******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

TÌM HIỂU CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH
XÃ HỘI QUA KINH GIÁO THỌ THI CA LA VIỆT

Thích Chúc Thanh

 

 

PHẦN 1 :  DẪN NHẬP

1. Lý do chọn đề tài

 Học thuyết Duyên Khởi (Paỉiccasamuppàda) của đạo Phật cho thấy rằng, tất cả các pháp trong vũ trụ vạn hữu luôn luôn có mối quan hệ với nhau hết sức chặt chẽ, hết sức mật thiết. Từ cái mong manh, nhỏ bé như hạt sương mai đọng trên cỏ nội hoa ngàn, cho đến cái bao la rộng lớn như giải ngân hà giữa cõi vô biên, tất cả đều tương quan, cùng tác động lẫn nhau trong quá trình sinh thành và hoại diệt. Thậm chí cái vô thanh, vô sắc như ý niệm, khi đã thoáng qua tâm hồn, thì không phải là không lưu lại sức đồng vọng nơi cõi nhân gian. Đạo lý đó được Đức Phật tán thán như sau :

Do cái này có mặt, nên cái kia có mặt

Do cái này không có mặt, nên cái kia không có mặt

Do cái này sinh, nên cái kia sinh

Do cái này diệt, nên cái kia diệt”[18, 219]

 Đặc biệt, giữa con người với con người, thì mối tương quan như vậy lại càng mật thiết chặt chẽ hơn. Tính chất tương thành, tương hoại được thể hiện ở đây vừa cụ thể sinh động, vừa rất thiết thân và có một ý nghĩa thật sâu xa trong cuộc sống cộng đồng. Giáo sư  tiến sĩ  Bruce J. Cohen, cựu trưởng khoa Xã hội học của đại học Michigan, Hoa Kỳ, cũng đã nhận định : “ Trong các nhóm xã hội, các cá nhân luôn luôn thiết lập các mối quan hệ với các cá nhân khác.”[1,14]. Tính chất quan hệ đó như một quy luật khách quan mà dù muốn hay không, con người vẫn phải chịu sự tác động, chi phối của nó. Hơn nữa, con người vốn dĩ có khuynh hướng và nhu cầu thiết lập quan hệ với tha nhân để sinh tồn, phát triển và thăng hoa. Trong cuộc sống, chẳng mấy ai không mong nối được một nhịp cầu bằng hữu tương giao hay vun đắp tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình, xã hội! 

Một quốc gia được vinh dự đứng trên trường quốc tế, được yên ổn sống trong khung cảnh hưng thịnh, phú cường là nhờ ở những người công dân có lương tâm, có hiểu biết và biết thực hành các nghĩa vụ của mình. Một gia đình ấm cúng sống trong sự hòa thuận, tin yêu, vui vẻ không thể không đòi hỏi các nghĩa vụ của từng thành viên trong gia đình đó. Do những lý do trên mà Đức Phật của chúng ta đã thuyết bài kinh “Giáo thọ Thi Ca La Việt” nhằm nhắc chàng thanh niên Singàlaka  làm tốt bổn phận và trách nhiệm của mình đối với tự thân, gia đình, xã hội thay vì lạy sáu phương hết sức mơ hồ như lời phó chúc của phụ thân. Bài kinh do Đức Phật trực tiếp nói cho thanh niên Singàlaka cách nay hơn 25 thế kỷ nhưng nội dung vẫn tuyệt đối căn bản và cần thiết cho con người ngày hôm nay, nhằm xây dựng cuộc sống hạnh phúc an lạc cho bản thân, gia đình, xã hội.

Ngày nay, con người đã tiến rất xa trên con đường tiến hóa, đã tạo ra những phương tiện sản xuất hiện đại để phục vụ cho đời sống vật chất và những đòi hỏi ngày càng cao của nhân loại. Mặc khác, đời sống tinh thần của con người đã và đang có những “dấu hiệu” xuống cấp trầm trọng. Đứng trước tình hình đó, chúng tôi thấy rằng trong kho tàng giáo lý của nhà Phật có rất nhiều bài kinh rất căn bản, nếu được  áp dụng vào thời đại ngày nay có thể cứu vãn được tình thế “nguy kịch này”, và nhất là bài kinh “Giáo thọ Thi Ca La Việt”. Đây là một bài kinh mang đậm tính nhân văn trong Phật giáo, hướng dẫn và giáo dục con người về cung cách cư xử, về những bổn phận và những trách nhiệm đối với chính bản thân cũng như những người xung quanh. Nếu ai thực hiện được những lời dạy của Đức Thế Tôn trong bài kinh này chắc chắn người đó sẽ có được một cuộc sống hạnh phúc, an vui trong hiện tại cũng như các đời sống ở tương lai. Do tính ưu việt của bài kinh, tác giả không ngần ngại, dù kiến thức về Phật học còn hạn chế, khả năng hành trì chưa “vững chãi”, bắt tay vào nghiên cứu bài kinh với hy vọng sẽ góp thêm một cái nhìn mới về đạo Phật – một đạo Phật rất thực tế lạc quan vì con người và cuộc đời chứ không phải  một đạo Phật bi quan yếm thế như người đời xưa nay vẫn nghĩ.

Khi thực hiện đề tài này, chính tác giả cũng muốn tự mình đọc, và ôn lại những lời Phật dạy để cũng cố thêm niềm tin nơi Tam Bảo và nếu những ai hữu duyên đọc được luận văn này sẽ hiểu thêm về “tình thương” của Đức Phật dành cho cuộc đời. Với những ý nghĩ trên tác giả quyết định chọn đề tài này để làm tiểu luận ra trường.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có thể nói đây là một vấn đề “rất cũ” nhưng cũng “rất mới”. Cũ là vì nó nói về các mối quan hệ của con người từ ngày xua đến nay vẫn như thế nhưng nó sẽ mới khi ta đem nó áp dụng vào trong thời đại ngày nay. Và có thể khẳng định ngay rằng: “các mối quan hệ của con người” là đề tài muôn thuở. Đã có một số nhà nghiên cứu Phật học tìm hiểu về vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau như: HT. Thích Minh Châu với bài viết “Đạo đức trong nếp sống người Phật tử”, HT. Thích Thiện Siêu với tác phẩm “ Người tại gia tu Phật”, HT. Narada với tác phẩm “Hạnh phúc gia đình” do Phạm Kim Khánh dịch, HT. Sri K. Dhammananda trong tác phẩm “Hôn nhân hạnh phúc – A Happy married life”  do Tỷ kheo Thích Thiện Minh dịch, và tác phẩm “Các vấn đề của xã hội hôm nay – Human life and Problems” do Thích Tâm Minh dịch,  HT. Walpola Rahula với tác phẩm “ Những gì Đức Phật dạy về thế giới ngày nay” do Quang Bảo dịch, HT. Thích Tâm Châu với tác phẩm “Đạo Phật với con người”, ĐĐ. Thích Nhật Từ với bài viết “Đạo hiếu của Phật giáo qua kinh Thiện Sanh”,  Ananda. W. P. Guruge với tác phẩm “Giáo dục phật giáo” do Thích Nữ Vân Liên dịch, và tác phẩm “Sự đóng góp của Phật giáo cho nên giáo dục” do Thích Nữ Giới Hương dịch, Thích Hạnh Bình với bài viết “Nền tảng xây dựng đời sống đạo đức theo Phật giáo, Thích Nữ Nguyên Đoan trong luận văn tốt nghiệp với nhan đề “ Đi tìm các mối quan hệ gia đình - học đường - xã hội trong kinh tạng Nikàya”, Bùi Mộng Hùng với bài viết “ Đạo Phật có thể đem lại những gì cho giáo dục ngày nay?”, Tỷ kheo Weragoda Sarada với tác phẩm “Cha mẹ, con cái và phương tiện truyền thông” do Thích Nguyên Tạng dịch, Venerable Pyinnyathiha với tác phẩm “Phương pháp đưa đến sự hài hòa xã hội” do Mỹ Thanh dịch, Bình Anson với bài viết “Lòng hiếu thảo trong kinh điển Pàli”, Jacqueline Mandell trong tác phẩm “Làm mẹ và thiền tập”do Diệu Anh Quỳnh Trâm chuyển dịch, Chân Như Phan Thị Thuần với bài viết “Người con Phật nhìn về gia đình”, .v.v.

