DUY THỨC HỌC
Tuệ Quang
Huyền-Cơ Phật-Học-Viện
---o0o---
PHẦN THỨ CHÍN
THỨC THỨ TÁM
ĐOẠN I
TƯỚNG NĂNG-BIẾN THỨ NHẤT
Hỏi :
« Đầu đã lược nói ba tên năng-biến mà chưa nói
nhiều. Tướng năng-biến đầu thế nào ? »
Đáp
:
(bài tụng).
1) « Tướng đầu tiên là a-lợi-da
thức, dị-thục thức nhất-thế-chúng. »
2) « Không thể biết về sự chấp
thụ, sở duyên cảnh, và liễu-biệt.
»
3) « Thường với năm thứ biến-hành :
xúc, tác ý thụ, tưởng và tư. »
Và chỉ tương-ưng với « xả thụ ».
4) « Thuộc về vô phú, vô-ký. »
« Xúc » v.v… cũng như vậy.
5) « Nó hằng chuyển như nước chảy mạnh.
»
6) « Đến vị A-la-hán mới xả ».
*
* *
Bình-Luận
Đây là lời giải-thích tổng-quát về thức
A-lại-da.
Các đoạn sau sẽ giải-thích nhiều về cặn-kẽ từng
dặc-tính của thức thứ tám.
Tác-giả kết-tính lời giải-thích tổng-quát trên
đây thành bài tụng, để người học tụng đi tụng lại, thành
thuộc lòng.
*
* *
Đoạn II
A-LẠI DA THỨC
« Thức năng-biến đầu, về đại-thừa và tiểu-thừa
giáo, gọi tên là « A-lại-da ». Vi thức này có đủ ba
nghĩa : « năng-tàng1, sở tàng, chấp tàng ».
Nghĩa là : nói với các pháp tạp-nhiễm khác
đắp-đổi làm duyên.
Chúng hữu-tình chấp làm nội-ngã
của mình.
Đó là chỉ tỏ thức năng-biến đầu có
tự-tướng2, vì bởi nhiếp giữ nhân-quả làm
tự-tướng.
Thức này tự-tướng phận-vị dù nhiều, vì
tạng-thức3 quá nặng, nên nói riêng.
*
* *
BÌNH-LUẬN
1) Cất để.
2) Tự-tướng : hình tướng sẵn có của nó.
3) Chứa đựng.
*
* *
Thức thứ tám có nhiều tên.
Một tên là « A-lại-da ». Đó là tiếng Phạn. Tàu dịch là «
tàng » tức là chứa đựng.
Đó là nắm vào đặc-tính : « chứa-đựng »,
của thức này.
Chữ « tàng » có ba nghĩa:
1) năng-tàng : Có khả năng chứa đựng. Thức này
chứa-đựng các hạt giống các pháp.
2) sở-tàng : Chỗ để chứa. Thức này là chỗ để chứa
đựng các hạt giống các pháp.
3) Ngã ái chấp-tàng : Chấp ngã. Thức này thường bị
thức bảu ái-luyến chấp làm ngã. Thức thứ bảy như người giữ
kho, giữ-gìn chăng cho lúa mất. Chúng-sinh chấp thức thứ tám
làm mình (ta).
*
* *
DỊ-THỤC THỨC
Thức này có thể dẫn sinh các cõi, tùy theo
nghiệp thiện hay bất thiện.
Sinh ra thân chúng sing đời này, là do nghiệp
đời trước, nên gọi là dị-thục quả (báo thân).
Đó là chỉ rõ thức năng-biến đầu có QUẢ-TƯỚNG.
Thức này quả-tướng dù nhiều vị, nhiều chủng về
dị-thục rộng không nhiếp chung, cho nên phải nói
riêng.
BÌNH-LUẬN
Thức thứ tám lại có tên là : « dị-thục-thức
».
Đó là nhắm vào đặc-tính : dẫn dắt chúng-sinh
sinh thân khác.
Thức này khi ở thân đời trước, chúng-sinh tạo ra
các nghiệp lành, dữ, đến khi thân đời trước chết rồi, thì nó
đi đầu thai thụ thân đời này.
QUẢ-TƯỚNG : tướng quả-báo của thức này, vì
chủ-động đi lĩnh-thọ thân quả-báo.
Thức này bao quát cả chúng sinh, từ pàhm-phu,
nhị thừa, đến các hàng Bồ-tát, đều có tên dị-thục thức. Đây
chỉ nói hẹp về quả-báo.
*
* *
ĐOẠN IV
NHẤT-THẾ-CHỦNG
Thức này có thể chấp-trì các chủng tử của các
pháp, khiến không mất.
Gọi là : « nhất-thế-chủng ».
Rời cái ấy ra, các pháp khác không thể khắp
giữ-gìn các chủng-tử các pháp.
Đó là chỉ rõ thức năng-biến đầu có NHÂN-TƯỚNG.
Thức này nhân-tướng dù có nhiều thứ, về
tri-chủng chẳng chung với thứ khác, cho nên nói riêng.
BÌNH-LUẬN
Thức thứ tám lại có tên là : « nhất-thế-chủng
». Đó là nhắm vào đặc-tính : giữ-gìn các hạt giống của các
pháp, luôn luôn không mất.
Nhân-tướng : tướng về nhân. Vì thức này
chứa nhóm các hạt giống sinh ra các pháp.
Tóm lại :
Thức thứ tám tuy có nhiều tướng, đâu chỉ nói qua
ba tướng :
1) Tự-tướng : A-lại-da.
