, vì thương họ mà chịu khó. Tuy nhiên, vấn
đề không đến nổi khó khăn như chúng ta tưởng.
Thực tế tiếp cận với các em dễ hơn người lớn
tuổi. Thứ nhất các em rất mau thân thiện, ít rụt
dè cảnh giác, đôi khi chỉ nụ cười là đủ lôi kéo
các em đến gần. Thứ hai, rất dễ sử dụng các trò
chơi, quà bánh thu hút các em, trẻ em nào cũng
thích vui vẻ nô đùa, ăn uống, một bữa liên hoan
nhẹ với bánh kẹo và ca hát là tiếp cận được các
em, làm sao cho các em thấy đến chùa còn nhiều
thứ vui khác chứ không đặc vấn đề học pháp quá
khô khan, nặng nề. Dĩ nhiên mục đích của chúng
ta là học pháp, nhưng nó lồng vào những chuyện
vui vẻ khác, không nên thiết lập giảng đường,
pháp tòa quá trang trọng, căng thẳng khiến các
em sợ. Hiện nay, chương trình học trong nhà
trường đã rất nặng nề rồi, đừng gây cho các em
ấn tượng về chữ học nữa phải biến buổi học thành
một buổi ngoại khóa sinh động, cứ như vừa chơi
vừa học thì các em tham gia ngay. Ngược lại,
chính người dạy pháp cũng sẽ cảm nhận không khí
nhẹ nhàng từ lớp học, bản thân thấy trẻ trung,
sinh động hơn. Hoằng pháp không còn là công việc
nặng nề, mà trở thành công việc yêu thích, thư
giãn lạ lùng. Hoằng pháp nông thôn không dễ,
nhưng không quá khó, vấn đề biết tổ chức ra sao
và đừng mơ những gì quá to tác vượt khỏi khả
năng của mình, của địa phương, cứ kiên nhẫn đi
từ nấc thấp nhất mà lên cao dần. Thà hóa độ được
một người còn hơn xuôi tay đổ thừa cho hoàn
cảnh.
Trên đây là những thuận lợi và khó khăn từ phía
đối tượng hoằng pháp. Còn những thuận lợi và khó
khăn từ những phía người đi hoằng pháp nữa (ở
đây xin nói riêng một chút năng lực về Tăng Ni
trẻ) ví dụ như: Tăng Ni trẻ, chúng ta có thuận
lợi là sức khỏe, lòng nhiệt tình, sức sáng tạo,
có thể “bám trụ lâu dài”, đủ sức đủ khả năng…
làm cách mạng. Tuy nhiên tuổi trẻ cũng là điểm
thuận lợi, cũng là điều khó khăn. Trong tôn
giáo, sự tín ngưỡng rất là quan trọng, truyền
thống phương Đông, bắt người gi&