Nhìn chung, các tác giả trên đã đề cập đến vấn đề này ở nhiều giác độ khác nhau. Có tác giả nhìn nhận vấn đề này từ  góc độ gia đình như bài viết “Đạo đức trong nếp sống người Phật tử” của HT Thích Minh Châu hay “ Người tại gia tu Phật” của HT Thích Thiện Siêu v.v.. Lại có tác giả nhìn  vấn đề này ở góc độ xã hội như  “Phương pháp đưa đến sự hài hòa xã hội” của Venerable Pyinnyathiha hay “Các vấn đề của xã hội hôm nay – Human life and Problems” của HT. Sri K. Dhammananda.v.v. Trong đó, tác phẩm “Đạo hiếu của Phật giáo qua kinh Thiện Sanh” của ĐĐ. Thích Nhật Từ là một trong những bài viết đề cập trực tiếp đến vấn đề này nhưng tác giả chỉ dừng lại ở mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Với những gì của những bậc “đàn anh” đã phát thảo, người viết sử dụng thành quả của những bậc tiền bối và tiếp tục phát triển để cho vấn đề này mỗi ngày một hoàn thiện hơn.

3. Mục đích của đề tài

Đây là một đề tài mang tính “thời sự” vì nó liên quan đến đời sống của mỗi người. Do đó, khi thực hiện đề tài này, tác giả nghĩ rằng đây là một vấn đề luôn luôn mới mẻ, hấp dẫn đối với những ai còn khao khát đi tìm cái hay cái đẹp trong cuộc sống.

Với những lý do đã nêu  trên, mục đích chính của luận văn này sẽ làm rõ ý nghĩa của ba mối quan hệ chính  đó là mối quan hệ giữa “cha mạ - con cái”, mối quan hệ giữa “vợ- chồng” và mối quan hệ giữa “ những bậc xuất gai – tại gia”. Đây là  những mối quan hệ cơ bản để xây dựng một gia đình – xã hội lành mạnh.

4. Nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn tốt nghiệp này chính là những mối quan hệ được nói đến trong bài kinh “Giáo thọ Thi Ca La Việt”.  Nhiệm vụ của đề tài là làm nổi bậc được nội dung và ý nghĩa của các mối liên hệ từ đó có sẽ cho một cái nhìn mới về đạo Phật. Bên cạnh đó tác giả cũng sẽ cố gắng trình bày những điểm hay đẹp của những mối quan hệ trong bài kinh có liên hệ so sánh đến đời sống hiện tại.

5. Phạm vi nghiên cứu

Vì đây là tiểu luận tốt nghiệp, số trang của luận văn  được quy định rất nghiêm ngặt cho nên tác giả chỉ chọn ra ba mối quan hệ mà người viết cho là rất căn bản thể hiện được ý nghĩa của hai loại quan hệ (gia đình – xã hội) đó là: mối quan hệ giã cha mẹ – con cái, quan hệ vợ – chồng và mối quan hệ giữa những vị xuất gia – tại gia.

6. Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện lận văn này, chúng tôi đã tiến hành phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích bình giảng: với phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân tích bình giảng các mối quan hệ được trình bày trong bài kinh có liên hệ so sánh với những vấn đề đương đại. Từ đó, cho thấy được rằng đây là những vấn đề có tính “thời sự” mà Đức Phật đã đề cập và đưa ra giải pháp thiết thực cho từng mối quan hệ cụ thể . Nhân đó, chúng tôi sẽ có một vài nhận định của riêng mình về các mối quan hệ đó.

 

7. Đóng góp của luận văn

Do tính chất “cấp thiết” và tính “thời sự” của vấn đề muôn thuở của con người, chắc chắn đề tài này sẽ cống hiến những hiểu biết và cảm nhận giá trị -  tinh hoa của đạo Phật - cho từng cá nhân và cho sự tiến bộ xã hội nói chung.

Đứng về mặt cá nhân, chúng ta phải thấy rằng bài kinh này đã đang và sẽ nâng phẩm giá của con người lên tầm cao của thời đại. Bởi vì chính sự tương tác của các mối quan hệ sẽ khẳng định chúng ta trong lòng xã hội. Giá trị của con người không nằm trong vị trí hay địa vị xã hội mà nằm trong hành động (đạo đức) và cung cách ứng xử (trí tuệ) của anh ta đối với xã hội. Vấn đề của chúng ta là nhìn nhận, sống và hành động như thế nào mà thôi!

Đứng về mặt xã hội, mọi người đều bình đẳng với nhau không có sự phân biệt về vị trí địa vị. Trong xã hội không có sự cao thấp trong công việc và vị trí của mình. Bất kỳ chúng ta ở vị trí nào nếu chúng ta làm đúng với vai trò của vị trí đó  thì chính chúng ta sẽ nuôi dưỡng được panânâa (trí tuệ) và karùna (từ bi). Từ đó chúng ta hành động để làm lợi mình, lợi người đưa đến an lạc cho bản thân và xã hội.

Vì vậy,  Phật giáo như một phương thức ứng nhân xử thế thắm đượm tình người, một cách sống hoàn toàn thiết thực với đời thường, mà chưa được giới thiệu một cách đầy đủ. Nói khác đi, đạo Phật không chỉ hướng dẫn con đường siêu thế mà còn có khả năng giới thiệu cho con người ( dù Phật tử hay không phải là Phật tử) những phương thức xây dựng tốt đẹp, hữu ích trong các mối quan hệ ở trong  gia đình, và ngoài xã hội. Một đạo Phật hoàn toàn dành cho cuộc sống đời thường mà trước hết là dành cho giới Phật tử tại gia.