2) Quả tướng : Dị-thục.
3) Nhân-tướng : Nhất-thế-chủng.
ĐOẠN V
CHỦNG TỬ
-
Thế nào là chúng-tử là những hạt-giống trong
bản-thức, chính chúng sinh ra những quả, như thiện sinh
thiện, ác sinh ác.
*
* *
SẴN CÓ
Các chủng-tử đều bản tính có1,
không phải vì huân – tập mới có. Huân-tập chỉ làm cho
phát-triển chúng.
Chứng-cớ là trong kinh nói :
- « Tất cả chúng hữu-tình từ vô-thủy tới nay có
các nhận Ví dụ như chùm quả ác-xoa… »
GIẢI-THÍCH
1) Sẵn có. Tự nhiên vẫn có. Có hữu-tình là có
chúng-tử, có các nhân (hạt giống sẵn có) thiện ác.
DO HUÂN-TẬP MÀ CÓ
Chủng-tử đều bởi huân-tập sinh.
Cái sở-huân và năng-huân đều có từ vô thủy. Cho
nên các chủng-tử đều vô-thủy thành-lập. Chủng tử cũng là
tập-khí1 khác tên gọi.
Tập-khí quyết do huân-tập mà có, ví dụ như trà
có mùi thơm2, bởi vì hoa ướp mà sinh.
Như thế kinh nói :
- « Các loài hữu-tình tâm bởi các pháp nhiễm,
tịnh3 huân-tập, nên bị vô-lượng chủng-tử
chứa-nhóm ».
Trong luận có nói : nội-chủng quyết-định có
huân-tập. Ngoại-chủng4 hoặc có, hoặc không
huân-tập.
*
* *
BÌNH-LUẬN
1) Chủng-tử, công-năng, tập-khí : cũng một
nghĩa.
2) Mùi thơm : năng, Trà : sở.
3) Nhiễm : ảnh-hưởng xấu ở thế-gian. Tịnh : ảnh
hưởng tốt của giải-thoát như tu thập-độ, vạn-hạnh v.v…
4) Sự-vật.
*
* *
Trên kia, đã chủng-tử sẵn có từ vô-thủy.
Đây, nói huân-tập cũng có từ vô-thủy.
Từ vô-số vô-số kiếp, chúng-sinh đã có.
Có chúng-sinh là có chủng-tử.
Có chúng-sinh là có huân-tập.
Chủng-tử nhờ huân-tập mà phát-triển.
*
* *
BẢN-HỮU VÀ THỦY-KHỞI
Chủng t-tử có hai loại.
1) BẢN-HỮU (sẵn có) :
Từ vô-thủy đến nay, trong dị-thục thức vẫn có
công-năng sai-khác, sinh uẩn, xứ và giới.
Đức Thế-Tôn nương đó nói rằng các loài hữu-tình
từ vô thủy nhẫn lại có các nhân (giới), ví-dụ như chùm quả
ác-xoa, pháp vẫn có. Đó là bản-tính trụ-chủng1.
2) THỦY-KHỞI
Từ vô-thủy đến nay, hằng hằng hiện-hành huân-tập
mà có2. Đức Thế-Tôn nương đó nói : các pháp
huân-tập tâm nhiễm-tịnh của chúng hữu-tình, nên họ bị
vô-lượng chủng-tử chứa-nhóm.
Các luận cũng nói : « Các chủng-tử nhiễm và tịnh
sinh ra bởi các pháp nhiễm và tịnh huân-tập. Đó là
tập-sở-thành-chủng »
*
* *
BÌNH-LUẬN
1) Chủng-tử sẵn có trong bản-tính.
2) Hằng ngày, luôn luôn luyện-tập, trau dồi,
phát-triển.
Ta thấy có hai loại chủng-tử :
1) Sẵn có.
2) Nhờ trau dồi, ngày càng phát-triển.
*
* *
Chủng-tử khởi hiện-hành, hiện-hành
gây chủng-tử, hai thứ nương nhau.
Tức A-lại-da và bảy thức trên đắp-đổi sinh nhau,
đắp-đổi làm nhân-quả, làm nhân-duyên. Ví dụ ngọn lửa cháy
bấc, ngọc lửa hút dầu ở bấc, nhờ bấc, lửa mới đuọc nuôi,
cháy tiếp-tục.
*
* *
Bởi vậy nên tin rằng có loài hữu-tình từ vô-thủy
đến nay, có vô-lậu chủng-tử, chẳng do huân-tập, vẫn
thành-tựu1.
Về sau điz.-vị thắng-tán2, huân-tập
khiến cho tăng-trưởng, pháp vô-lậu khởi lên, lấy đó làm nhân3.
Đến khi vô-lậu khởi lên, trở lại huyên-tập thành
chúng-tử.
Về hữu-lậu pháp, chủng-tử cũng suy theo loại ấy
mà biết.
BÌNH-LUẬN
1) Sẵn có hạt giống.
2) Càng lớn lên mãi.
3) Hạt giống giới, định, tuệ được huân-tập càng
ngày càng lớn.
*
* *
Ta lấy một ví-dụ để dễ hiểu.
Ví-dụ có người có nhiều khả-năng về vẽ. Nếu
người đó bị cuộc đời xô đẩy, bị thất học, phải làm phụ-phen,
làm việt khở sở để nuôi gia-dình. Người đó sống mai một,
thiên-tài vẽ không được phát-triễn.

Trái lại, nếu người đó gặp may mắn, đuọc đi học,
được cha mẹ giàu có, sáng suốt, thấy con có tài về vẽ, liền
cho con học tại trường mỹ-thuật. Gặp thầy giỏi chỉ dạy,
khuyến-khích, người đó hăng say vẽ, quên cả ăn, ngủ. Tài
phát-triển nhanh chóng, càng vẽ càng ham, càng ham, càng vẽ
giỏi. Cả ngày chỉ ở trong phòng vẽ, các trang trên la-liệt.
Mở miệng, chỉ nói về họa.
Người đó triển lãm trang, được nổi tiếng, tranh
bán được nhiều tiền. Nhiều người ca tụng, khuyến-khích.
Người đó lại càng hăng say, mê-man về họa.
Thế là chủng-tử nhờ huân-tập, đã hiện-hành, và
hiện-hành và huân-tập phát-triển hạt giống thiện-tài về họa.
Huân có nghĩa rộng là hoàn-cảnh. Không-khí họa như
phòng vẽ, nhà ở, thầy và bạn đã giúp tài về họa phát-triển.
Tập là vẽ mãi, vẽ mãi, tài vẽ ngày càng
lên cao, đến tuyệt-đích.
Đây là một hình-ảnh thô-sơ để ta hiểu về
chủng-tử, huân-tập và hiện-hành.
ĐOẠN II
SÁU ĐIỀU-KIỆN CỦA CHỦNG TỬ
Chủng-tử có 6 điều-kiện :
1) Sát-na-diệt.
Mới sinh, liền diệt, có cái công-lực hơn1,
mới thành chủng-tử.
Đó là ngăn « thường pháp », bởi vì thường không
chuyển-biến, thì không thể nói có cái dụng năng-sinh.
BÌNH-LUẬN
1) Sức thắng công : sức công-năng thủ-thắng.
Ví-dụ : Chè ướp hoa. Hương-thơm ở hoa sang chè. Hương mất đi
ở hoa, thêm vào ở chè. Tức là diệt ở hoa, sinh ở chè. Có
thay đổi, có không thường mới biến chuyển.
*
* *
Đặc-tính thứ nhất
của chủng-tử là :
Sinh-diệt, sinh diệt nối nhau luôn-luôn.
Như thế là biến-chuyển.
Có như thế thì hương thơm ở hoa mới sang chè
được.
*
* *
2) Quả cu-hữu1
Với cái pháp bị sinh, hiện hành là quả, đồng
thời2 đều hiện, hòa-hợp. Thế mới thành chủng-tử.
Đó là ngăn : trước sau quyết-định dời nhau. Hiện
và chủng3. Khác loại đắp đổi chẳng trái nhau. Một
thân đồng thời có cái dụng năng sinh4, chẳng phải
như chủng-tử tự loại sinh nhau, trước sau trái nhau, quyết
chẳng chung có.
Dù nhân với quả chung có hay chẳng chung có mà
thời hiện tại có thể có cái nhân dụng5, chưa sinh6,
đã diệt7, không tự-thể vậy.
Nương noi sinh hiện quả8, đặt cái tên
chủng-tử.
Chẳng nương noi dẫn sinh9 tự loại.
Cho nên chỉ nên nói : vói quả cụ hữu10.
BÌNH-LUẬN
1) Quả nới chủng-tử chung-nhau cô.
2) Đồng thời chứ không khác thời (trước,
sau), và ngăn : quyết-định dời nhau. Phải ho-hợp.
3) Hiện-hành và chủng-tử huân thành, tuy khác
loại.
4) Ngay trong đời này, gây giống trong thức thứ
tám ngay.
5) Có nhân là có ngay quả.
6) Chưa có.
7) Đã mất.
8) Quả hiện-tại.
9) Xa xôi sau này.
10) Đồng thời chung có : Chủng-tử và quả.
Ví-dụ : Chụp-ảnh, vừa bấm nút, nắp liền mở ra, ảnh in ngây
vào kính.
*
* *
Đặc tính thứ hai của chủng-tử là :
Nhân và quả đồng thời có.
Có nhân là có ngay quả.
Nhân quả đồng thời.
Hiện-tại nhân quả.
Sinh-diệt, sinh-diệt nối luôn.
3) HẰNG TÙY-CHUYỂN1
Phải trường thời một loại nối luôn2
đến vị cứu-kính, mới thành chủng-tử.
Đó là ngăn : chuyển thức, vì bởi xoay-đổi,
gián-đoạn, chẳng thuận-ứng với pháp chủng-tử, Đó chỉ rõ
tự-loại sinh nhau.
*
* *
GIẢI
1) Theo nhau luôn-luôn, xoay phía này,
bên nào, hồi nào cũng có nó.
2) Luôn-luôn tiếp-tục, không
mất, cho đến quả hoàn-toàn. Nếu mới huân thì chưa
trưởng-thành. Ví-dụ : Trứng gà lớn từ mầm đến thành quả
trứng hoàn-toàn.
*
* *
4. Tính quyết-định
Theo cái nhân lực sinh thiện, ác1 v..v..
công-năng quyết- định, mới thành chủng-tử.
Đó là ngăn các bộ, chấp rằng: dị-tính nhân sinh dị-tính quả,
có nghĩa nhân-duyên.
GIẢI:
1) Nhân huân-tập: thiện sinh thiện, ác sinh ác, quyết-định
như-thế: lúa sinh lúa v..v..