 8. Kết cấu của luận văn

                PHẦN 1: DẪN LUẬN

                PHẦN 2: NỘI DUNG

                Chương 1: Tìm hiểu xuất xứ và nội dung bài kinh

                Chương 2: Tìm hiểu các mối quan hệ trong bài kinh

                 PHẦN 3: KẾT LUẬN

 

PHẦN 2  :  NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1

TÌM HIỂU XUẤT XỨ VÀ NỘI DUNG CỦA CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG BÀI KINH

1.1. Xuất xứ  của bài kinh

Một thời Thế Tôn sống ở kinh đô Ràjagaha (Vương Xá ), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivàpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy  giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ  tử,  dậy  sớm,  ra  khỏi  thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ  các phương hướng, Đông, Nam, Tây, Bắc, Hạ, Thượng.

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành  Vương  Xá  khất thực. Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, Đông, Nam,  Tây, Bắc, Hạ, Thượng. Thấy vậy Ngài nói với Singàlaka, gia chủ tử:

- Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm,  ra  khỏi  thành  Vương  Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Đông... hướng Thượng?

- Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: "Này con  thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng". Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm  ướt,  với  tóc  thấm  ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Đông... hướng Thượng.

- Này Gia chủ tử, trong luật pháp của bậc Thánh, lễ bái  sáu  phương không phải như vậy.

- Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, thế  nào  là  lễ  bái sáu phương? Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của  bậc  Thánh,  đảnh  lễ sáu phương phải như thế nào? Lành thay! Thế Tôn hãy  giảng  pháp  ấy cho con!

Này Gia chủ tử, vị Thánh đệ tử hộ trì sáu phương  như  thế  nào? Này Gia chủ tử, sáu phương này cần được hiểu như sau: Phương Đông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần  được hiểu là sư  trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên  cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.[10, 542]

Bài kinh đề cập về nếp sống đạo đức cá nhân, đạo đức gia đình và đạo đức xã hội của người Phật tử. Một nếp sống nỗ lực diệt trừ  các ác pháp, thực hành các thiện pháp và hộ trì sáu phương, một nếp sống được mệnh danh là chiến thắng hai đời: đời này và đời sau. Để hiểu thêm về bài kinh chúng ta lần lượt tìm hiểu các mối quan hệ gia đình và xã hội của bài kinh.

1.2. Tìm hiểu các mối quan hệ gia đình

1.2.1. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái

Này Gia chủ tử, có bốn trường  hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông: "Được nuôi dưỡng,(a) tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ;(b) tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ;(c) tôi sẽ gìn  giữ  gia đình và truyền thống;(d) tôi sẽ bảo vệ tài sản thừa tự; (e) tôi  sẽ  làm  tang lễ khi cha mẹ qua đời".

Này Gia chủ tử, được  con  phụng  dưỡng  như phương Đông theo năm cách như vậy, cha  mẹ  có  lòng  thương  tưởng đến con theo năm cách: (a) Ngăn chận con làm điều ác; (b) khuyến  khích  con làm điều thiện; (c)dạy con nghề nghiệp; (d) cưới  vợ  xứng  đáng  cho  con;(e) đúng thời trao của thừa tự cho con.

Này Gia chủ tử, như vậy là cha mẹ được con phụng  dưỡng  như  phương Đông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng con theo năm cách. Như vậy phương Đông được che chở, được trở  thành  an  ổn  và  thoát khỏi các sợ hãi.

1.2.2.       Quan hệ giữa vợ và chồng

Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ  như phương Tây: (a)Kính trọng vợ, (b) không bất kính đối với  vợ;  (c) trung  thành với vợ; (d) giao quyền hành cho vợ; (e)sắm đồ nữ trang cho vợ.

Này  Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây  theo  năm  cách  như  vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo  năm  cách: (a) Thi  hành  tốt đẹỉp bổn phận của mình; (b) khéo tiếp đón bà con; (c) trung thành với  chồng; (d) khéo gìn giữ tài sản của chồng; (e) khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.

Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người chồng được người vợ trung thanh theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.

1.3.          Tìm hiểu các mối quan hệ xã hội

1.3.1.       Quan hệ giữa thầy – trò

Này Gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam: (a) Đứng dậy để chào; (b)hầu hạ thầy; (c)hăng hái  học tập; (d)tự phục vụ thầy; (e) chú tâm học hỏi nghề nghiệp.

Này Gia  chủ  tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm  cách  như  vậy,  các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng các đệ tử theo năm cách: (a) Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyến; (b) dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; (c) dạy cho thuần thục các nghề nghiệp; (d) khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; (e) bảo  đảm  nghề  nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.

Này Gia chủ tử, bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư tưởng có lòng thương tưởng đệ tử theo năm cách.  Như  vậy, phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các  sợ hãi.[10, 542]

1.3.2.       Quan hệ giữa bạn bè

Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử  với  bạn  bè như phương Bắc: (a) Bố thí; (b) ái ngữ; (c) lợi hành; (d) đồng sự; (e) không lường  gạt.

Này Gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối  xử  như  phương  Bắc  theo năm cách như vậy, bạn bè có lòng thương kính vị thiện  nam  tử  theo năm cách: (a) Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng; (b) bảo  trì  tài  sản của vị thiện nam tử nếu vị này phóng túng; (c) trở thành chỗ  nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm; (d) không tránh xa khi vị  thiện  nam tử gặp khó khăn; (e) kính trọng gia đình của vị thiện nam  tử. 

Này Gia chủ tử,  như  vậy các bạn bè được vị thiện nam tử  đối xử như phương Bắc theo năm  cách và bạn bè có lòng thương vị thiện nam tử  theo năm cách.  Như  vậy phương Bắc được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi  các  sự sợ hãi.

1.3.3.       Quan hệ giữa chủ – người làm công

Này Gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ  nhân  đối  xử  với hạng nô bộc như phương Dưới: (a) Giao việc đúng theo sức lực của họ; (b)  lo cho họ ăn uống và tiền lương; (c) điều trị cho họ khi  bệnh  hoạn; (d) chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ; (e) thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép.

Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc, được Thánh chủ nhân đối xử như  phương  Dưới theo năm cách như kia, có lòng thương đối với vị chủ  nhân  theo  năm cách như sau: (a) Dậy trước khi chủ dậy; (b) đi ngủ sau chủ; (c) tự  bằng  lòng với các vật đã cho; (d) khéo làm các công việc; (e) đem danh tiếng  tốt  đẹp cho chủ.

Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc, được vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, có lòng thương đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở,  được  trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.

1.3.4.       Quan hệ giữa tại gia – xuất gia

Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử  với  các  vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên: (a) Có lòng từ trong hành động về thân; (b) có lòng từ trong hành động về khẩu; (c) có lòng từ trong hành động về ý; (d) mở rộng cửa để đón các vị ấy; (e) cúng dường các  vị  ấy  các vật dụng cần thiết.