*
* *
5. Đãi chúng duyên:
Chủng-tử phải chờ các duyên của nó hợp lại, công-năng
thù-thẳng1, mới thánh chủng tử.
GIẢI:
1) Đầy-đủ hơn hết.
*
* *
6. Dẫn-tự-quả:
Đối với các chủng-tử như sắc, tâm v..v.. mỗi cái đều dẫn
sinh quả riêng1 của nó, mới thành chủng-tử.
Đó là ngăn ngoại-đạo chấp: “ chỉ một nhân sinh tất cả quả”
Hoặc là ngăn các bộ khác chấp: Sắt, tâm v..v.. đắp đổi làm
nhân-duyên.
GIẢI:
1) Nhân nào quả ấy, sắc sinh sắc, thiện sinh thiện.
*
* *
Trong bản-thức các công-năng khác nhau, đủ 6 nghĩa ấy, mới
thành chủng-tử.
Thế lực của chủng-tử sinh ra chính quả gần gọi là sinh-nhân1.
Dẫn cái quả thừa, xa, khiến chẳng liền mất, gọi là dẫn nhẫn2.
1. Người sinh người
2. Chết, không mất ngay. Ví dụ: đèn tắt lửa, còn tàn vẫn
sáng vài giây. Cây lúa, ăn gạo rồi, còn rạ, rơm.
*
* *
Nội-chủng1 quyết do huân-tập sinh và trưởng, nó
có thể sinh ra quả. Đó là nhân-duyên-tính. Ngoại-chủng2
huân-tập, hoặc có hoặc không, là tăng-thượng-duyên3.
Làm thành cái quả sở sinh, quyết lấy nội-chủng làm
nhân-duyên cho nó. Bởi vì các chủng-tử cộng tướng4
(tướng chung) sinh ra quả.
*
* *
GIẢI
1. Hạt-giống trong thức, trong tâm chúng-sinh.
2. Vật bên ngoài: núi, sông, đát, nước.
3. Các duyên vun-sới cho lớn hơn nhiều. Ví dụ: hạt lúa
sinh cây lúa. Nếu bón nhiều phân, cây lúa sẽ tốt, sinh
nhiều hạt lớn. Phân bón là duyên tăng thượng.
4. Nghiệm đồng chung huân-tập, chung nhau có.
Bao chủng-tử góp chung một tướng, một dụng.
Ví dụ: Phần nhiều Đông-Nam-Á ăn lúa. Âu-Mỹ phần nhiều ăn
mì.
Có hạt giống bồ-đề: phải có thầy, sách, chùa làm
tăng-thượng-duyên, mới đến quả tu hành.
*
* *
BÌNH LUẬN
Tóm lại,
chủng-tử phải có đủ sáu điều-kiện:
1.
Sinh-diệt, sinh-diệt luôn luôn. Có thế mới có thể thay đổi, mới có thể
huân-tập.
2. Nhân-quả
phải có đồngthời nhân-sinh quả, sinh rồi diệt, trước khi diệt, đã sinh quả
khác. Sinh-diệt nối nhau.
3. Luôn luôn
nối nhau, không mất. Luôn luôn tiếp tục, cho đến đích.
4.
Quyết-định nhân nào quả ấy. Thiện-sinh-thiện, ác sinh ác.
5. Phải chờ
các duyên họp đầy đủ.
6. Nhân nào
sinh riêng quả ấy.
*
* *
ĐOẠN VII
HUÂN-TẬP
Hỏi: Nương
những nghĩa gì mà lập cái tên là huân-tập?
Đáp: Sở-huân1
và năng-huân2 đều đủ 4 nghĩa khiến cho chủng-tử sinh và
phát-triển, nên gọi là huân-tập.
*
* *
A. Sở-huân:
Thế nào là 4
nghĩa của sở-huân:
-
Kiên-trụ-tính:
Nếu pháp3 thủy-chung một loại nối luôn, có thể giữ
gìn tập-khí, mới là sở-huân.
Đó là ngăn các chuyển-thức với tiếng, gió v..v.. tính chẳng phải kiên-trụ,
cho nên chẳng phải là sở-huân.
-
Vô-ký tính4:
Nếu pháp bình-đẳng, không bị trái ngược5, có thể dung-chứa
tập-khí, mới là sở-huân.
Đó là ngăn thiện nhiễm thế-lực cường-thịnh, không chỗ dung-nạp, cho nên
chẳng phải là sở-huân.
Bởi vậy Phật về đệ-bát-thức, chỉ còn mang cái cựu chủng, chẳng phải mới bị
huân6.
-
Khả-huân-tính7:
Nếu pháp tự-tại, tính chẳng phải kiên-mật8, có thể lĩnh-thụ
tập-khí, mới là sở-huân.
Đó là ngăn tâm-sở và vô-vi pháp9.
Nương nơi kia10 và kiên-mật, cho nên chẳng phải sở-huân.
1
Thức thứ 8.
2
Bảy chuyển thức.
3
Giữ hết cái gì mình huân tập. Chúng ở lâu, ở mãi, chắc chắn ở mãi.
4
Bình thường, không thiên-ác, không có
tính-cách về phía nào.
5
Cái gì vào cũng nhận lĩnh hết, không chống trái.
6
Cựu chủng-tử thường-tịnh, chưa hề bị huân.
7
Có thể huân-tập.
8
Chắc chắn, kín đáo. Nếu không thế (kiên mật) mới lĩnh-thụ chịu huân-tập.