Này Gia chủ tử, các vị Bà-la-môn, Sa-môn, được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm  cách như vậy, có lòng thương vị thiện nam tử ấy theo năm cách sau đây: (a) Ngăn họ  không làm điều ác; (b) khuyến khích họ làm điều thiện; (c) thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe; (d) làm cho  thanh tịnh  điều đã được nghe; (e) chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời.

 Này Gia chủ  tử,  các vị Sa-môn, Bà-la-môn, được thiện nam tử đối xử như  phương Trên với năm cách, có lòng thương thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các  sự sợ hãi.

Tiểu kết:

Trên đây là nội dung của các mối quan hệ trong gia đình và xã hội mà Đức Phật đã trình bày một cách chi tiết cho chúng ta. Ở mỗi mối quan hệ Đức Phật đã trình bày những bổn phận và nghĩa vụ  của cả hai bên được thự hiện trên cơ sở hiểu biết và đầy từ tâm. Từ đó cho ta thấy rằng Đức Phật của chúng ta rất “tinh tế” trong cách hành xử. Một mối quan hệ tốt không thể không có sự hợp tác của hai bên và nhất là những mối quan hệ này có sự quan hệ mật thiết với nhau, tác động hỗ tương lẫn nhau. Nếu một trong hai bên của một mối quan hệ nào phá vở những nghĩa vụ và bổn phận của mình thì lập tức mối quan hệ ấy có “trục trặc” xảy ra. Đây là cái nhìn biện chứng của Đức Phật về đời sống cá nhân và xã hội.

 

CHƯƠNG 2 : TÌM HIỂU Ý NGHĨA CỦA CÁC MỐI QUAN HỆ ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG BÀI KINH

2.1. Ý nghĩa của các mối quan hệ  gia đình

2.1.1. Ý nghĩa của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái

Thường thì khi đề cập đến đạo hiếu trong đạo Phật người ta chỉ nói đến việc hiếu thảo của người con, mà không đề cập nhiều đến vai trò đạo đức và giáo dục của các bậc cha mẹ. Đó là một sự thiếu sót rất lớn. Thật ra theo tinh thần của lời Phật dạy trong kinh tạng Pàli và Đại thừa, “đạo hiếu” của người Phật tử được thể hiện đầy đủ về hai mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, và giữa con cái với cha mẹ. Ở đây, người viết sẽ đề cập về hai mối quan hệ thể hiện đạo hiếu đó, được mệnh danh là đạo làm cha mẹ và đạo làm con.

Trong các mối quan hệ con người, có thể nói mối quan hệ cha mẹ và con cái là thiêng liêng nhất. Sự thiêng liêng không chỉ đơn thuần nằm ở mối quan hệ di truyền và huyết thống, mà đó còn là tất cả tình người, tính giáo dục, đạo đức của hai thế hệ, trước và sau, thế hệ sanh và thế hệ được sanh ra. Người con nào phá vỡ mối quan hệ thiêng liêng này đối với cha mẹ, nghĩa là bất hiếu, báo đời, hại cha mẹ, làm mất thanh danh và truyền thống tốt đẹp của gia tộc, làm các việc phạm pháp v.v… thì người con đó không còn là người con đúng nghĩa, mà chỉ là một người tội lỗi và đáng trách. Trái lại, cha mẹ không làm tròn bổn phận của mình, chẳng hạn như không giáo dục con cái trưởng thành về thể chất, thể trí, tự lập trong đời sống chân chánh (chánh mạng) thì hàng cha mẹ đó cũng không xứng đáng là các bậc cha mẹ. Cả hai hạng cha mẹ và con cái như vậy đều được xem là không xứng đáng trong tinh thần giáo pháp của Đức Phật.

Trên tinh thần xây dựng và phát huy một xã hội an bình và hạnh phúc trong chiều hướng thượng, những lời dạy của Đức Phật trong tam tạng kinh điển Nam tông và Bắc tông, đã trực tiếp và gián tiếp ca ngợi về mối quan hệ thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Trong phần này, chúng tôi trình bày mối quan hệ này cụ thể qua kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Singalovada Suttanta) thuộc Trường Bộ Kinh của kinh tạng Pàli. Đây là một bài kinh được xem là tiêu biểu cho đạo hiếu trong truyền thống Phật giáo Nam tông.

Điều cần nói ở đây là trong lời Phật dạy về đạo hiếu, các giá trị giáo dục và đạo đức được thể hiện theo mối quan hệ song phương, đa chiều. Đạo hiếu, do đó, không chỉ dành cho những người con đối với cha mẹ mà quan trọng không kém đó là quan hệ của cha mẹ đối với con cái. Nói khác hơn đó là mối quan hệ của đạo làm cha mẹ và đạo làm con cái.

2.1.1.1     Cha mẹ đối với con cái

Nói đến mối quan hệ cha mẹ đối với con cái là nói đến tinh thần trách nhiệm và bổn phận của các bậc cha mẹ đối với một phần máu thịt mà mình đã sinh ra. Theo lời Phật dạy, cha mẹ sinh con cái không phải để thỏa mãn dục tính mà là thể hiện tình thương yêu đối với một phần máu mủ và sự sống của chính mình. Ở đây, chúng ta thấy đạo Phật đã nhấn mạnh đến đạo đức trong mối quan hệ giới tính của các bậc cha mẹ. Chính do tính chất đạo đức này mà các bậc cha mẹ cảm thấy cần phải có trách nhiệm đạo đức đối với việc nuôi nấng và dạy dỗ cho con cái trưởng thành và có lợi ích cho xã hội. Mối quan hệ của cha mẹ như vậy được xem là nền tảng ban đầu, là cơ sở phát sanh các mối quan hệ đạo đức xã hội về sau.

Kinh “Giáo thọ Thi-ca- la- việt” đã đề cập đến mối quan hệ đạo đức của các bậc cha mẹ đối với con cái qua năm tiêu chí căn bản sau đây:

Các bậc cha mẹ phải có lòng thương tưởng đến con cái theo năm cách: (a) ngăn chặn con cái làm việc ác (b) khuyên dạy con cái làm việc thiện, (c) tạo dựng nghề nghiệp cho con cái, (d) tạo dựng gia thất cho con cái, và (e) truyền trao gia tài cho con cái đúng thời. [20].

                a. Ngăn chặn con làm việc ác

Như đã nói mối quan hệ giới tính của các bậc cha mẹ trong đạo Phật được đặt trên cơ sở đạo đức, do đó, sự sanh sản con cái không nhằm nhu cầu thỏa mãn các khoái lạc giác quan thuần túy. Chính vì thế các bậc cha mẹ xem việc nuôi nấng con cái không chỉ là trách nhiệm mà còn là luân lý đạo đức không thể thiếu được.

Trong trách nhiệm thiêng liêng thứ nhất này, các bậc cha mẹ ngoài việc nuôi nấng con cái về thể chất, còn phải nuôi con cái bằng đạo đức và trí tuệ chân chánh. Đó là sự giáo dục con cái không được làm các điều ác. Khái niệm" điều ác" được chỉ chung cho các hành vi, lời nói và cả tâm tư ý nghĩ có hại cho bản thân chúng, cho cha mẹ chúng và cho các mối quan hệ con người và xã hội khác. Nói khác hơn, theo Đức Phật, giáo dục con trước nhất và hơn hết là giáo dục chúng không làm các điều ác. Bởi lẽ một người dù cho có khỏe mạnh và giàu sang đến đâu nhưng nếu hành vi và cuộc sống của họ không đem lại lợi ích cho người khác mà chỉ đem lại đau khổ cho tha nhân thì chắc chắn rằng đời sống đó là vô nghĩa cho bản thân ngay hiện tại và nguồn tội lỗi và đau khổ cho cả đời này và đời sau. Dạy con thành người là dạy con xa lánh các điều tội ác. Đó là không giết người, không trộm cướp, không lừa gạt, không quan hệ giới tính phi pháp và không nghiện ngập say sưa để thần mê trí mờ.

Ngoài ra, không làm các điều ác còn là sự tuân thủ luật pháp xã hội, tôn trọng thuần phong mỹ tục của quốc gia, duy trì truyền thống tốt đẹp của gia đình. Sự giáo dục con cái như vậy rõ ràng là sự giáo dục của người có trí: không nuông chìu con cái, không để chúng có cơ hội đi vào con đường tội lỗi. Các bậc cha mẹ nuôi con mà không biết dạy con tránh xa tội ác như vậy sẽ trở thành chướng ngại cho đời sống gia đình và xã hội.

b.  Khuyên dạy con làm việc lành

Không có gì tích cực hơn đối với các bậc cha mẹ theo đạo Phật là dạy con cái làm điều thiện, đạo đức. Nói khác hơn, giáo dục con cái từ bỏ điều ác là cơ sở nền tảng để từ đó giáo dục chúng làm điều lợi ích cho xã hội. Nội dung trách nhiệm thứ hai của các bậc cha mẹ trong lời dạy này là khuyến khích con cái vào các hoạt động lợi ích cho cộng đồng, cho nhân quần xã hội. Đây là cách giáo dục vô cùng tích cực cho một xã hội an bình và thạnh trị.

Từ một góc độ khác, việc dạy con từ bỏ các thói hư tật xấu, các hành vi bất chánh và bất thiện mặc dù là tốt nhưng chỉ mới tốt có phân nửa: đó là tốt cho bản thân chúng và gia đình. Đây là giáo dục đạo đức cho bản thân con cái, cơ sở nền tảng cho sự trưởng thành đạo đức của chúng về sau. Giáo dục con quan trọng hơn là giáo dục tính chất vị tha, vô ngã trong từng hành vi lời nói, cử chỉ và việc làm. Đó là lối giáo dục dấn thân để phục vụ cho tha nhân. Cách giáo dục như vậy rõ ràng rất đặc trưng, ít tìm thấy trong bất cứ tôn giáo nào, từ hữu thần cho đến vô thần.

Nói khác hơn, giáo dục đạo đức cho con cái bao giờ cũng bao gồm hai bước, đó là giáo dục đình chỉ ác và giáo dục phát huy thiện. Đình chỉ ác thôi chưa đủ mà còn phải phát triển thiện. Có như vậy thì xã hội không những vắng mặt các tệ nạn và khủng hoảng đạo đức, mà còn trổ hoa kết trái của hạnh phúc và an lạc từ những hành vi đạo đức tích cực của thế hệ những người con, thế hệ nền tảng và tinh hoa của mọi tầng lớp xã hội. Đó là giáo dục con cái theo tinh thần của bậc giác ngộ, để tạo dựng một gia đình và xã hội vắng ác đầy thiện, vắng cái xấu xa tội lỗi, tràn đầy cái chân thiện mỹ.

                c. Tạo dựng nghề nghiệp chân chánh cho con cái

Giáo dục theo tinh thần đạo Phật luôn bắt đầu và đặt nền móng trên giáo dục đạo đức. Các bậc cha mẹ nào không đặt tầm quan trọng của giáo dục đạo đức ắt sẽ gặp phải cảnh người con bất hiếu, ngỗ nghịch và tạo ra cảnh mất đầm ấm hạnh phúc trong gia đình ở hiện tại và về sau, cho dòng tộc và tha nhân. Nói như thế không có nghĩa đạo Phật bỏ rơi sự giáo dục con cái trưởng thành về thể chất.

Tạo dựng nghề nghiệp cho con cái không những bao gồm sự nuôi nấng theo tinh thần khoa học mà còn chăm lo đến nghề nghiệp tương lai của chúng. Điều này có nghĩa là giao cho con cái cả gia tài sự nghiệp sẵn có của mình không bằng truyền thụ cho chúng kiến thức để có được nguồn tài sản đó. Ở đây, giáo dục Phật giáo nhấn mạnh đến giáo dục “nhân” để sinh ra “quả”. Vun bồi nhân là cách tốt nhất để gặt hái quả tốt. Do đó giáo dục trong đạo Phật luôn là giáo dục con đường chứ không ban cho con đường. Đây là lối giáo dục vô cùng sáng suốt vì đã loại bỏ yếu tố tha lực trong các hoạt động và phát triển nhân cách đạo đức và năng lực bản thân.

Kế đến lời dạy này còn nhắm đến tính giáo dục tinh thần tự lực cho con cái, theo quy luật của cuộc sống và theo đạo đức của cuộc đời. Chỉ có tinh thần tự lực, dưới sự hướng đạo của cha mẹ, con cái mới thật trưởng thành trong xã hội.

Một ý nghĩa khác có thể rút ra từ lời dạy trên là để khắc chế nạn lêu lỏng và buông thả của đời sống thanh thiếu niên trong xã hội nhiều cám dỗ, các bậc cha mẹ phải dạy chúng ý thức về một nghề nghiệp ổn định cho bản thân. Sự sống nhờ vả, dù đó là nhờ vào cha mẹ, cũng chỉ là tạm thời và có ý nghĩa rất ít; trong khi sự tự lập bằng mồ hôi, sức lực, trí khôn trong chiều hướng đạo đức và khả năng của bản thân mới là con đường tự tồn tại lâu dài và bền bĩ. Chính sự giáo dục này giúp cho con cái thoát khỏi các cạm bẫy ăn chơi sa đọa của xã hội, góp phần ổn định đời sống tập thể và cộng đồng, nhất là hạn chế nạn thất nghiệp và những việc làm phi pháp.