9
Vô-vi kiên-cố không sinh-diệt.
10
Tâm sở nương tâm vương.
-
Chung-hoà-hợp tính:
Nếu với năng-huân đồng thời đồng chỗ, không tức không ly1, mới
là sở-huân.
Ấy là ngăn thân khác, sát na trước, sau, không cái nghĩa hoà-hợp, cho nên
chẳng phải sở-huân.
KẾT LUẬN:
Duy
dị-thục-thức đủ 4 nghĩa ấy, mới là sở-huân.
BÌNH LUẬN.
Huân-tập
nghĩa là ảnh-hưởng tới.
Sở-huân là
cái bị huân, bị ảnh hưởng, tức là dị-thục-thức.
Năng-huân là
cái ảnh-hưởng, cái huân-tập, tức là bảy thức trước.
Sở-huân và
năng-huân phải có đủ bốn điều-kiện, khiến chủng-tử được nảy-nở và
phát-triển, mới có tên là huân-tập.
*
* *
Đây là bốn
điều kiện của sở-huân:
-
Tính kiên-trụ: Giữ-gìn
chủng-tử, giữ chắc cái gì huân-tập tới, không để xót, mất.
-
Tính vô-ký: Trung-lập, nhận
tất cả các ảnh-hưởng thiện, ác, không từ bỏ thứ nào.
-
Tính khả-huân: Có thể chịu
huân-tập, lĩnh thụ tập-khí.
-
Tính chung hoà-hợp: Với
năng-huân hoà-hợp, cũng thời, chùng chỗ, không tức, không ly.
Dị-thục-thức
đủ 4 điều kiện trên, nên là sở-huân.
1
Ví như ngòi bút viết : bút không phải chữ,
mà không lìa chữ, đồng một thời, một chỗ (trên giấy).
B. Năng-huân
Năng-huân có
4 nghĩa:
-
Có sinh diệt:
Nếu pháp chẳng phải thường, có thể có tác-dụng: sinh-trưởng tập-khí1,
mới là năng-huân.
Đó là ngăn vô-vi2, trước sau chẳng biến, không tác-dụng
sinh-trưởng cho nên chẳng phải là năng-huân
-
Có thắng dụng:
Nếu có sinh-diệt, thế-lực tăng-thịnh, có thể dẫn tập-khí, mới là
năng-huân.
Đó là ngăn dị-thục-tâm, thế-lực yếu kém, nên chẳng phải năng-huân.
-
Có tăng giảm:
Nếu có thứng dụng có thể tăng, giảm, nhiếp lấy tập-khí, mới là năng-huân.
Đó là ngăn Phật-quả viên-mãn thiện-pháp không tăng không giảm, nên chẳng
phải năng-huân.
Nếu là năng-huân, thì chẳng phải là viên-mãn, trước sau Phật-quả có lẽ có
hơn và thua.
-
Với sở-huân hoà-hợp mà
chuyển.
Nếu với sở-huân đồng-thời, đồng chỗ, chẳng tức chẳng ly, mới là năng-huân.
Đó là ngăn thân khác, sát-na trước, sau3, không hoà-hợp, cho
nên chẳng phải năng-huân.
KẾT-LUẬN:
Bảy
chuyển-thức và các tâm-sở có thắng-dụng, tăng-giảm … Đủ 4 nghĩa ấy, mới là
năng-huân.
1
Sinh tập-khí, trưởng tập-khí : 7 thức có
sinh-diệt, tác-dụng, sinh-trưởng.
2
Bồ-đề niết-bàn.
3
Đã hay sẽ, khác thời
BÌNH LUẬN
Đây là 4
điều-kiện của năng-huân:
-
Có sinh-diệt.
-
Có thắng-dụng, có thế-lực, có
ảnh-hưởng được sở-huân.
-
Có tăng-giảm.
-
Hoà-hợp mà chuyển với sở-huân
Bảy
chuyển-thức có đủ 4 điều-kiện trên, nên là năng-huân.
*
* *
KẾT-LUẬN:
Như vậy các
thức năng-huân và sở-huân chung sinh, chung diệt. Nghĩa huân-tập thành.
Khiến cho trong cái sở-huân, chủng-tử sinh và trưởng như ướp trà thơm, nên
gọi là huân-tập.
Các thức
năng-huân từ lúc chủng tử sinh, thì có thể làm nhân, rồi lại huân-thành
chủng, ba pháp1 lần lữa, nhân-quả đồng-thời. như bấc sinh lửa
cháy sáng. lửa sang cháy bấc. Cũng như bó lau đắp-đổi nương-nhau, nhân
quả đồng thời.
Năng-huân
sinh chủng, chủng khởi hiện hành, như cu-hữu nhân2, dược sĩ
dụng quả3. Chủng-tử trước và sau tự-loại sinh nhau, như
đồng-loại-nhân dẫn đẳng lưu-quả.
Hai cái ấy
đối với quả là nhân-duyên tính.
Trừ ấy xa,
các pháp khác đều chẳng phải nhân-duyên.
Dù nói là
nhân-duyên, nên biết là giả thuyết.
Đó là lược
nói tướng nhất thế chủng.
1
Năng và sở, sở và năng. Chủng-tử thành
hiện-hành, hiện-hành nuôi chủng tử.
2
Đồng-thời chung có quả.
3
Dùng ngây bây giờ.
ĐOẠN VIII
SỞ-DUYÊN: CẢNH
Hỏi: Thức
hành-tướng, sở-duyên1 thế nào?