d. Xây dựng gia thất xứng đáng cho con cái

Trách nhiệm của các bậc cha mẹ không chỉ dừng lại ở giáo dục đạo đức tránh ác làm lành, ổn định nghề nghiệp cho con  mà còn chăm lo đến đời sống lứa đôi cho con cái. Cần nhấn mạnh ở đây rằng xây dựng gia thất cho con cái không có nghĩa là ép buộc con cái phải làm chồng / vợ một người nào đó mà mình thích, thay vì người mà chúng yêu thương. Đạo Phật không khuyến khích một tập tục "bắt đâu ngồi đó" như trong truyền thống Ấn giáo cổ đại, cũng như truyền thống "phụ vi tử cương" của Nho giáo. Đạo Phật đề cao tinh thần bình đẳng trong nhận thức của cha mẹ và con cái. Khi chưa đến tuổi thành niên, con cái tùy thuộc vào sự quyết định đúng đắn của cha mẹ. Khi con cái đã đến tuổi trưởng thành, việc quyết định đời sống hôn nhân của chúng phải tùy thuộc vào sự lựa chọn của chúng. "Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên" là một phương châm rất phù hợp với tinh thần của lời dạy này. Ngoài ra, một ý nghĩa giáo dục khác là nếu cha mẹ có thể dạy và tạo dựng nghề nghiệp chân chánh và ổn định cho con cái thì các bậc cha mẹ cũng có thể cố vấn tình yêu và hôn nhân cho chúng. Lời dạy này mang tính giáo dục rất cao. Cha mẹ không chỉ là người sanh ra con cái mà còn là người thầy, người cố vấn, người hướng đạo đời sống yêu đương và hôn nhân cho con cái. Ở đây, ngoài yếu tố truyền trao kinh nghiệm yêu đương và hôn nhân cho con cái, các bậc cha mẹ còn phải đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn con cái chọn lựa người bạn đời thích hợp. Không có gì thiêng liêng và cao quý cho bằng khi cha mẹ còn đóng vai trò của người thầy và người cố vấn hôn nhân.

Nói rõ hơn, cha mẹ chỉ làm chức năng tư vấn cho con cái biết rõ tiêu chuẩn của một người vợ hay người chồng lý tưởng cũng như, thế nào là trách nhiệm và bổn phận của đôi vợ chồng “loan phụng hoà minh”  v.v… Hoàn toàn không có chuyện ép buộc và sắp đặt của cha mẹ trên vấn đề hôn nhân của con cái. Đây là tinh thần giáo dục rất phù hợp đời sống hôn nhân hiện đại.

Một điểm cần lưu ý nữa là khái niệm "xứng đáng" trong cụm từ "xây dựng gia thất xứng đáng cho con cái." Xứng đáng không có nghĩa là "môn đăng hộ đối" như phong tục Nho giáo. Xứng đáng ở đây mang tính đạo đức và xã hội. Ở góc độ đạo đức, người con khôn ngoan nên biết chọn cho mình người bạn đời có đủ phẩm chất đạo đức ít nhất như mình. Đây là sự tương thích về nhân phẩm giữa hai người. Kế đến, về phương diện xã hội, sự xứng đáng còn mang ý nghĩa chọn người bạn đời có cùng tánh tình, chí hướng và hạnh nguyện. Không có gì đau khổ cho bằng khi vợ chồng lâm vào cảnh "đồng sàng dị mộng" vợ nắng chồng như mưa hay vợ mặt trăng, chồng mặt trời v.v… Để tránh các tình trạng đau lòng có thể dẫn đến sự đổ vỡ mối quan hệ tình yêu và hôn nhân như vậy, con cái rất cần đến sự cố vấn của cha mẹ chúng, những người ít nhất đã một lần trải qua.

Trên tinh thần giáo dục trên, việc dựng vợ gả chồng xứng đáng cho con cái không chỉ tránh được các đổ vỡ do mối quan hệ đơn thuần "môn đăng hộ đối" về vật chất nhưng lại không thích hợp về tánh tình, đạo đức, trí tuệ và hạnh nguyện, mà còn hướng đến một căn bản tương thích của đời sống lứa đôi. Nói cách khác, hạnh phúc hôn nhân không chỉ có được từ sự giàu sang mà phải đặt nền tảng trên sự tương thích về phẩm chất đạo đức, lý tưởng và hạnh nguyện. Trong bất kỳ cuộc hôn nhân nào nếu có sự tương thích về đời sống đạo đức và lý tưởng thì tất nhiên sẽ kéo theo sự hạnh phúc lứa đôi.

Ngoài ra, lối giáo dục cố vấn con cái trong hôn nhân theo tinh thần lời Phật dạy còn có những giá trị đạo đức sau đây:

-  Chận đứng hoặc hạn chế một cách tối đa tình trạng tự tử của những đôi uyên ương do cha mẹ không đồng ý gả họ cho người họ yêu say đắm.

-  Chận đứng tình trạng ly thân, ly dị, đổ vỡ hôn nhân do đôi uyên ương không tương đồng về đạo đức, trí tuệ và lý tưởng.

- Hướng đến một xã hội mà các phần tử của nó có tinh thần tự chủ, độc lập trong nhận thức và hành động nhất là trong việc chọn người bạn đời thích hợp.

                e . Truyền trao gia tài cho con cái đúng thời

Trách nhiệm thứ năm này mang ý nghĩa pháp lý và đạo đức rất cao. Về phương diện pháp lý, việc truyền trao này bao gồm di chúc và tài sản thừa tự cho con cái. Có nhiều bậc cha mẹ đã không nghĩ tới chuyện này khi còn khỏe mạnh. Do đó, một khi nhắm mắt xuôi tay, con cái bất hiếu đã gây cảnh nồi da xáo thịt về quyền thừa tự, tranh giành tài sản do cha mẹ để lại. Chính vì thế, để tránh các tình trạng trên, Đức Phật đã dạy các bậc cha mẹ phải di chúc và trao truyền gia tài khi mình còn sáng suốt và khỏe mạnh. Chỉ có trong tình trạng khỏe mạnh và sáng suốt, người ta mới có thể chọn người xứng đáng vá thích hợp để mà ủy thác.

Về phương diện đạo đức, sự truyền trao gia tài không chỉ có nghĩa đơn thuần là phân chia tài sản cho con cái mà còn có ý nghĩa truyền trao di sản văn hóa của dân tộc, truyền thống gia đình. Gia tài đó hẳn không phải là "một nước Việt buồn" mà phải là một nước Việt thoát khỏi thực trạng khổ đau (khổ đế) hướng đến an lạc và giải thoát trên tinh thần tự chủ vô ngã. Một gia tài như vậy, vàng bạc không thể mua được, đô-la không thể đổi được. Do đó cần phải cẩn trọng chọn lựa người xứng đáng mà truyền trao. Đức ngũ tổ Hoằng Nhẫn đã không truyền trao y bát cho ngài Thần Tú mà trái lại truyền cho ngài Huệ Năng. Đức Phật Thích-ca đã không trao chánh pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm cho ngài A-nan bác học đa văn mà giao cho tổ Ca-diếp đạo cao đức trọng. Sự chọn lựa ở đây bao hàm nội dung đạo đức rất lớn. Chọn lựa sai lầm thì kết quả đau thương sẽ không thể tưởng tượng. Chính vì thế sự chọn lựa đối tượng trao gia tài cần phải cẩn trọng, hợp thời, hợp cơ. Trừ phi đối tượng xứng đáng về đạo đức và trí tuệ được chọn lựa và giao phó, sự truyền trao sẽ trở nên vô nghĩa và nguy hiểm cho cả nhiều thế hệ về nhiều phương diện của cuộc sống.