Đáp: KHÔNG
THỂ BIẾT chấp-thụ, xứ-sở và liễu biệt2.
-
Liễu-biệt: tức là
hành-tướng. Vì thứ lấy liễu-biệt là hành-tướng.
-
Xứ-sở: Tức là khí thế-giới,
cái thế-giới, vật-chất mà các loài hữu-tình nương ở.
-
Chấp-thụ có hai-thứ: chủng-tử
và có căn-thân.
-
Các chủng-tử là: Tướng,
danh, phân-biệt, tập-khí.
-
Có căn-thân là: các sắc căn
và chỗ căn-nương3.
Hai thứ đó
đều là cái bị thức chấp-thụ4, nhiếp làm tự thể, đồng an và nguy5.
Chấp-thụ và
xứ-sở đều là cảnh sở-duyên.
Sức
nhân-duyên của A-lại-da-thức:
Trong lúc
tự-thể sinh, bề trong biến làm chủng-tử, với có căn-thân.
Bề ngoài biến
làm sự-vật.
Bèn lấy các
cái bị biến làm chỗ sở-duyên của mình. Hành-tướng nương nơi đó mà được
khởi.
BÌNH LUẬN
Thức-duyên
với những cái gì?
- Sự
hoạt-động, tức là hành-tướng của thức quá nhỏ-nhiêm. Chúng ta không thể
biết.
- Khi
đã tu-chứng vào sơ-địa Bồ-tát, mới biết được.
Thức-duyên
với cảnh, căn-thân và chủng-tử.
Thức bám chấp
lấy thân và các chủng-tử.
1
Tám thức duyên những cái gì ?
2
Sơ-địa bồ-tát trở xuống không thể biết được.
3
Trịnh căn và khối thịt. Như nhãn căn có con mắt thịt và tịnh nhãn căn.
4
Cho là của mình : quý từ cái tóc, cái răng v.v…
5
Cùng vui, buồn.
Hai phần: KIẾN-PHẦN và TƯỚNG-PHẦN.
Kiến-phần:
Dị-thục-thức đối với cảnh sở duyên của mình, có cái tác-dụng liễu-biệt.
Nó nhiếp về kiến-phần.
Tướng-phần:
Trong lúc tự-thể hữu-lậu của
thức-sinh, đều in tuồng có tướng sở-duyên và năng-duyên hiện ra.
Tướng-phần là sở-duyên, tức là cảnh.
Kiến-phần là
năng-duyên.
Ba phần:
Có nhà duy-thức học lại thêm 1 phần nữa là tự-chứng-phần.
Phần này là tự-thể để hai phần tướng và kiến nương vào.
Bốn phần:
Có nhà lại
thêm 1 phần là: chứng-tự-chứng-phần.
Đó là chỗ
nương của tự-chứng-phần.
Vậy có 4
phần:
-
Tướng-phần.
-
Kiến-phần.
-
Tự-chứng-phần.
-
Chứng-tự-chứng-phần.
Hai phần
trước thuộc về bề ngoài.
Hai phần sau
là bề trong.
Phần đầu chỉ
là sở-duyên.
Ba phần sau
thông cả năng-duyên và sở-duyên.
Phần thứ hai
chỉ duyên thứ nhất, lượng hay phi-lượng, và hoặc hiện, hoặc tỷ.
Phần thứ ba
có thể duyên phần thứ 2 và thứ 4.
Chứng-tự-chứng-phần chỉ duyên phần thứ 3, chẳng phải phần thứ 2.
Phần thứ 3,
phần thứ 4 đều nhiếp về hiện-lượng.
Cho nên tâm,
tâm sở 4 phần hợp thành, đủ năng-duyên và sở-duyên, chẳng phải tức, chẳng
phải ly.
*
* *
NÓI MỘT PHẦN:
Bốn phần có
thể nhiếp làm ba, bởi vì phần thứ 4 nhiếp vào tự-chứng phần.
Hoặc nhiếp
làm 2, bởi vì 3 phần sau đều là năng-duyên, đều nhiếp về kiến-phần. Đây
nói kiến-phần, đó là cái nghĩa năng-duyên.
Hoặc nhiếp
làm 1 phần, bởi vì thể không khác.
Như trong
kinh Lăng-già, bài kệ nói:
-
“Bởi tự-tâm chấp-trước, tâm in-tuồng ngoại-cảnh duyên. Cảnh sở-kiến kia
chẳng phải có, cho nên nói là duy-tâm”.
Có thể chia
làm 2, làm 3, làm 4.
Nếu nói lý,
có thể nhiếp làm 1. Đó là cái tâm bao-trùm mọi sự-vật.
*
* *
ĐOẠN IX
TÂM-SỞ
Hỏi: Cái
thức ấy1 với mấy thứ tâm-sở2 tương-ưng3
nhau?
Đáp: Nó
thường với “xúc, tác-ý, thụ, tưởng và tư” tương-ưng.
Thức A-lại-da
từ vô-thuỷ đến nay, cho đến lúc chưa chuyển4, đối với tất cả
vị, hằng với năm thứ tâm-sở ấy thuận-ứng nhau, bởi vì nhiếp 5 thứ
biến-hành5 tâm-sở.
-
XÚC: tiếp-xúc. Tâm và tâm-sở
tiếp-xúc cảnh. Căn, cánh và thức thuận-ứng theo nhau. Xúc nương theo
đó mà sinh, khiến cho ba thứ đó hoà-hợp lại.
-
TÁC Ý: Làm cái tâm chú ý.
Dẫn cái tâm chú ý đến cảnh.
-
THỤ: Lĩnh-nạp những cảnh
thuận, trái và không phải thuận, trái. Thuậ thì vui. Trái thì buồn.
-
TƯỞNG: Đối với cảnh, có
hình-ảnh, nuôi hình-ảnh đó rồi đặt tên gọi.
-
TƯ: Khiến cái tâm tạo-tác,
khởi ra hành-động.
Đối những cảnh thiện, ác, nó sai-sử tâm tạo nghiệp lành, ác v..v…
KẾT LUẬN:
Năm thứ đó
nhiếp về biến-hành6, cho nên với tạng-thức quyết-định thuận-ứng
nhau.
Năm thứ đó
với thức dị-thục hành-tướng dù khác, mà thời, chỗ nương, và cảnh sở-duyên
đồng nhau. Nên gọi là tương-ưng.
XẢ-THỤ:
Cái thức này
hành-tướng chẳng tỏ rõ, không thể phân-biệt cảnh trái và thuận, nhỏ-nhiệm
một loại nương nhau mà chuyển7. Cho nên nó chỉ tương-ưng với
xả-thụ8.
BÌNH-LUẬN:
Thức thứ tám
thuận-ứng với năm tâm-sở biến-hành. Nó chỉ tương-ưng với xả-thụ, tức là
bình-thường, không vui, không buồn.
1
Thức thứ 8.
2
Tâm-sở : thức gọi là tâm-vương, ví như ông vua có quyền điều-khiển. Tâm-sở
ví như các tay sai hộ-vệ vua như các quan giúp vua.
3
Theo đúng lệnh nhau.
4
Từ đệ bát-địa trở xuống.
5
Biến-hành : thời nào địa-vị nào cũng có nó.
6
Khắp tất cả.
7
Hành-tướng nối luôn rất nhỏ-nhiệm, không hiện ra khổ và vui.
8
Không vui, buồn.
ĐOẠN X
VÔ-PHÚ, VÔ-KÝ
Thuộc về
vô-phú1, vô-ký1, nên những tâm-sở tương-ưng với nó
như xúc, tác ý v..v.. cũng như vậy.
GIẢI:
-
Vô-phú: Không bị ngăn che.
-
Vô-ký: Không thiện, không ác.
Thức thứ tám
này không bị phiền-não ngăn-che, nên thuộc về vô-phú, vô-ký. Và những
tâm-sở tương-ưng với thức này cũng thế.
*
* *
ĐOẠN XI
HẰNG-CHUYỂN
Hỏi: A-lại-da
thức là đoạn hay thường?
Đáp:
Chẳng phải đoạn,
Chẳng phải thường,
Bởi vì HẰNG-CHUYỂN
HẰNG: Thức
này từ vô-thủy đến nay:
-
Một loại nối luôn, thường
không gián-đoạn.
-
Vì là cái gốc thi-thiết các
cõi thế-giới chúng-sinh
-
Vì tính KIÊN GIỮ GIỐNG khiến
không mất.
CHUYỂN:
Thức này từ vô-thủy đến nay, niệm-niệm sinh-diệt, trước sau đổi khác, bởi
vì nhân-diệt quả-sinh. Không phải thường một. Có thể bị chuyển-thức huân
thành chủng-tử.
Nói hằng để ngăn đoạn,
Nói chuyển để tỏ nghĩa.
“Không phải thường” dường như dòng nước chảy mạnh.
Pháp quả như
vậy.
GIẢI
1. Ví như:
dòng nước chảy mạnh,
Chẳng
phải đoạn, chẳng phải thường.
Hằng
thời nối luôn, có những sự bị trôi đắm.
Thức này
cũng vậy, từ vô-thủy đến nay sinh diệt nối luôn, chẳng phải thường, chẳng
phải đoạn, làm cho chúng hữu tình bị trôi và đắm không ra khỏi.
2. Và như
dòng nước chảy mạnh, dù bị gió đánh nổi các sóng, mà tự chảy chẳng dứt.
Thức này
cũng vậy, dù gặp các duyên khởi ra nhãn-thức v..v.. mà hằng nối luôn.
3. Và như
dòng nước chảy mạnh, trong dòng và trên mặt nước, các vật như cá, cỏ, rác
v.v...
theo dòng chảy chẳng dừng.
Thức này
cũng vậy, với các pháp về nội-tập-khí và ngoại tiếp-xúc v..v.. hằng theo
nhau mà chuyển.
*
* *
Ví dụ trên tỏ
rõ: Thức thứ tám vô-thủy nhân quả, chẳng phải thường, đoạn.
Nghĩa là:
Thức này vô-thủy đến nay, sát-na, sát-na, quả-sinh nhân diệt.
Vì quả-sinh nên chẳng phải đoạn
Vì nhân-diệt nên chẳng phải thường.
Chẳng phải đoạn, chẳng phải thường, đó là lý duyên-khởi.
Cho nên nói:
“ Thức này hằng-chuyển như dòng nước chảy”
-
Sinh-diệt nối luôn.
-
Thiện: từ-thiện trở lên. Đến
Phật thì xả.
-
Trung-bình: Cõi người.
-
Ác: Từ A-tu-la trở xuống, đến
địa-ngục
*
* *
Giải thêm:
Nhân trước diệt, quả sau liền sinh. Ví dụ như cái đòn cân hai đầu, cao
thấp đồng thời.