Ở mức độ đơn thuần hơn, sự truyền trao gia tài hợp thời còn có ý nghĩa giúp cho xã hội tránh được sự truyền thừa không xứng đáng, những tình trạng cha truyền con nối, những truyền thống thế tập "con vua thì được làm vua, con sải ở chùa thì quyét lá đa." Nói chung, nếu tinh thần này được áp dụng ở xã hội thì lo gì xã hội không có đủ người tài đức, đất nước không có được minh quân. Mọi sự phân biệt mang tính cách bè phái, cục bộ "con ông cháu cha" sẽ không còn cơ hội để tồn tại trong một xã hội mà tinh thần giáo dục của Đức Phật được truyền thừa và phát huy triệt để.

Nói tóm lại, mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái là mối quan hệ mang tính đạo đức và giáo dục rất cao. Các bậc cha mẹ không chỉ chăm lo về đời sống vật chất cho con cái mà còn và quan trọng hơn hết là chăm lo và phát triển đời sống đạo đức và trí tuệ của chúng. Về đời sống đạo đức, cha mẹ phải huấn luyện và dạy dỗ con cái các phẩm chất đạo đức, tránh ác làm lành, từ bỏ con đường xấu xa phát huy đời sống chánh mạng và chánh nghiệp. Kế đến cha mẹ còn dạy cho con cái ý thức trách nhiệm cao độ của người con, tinh thần tự lập qua việc ổn định nghề nghiệp trong xã hội. Ngoài ra, cha mẹ còn phải cố vấn cho con cái trong việc lựa chọn một người bạn đời lý tưởng, để đời sống gia thất về sau được bền bỉ và hạnh phúc. Chỉ có những người con như vậy mới xứng đáng tiếp hưởng gia tài được đúc kết bằng mồ hôi và xương máu của cha mẹ, của những thế hệ cha anh đi trước. Thiết nghĩ tinh thần giáo dục cao thượng này nên được các hội bô lão, các hội phụ huynh học sinh nghiên cứu và áp dụng triệt để, để tình thương, sự phát triển và hạnh phúc nở hoa trên sự sống của con người hôm nay và mai sau.

Rất khó cho trẻ con thấu đáo được đức hy sinh của cha và mối tình thâm của mẹ, vì lòng thương lai láng của cha mẹ tựa hồ như nước mưa từ không trung rơi xuống, đem lại hạnh phúc bao nhiêu cho nhơn loại rồi êm đềm lặng lẽ trôi đi không màng đến sự biết ơn của ai. Hình như đây là định luật thiên nhiên trong trời đất! Lòng thương của cha mẹ từ trên nhỏ xuống thì vô bờ bến mà từ dưới chảy lên thì rất hiếm hoi. Thật vậy, người làm cha mẹ không bao giờ trông đợi sự đền ơn trả thảo của trẻ con khờ dại, chưa đủ kinh nghiệm, chưa biết lo nghĩ đến bổn phận làm con, cũng như chưa nhận thức được thế nào gọi là tình thương.

Chưa đến lúc đóng vai trò làm cha mẹ, trẻ con không thể thấu triệt được tình thương của cha mẹ như thế nào.

Truyện tích sau đây về tình thương của cha mẹ đối với con rất đáng làm một bài học quí giá cho đàn hậu tiến:

Hoàng tử A-xà-thế (Ajàtasattu) bị Đềà-bà - đạt-ta (Devadatta) xúi dục, định giết cha là Bình-sa Vương (Bimbisara) để chiếm ngôi. Rủi thay, âm mưu của hoàng tử bị bại lộ, vua cha bắt được quả tang. Quần thần xin hành phạt xứng đáng. Nhưng vua cha quá thương con, không đành xử phạt, lại còn nhường ngôi vàng cho hoàng tử, vì thấy con thèm muốn làm vua.

Đãõ không biết ơn, A-xà-thế lại còn hạ ngục vua cha và ra lịnh bỏ đói cho chết lần chết mòn. Chỉ một mình hoàng thái hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi bà dấu đồ ăn trong túi áo, đem cho chồng. A-xà-thế hay được quở trách mẹ. Sau lại, bà dấu đồ ăn trong đầu tóc. A-xà-thế cũng biết được. Cuối cùng, bà tắm rửa sạch sẽ rồi thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường và sữa. Vua gợt lấy món ăn này trên tay để ăn đở đói. Nhưng A-xà-thế cũng bắt được và cấm hẳn mẹ không cho vào thăm cha nữa.

Lúc ấy vua Bình-sa Vương cam chịu đói, nhưng lòng cũng không oán trách con, cho đó là oan nghiệt tiền khiên, có vay phải có trả, nên thản nhiên cố gắng tham thiền. Thấy cha vẫn vui tươi, A-xà-thế nhứt định giết chết cha cho khuất mắt, nên hạ lịnh cho một người thợ cạo vào khám đường lấy dao bén gọt gót chân, lấy dầu và muối xát vào rồi hơ trên lửa nóng.

Khi người cha bất hạnh thấy thợ cạo đến thì mừng thầm, ngỡ rằng con mình đã ăn năn hối hận, cho người đến cạo râu tóc mình để rước về. Trái với sự mong ước của Ngài, chính anh thợ cạo đến để đem lại cho Ngài cái chết vô cùng thê thảm.

Cùng một ngày ấy vợ của A-xà-thế hạ sanh được một hoàng nam. Tin lành đến cho A-xà-thế cùng một lượt với tin vua Bình-sa Vương chết trong ngục. Được biết chánh hậu hạ sanh hoàng nam, nỗi vui mừng của Vua A-xà-thế không sao tả được. Cả người nghe nhẹ nhàng vui sướng. Tình thương của một người cha lần đầu tiên chớm nở trong lòng, mặn nồng, sâu sắc, thấm vô từng khớp xương ống tủy. Đứa con đầu lòng là một nguồn yêu thương, là một cơ hội để cho cha mẹ thưởng thức một tình thương mới mẻ, đậm đà, vô cùng trong sạch. Cảm giác đầu tiên của người mới được đứa con đầu lòng dường như đưa họ vào một cảnh giới kỳ lạ, khiến họ có cảm tưởng rằng máu huyết của mình đã nhỏ giọt ra để nối tiếp mình.

Vừa lúc ấy A-xà-thế sực nhớ đến cha. Bỗng nhiên ông đứng phắt dậy, kêu lên như điên: "Hãy chạy mau, thả ra lập tức người cha yếu quí của trẩm". Than ôi, người cha yêu quí ấy đã ra người thiên cổ!

Khi hay tin cha chết, Vua hối hận đi tìm mẹ và hỏi:

- Thưa Mẫu hậu, khi con còn nhỏ Phụ Hoàng có thương con không?

- Con ôi! Cho đến giờ này con mới hỏi thì đã muộn rồi. Và tại sao con hỏi lạ vậy? Mẹ tưởng trên thế gian này không tìm đâu ra một người cha lành như cha con. Để mẹ thuật lại cho con nghe. Lúc mẹ còn mang con trong lòng, một ngày nọ mẹ nghe thèm một món kỳ quái. Mẹ thèm mút vài giọt máu trong bàn tay mặt của cha con. Mà mẹ đâu dám nói ra. Rồi càng ngày mẹ càng xanh xao, và sau cùng phải thú nhận với cha con. Khi nghe vậy, cha con vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ nút máu. Lúc ấy các nhà chiêm tinh trong triều tiên tri rằng con sẽ là người thù của cha con. Do đó, tên con là A-xà-thế (Ajàtasattu, kẻ thù chưa sanh). Mẹ có ý định muốn giết con ngay trong lòng, nhưng cha con không cho. Khi sanh con ra, mẹ nhớ tới lời tiên tri nên một lần nữa muốn giết con. Một lần nữa, cha con ngăn cản mẹ. Một hôm, con có một cái nhọt trên đầu ngón tay, đau nhức vô cùng, khóc suốt ngày đêm, không ai dỗ con ngủ được. Cha con, đang cùng bá quan phân xử việc triều đình, nghe vậy cầm lòng không đậu, bế con trong lòng và không ngần ngại ngậm ngón tay con trong miệng nhẹ nhẹ nút cho con đỡ đau. Gớm thay! Cái mụt nhọt bể, máu mủ tuông ra trong miệng cha con. Sợ lấy ngón tay ra con sẽ nghe đau nên cha con nuốt luôn vào bụng cả máu lần mủ!". Vua A-xà-thế xúc động, rơi lụy dầm dề [3].

Nghe qua chuyện tích này, chúng ta cũng có thể tưởng tượng được nỗi buồn thảm và hối hận  như thế nào của vua A-xà-thế.

                2.1.1.2. Con cái đối với cha mẹ

Theo tinh thần duyên khởi của đạo Phật, bất cứ mối quan hệ nào cũng phải có sự đối lưu của ít nhất hai thành phần. Ở đây sự đối lưu là giữa cha mẹ và con cái và ngược lại. Tinh thần giáo dục của Đức Phật không đơn thuần và một chiều, mà đó là sự đối lưu của ít nhất hai trị số con người trong mối quan hệ vừa đạo đức và giáo dục. Nói cách khác, nếu các bậc cha mẹ sanh con cái không vì sự thỏa mãn các khoái lạc giác quan, nhưng thể hiện tinh thần trách nhiệm và giáo dục cao độ cho con cái trưởng thành về thể chất, thể trí và sống vững vàng trong xã hội thì đối lại người con cũng phải có trách nhiệm đạo đức đối với hai đấng sanh thành ra mình, nuôi nấng mình trưởng thành và trở nên hữu dụng cho bản thân và xã hội. Sự hiếu thảo của người con như vậy được trình bày qua năm trách nhiệm đạo đức sau đây:

Có năm trường hợp người con phải phụng dưỡng cha mẹ, đó là, (a) tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ, (b) tôi sẽ làm tròn bổn phận đối với cha mẹ, (c) tôi sẽ giữ gìn danh dự gia đình và truyền thống, (d) tôi sẽ bảo vệ tài sản thừa tự, và (e) tôi sẽ lo chu toàn tang lễ của cha mẹ đúng pháp. [20]

                a. Tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ

Trách nhiệm đạo đức trước tiên của một người con đối với hai đấng sanh thành ra mình theo Đức Phật là nuôi dưỡng cha mẹ. Hay nói cách khác người con phải lấy sự báo đền cha mẹ bằng cách chăm sóc cha mẹ về đời sống vật chất, cũng như chính cha mẹ đã lo cho chúng ta trưởng thành, trong suốt 18 năm vị thành niên. Cần lưu ý ở đây rằng mệnh đề "tôi sẽ" biểu thị một ý thức trách nhiệm cao độ, chứ không đơn thuần là một lời hứa cụi. Như chúng ta đã biết Đức Phật định nghĩa nghiệp là những hành vi có ý thức và ý thức là chất xúc tác và dẫn đạo các hành vi của lời nói và việc làm. Do đó, chỉ có với một ý thức sâu sắc về bổn phận làm con "tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ" mới có thể giúp người con duy trì tốt truyền thống hiếu thảo đối với cha mẹ được.

Sự chăm lo đến đời sống vật chất của cha mẹ ở đây cho thấy đạo Phật rất thực tiễn. Người con hiếu thảo không chỉ biết vâng lời cha mẹ, làm việc tốt cho gia đình và xã hội mà trước tiên và hơn hết là lo phần đời sống vật chất cho cha mẹ mình. Chăm lo đời sống vật chất bao gồm việc dâng tặng cho cha mẹ tiền chi tiêu, quà quý, thuốc thang, sự thăm viếng và phụng dưỡng khi cha mẹ đau ốm hay không còn sức lao động.

Lời dạy này ngoài việc khích lệ con cái hiếu kính đối với cha mẹ còn nhắm vào việc xóa bỏ các quan niệm sai lầm cho rằng cha mẹ sinh con là để thoả mãn dục vọng cho nên con cái không cần phải có trách nhiệm lo lắng trở lại. Nếu lời dạy cao qúy này được áp dụng chắc chắn rằng xã hội sẽ không còn tình trạng các cha mẹ già phải tủi phận vào sống các nhà dưỡng lão, chỉ vì các người con bất hiếu. Kế đến, lời dạy còn có ý nghĩa cao quý khác, đó là, sẽ không còn cảnh những đứa con ngỗ nghịch "báo đời" cha mẹ dưới nhiều hình thức và về nhiều phương diện.

                b. Làm tròn bổn phận đối với cha mẹ

Ý thức trách nhiệm làm tròn bổn phận của một người con là điều quan trọng thứ hai trong đạo hiếu thảo của người Phật tử. Lời dạy này mặc dù rất bao quát nhưng có ý nghĩa đạo đức rất lớn. Khái niệm bổn phận ở đây cần phải được hiểu là sự thực thi những điều trách nhiệm của người con đối với cha mẹ tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cho phép. Nghĩa là công việc hiếu thảo không bao giờ là một sự bắt buộc mà trái là một ý thức cao độ, ý thức làm người có đạo lý.

Có nhiều trường hợp người con vì thương cha kính mẹ mà làm nhiều điều tội ác để chu cấp tài sản cho cha mẹ. Đạo Phật chống lại sự hiếu thảo phi pháp như vậy. Nói cách khác làm trọn bổn phận tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cho phép là một trong những cách thể hiện chữ hiếu hợp lý nhất. Ví dụ khi còn ngồi d