Như vậy nhân
quả tương-tục (nối-nhau) như dòng nước chảy.
Nhân-quả đều
là giả thi-thiết:
-
Quán-sát cái pháp hiện-tại có dẫn cái tác-dụng về sau, giả-lập cái “quả
sau”, đối với đó nói là hiện-nhân.
-
Quán-sát cái pháp hiện-tại có đáp lại cái tướng về trước, giả-lập cái
“nhân trước”, đối với đó nói là cái quả hiện-tại.
*
* *
ĐOẠN XII
A-LA-HÁN XẢ
Hỏi: Cái thức
này từ vô-thủy hằng-chuyển như dòng nước chảy. Cho đến địa vị nào mới
hoàn-toàn xả?
Đáp: Vi
A-la-hán mới hoàn-toàn xả (phá ngã-chấp, bỏ A-lại-da).
Các thánh đã
đoạn hết phiền-não chướng, gọi là A-la-hán.
Khi ấy, cái
thứ này hoàn-toàn viễn-ly các phiền-não thô-trọng, nên nói
là xả.
Chữ A-la-hán
thông-nhiếp cả quả-vị vô-học trong tam thừa, vì đã hoàn-toàn hại giặc
phiền-não.
Họ ứng-thụ
các cúng-dường của thế-gian
Chẳng bao giờ
còn thu thêm thân sinh-tử.
*
* *
Tại sao
biết vậy?
Quyết-trạch
phần nói: “ Các A-la-hán, Độc giác, Như-lai đều chẳng thành-tựu A-Lại-da”
THẾ NÀO LÀ XẢ?
A-la-hán
đoạn các phiền-não thô-trọng trong thức này, chúng hoàn-toàn hết. Họ
chẳng còn chấp thức A-lại-da làm nội-ngã của mình. Bởi vậy mất cái tên
A-lại-da. Gọi thế là XẢ. Không phải bỏ tất cả thể của thức thứ tám.
CÁC TÊN CỦA
THỨC THỨ TÁM
Các chúng
hữu-tình thẩy đều có thức thứ tám theo nghĩa rộng, thức này có nhiều tên:
-
TÂM: Vì chứa nhóm hạt giống
các pháp.
-
A-đà-na: Giữ-gìn hạt-giống và
sắc-thân cho sống, thụ thai, giữ không mất.
-
Sở-tri-y: Làm chỗ nương-dựa
cho các pháp sở-tri nhiễm và tịnh.
-
Chủng-tử-thức: Có thể giữ-gìn
các hạt giống thế-gian và xuất thế-gian.
Mấy tên trên thông tất cả các vị.
-
A-lại-da1:
Nhiếp-tàng tất cả pháp tạp nhiễm, khiến chẳng mất. Ngã kiến, ái2
v..v.. nắm dấu3 lấy làm nội-ngã của mình.
Cái tên này chỉ ở về loài dị-sinh4, hữu-học chẳng phải cái
địa-vị vô-học bất-thoái bồ-tát bởi vì có cái nghĩa chấp-tàng pháp tạp
nhiễm.
-
Dị-thục-thức: Có thể dẫn sinh
các cõi, theo nghiệp thiện ác, theo quả dị-thục.
Cái tên này chỉ ở về dị-sinh, nhị-thừa các bồ-tát, chẳng phải bực Nhủ-lai
còn có dị-thục. Bởi vì đây là pháp vô-ký.
7. Vô-cấu-thức: Rất thanh-tịnh, các pháp vô-lậu nương-dựa. Tên này chỉ ở
bực Phật mới có.
Bỏ đầu tiên
cái tên A-lại-da.
Vì thuộc về
chúng-sinh trong ba cõi.
Dị-thục-thức-thể, khi bồ-tát sắp-sửa chứng Bồ-đề mới bỏ: Không bao giờ bỏ
thể vô-cấu-thức. Bởi vì làm lợi-lạc hữu-tình mãi mãi.
1
Từ chúng-sinh đến chưa chứng-quả vô học (còn phiền não).
2
Thức thứ 7.
3
Cất dấu (chấp tàng).
4
Chúng-sinh.
HAI VỊ CẤU1-TỊNH2
Thức thứ tám
gồm có 2 vị:
-
VỊ HỮU-LẬU: Nhiếp về tính
vô-ký, chỉ tương-ưng với 5 pháp-xúc, thụ v.v... Chỉ-duyên theo chấp-thụ
và xứ-cảnh.
-
VỊ VÔ-LẬU: Chỉ nhiếp về
thiện-tịnh, với 21 tâm-sở tương-ưng, bởi vì với tất cả tâm hằng
thuận-ứng. Thường ưa chứng biết cảnh sở-quán. Hằng quyết-định đối với
cảnh sở-quán. Đối với cảnh đã lĩnh thu, hằng ghi-nhớ rành-rẽ.
Phật không có
tâm bất-định.
Hằng lựa chọn
tất cả pháp.
Thương
tương-ưng với các pháp rất tịnh-tín, không ô nhiễm, không tản động.
Chỉ tương-ưng
với xả-thụ.
Bình-đẳng
chuyển. Lấy tất cả pháp làm cảnh sở-duyên, bởi vì trí duyên khắp cả pháp.
*
* *
ĐOẠN XIII
SAO BIẾT THỨC NÀY CÓ?
Hỏi: Sao biết
thức thứ tám, xa lìa nhãn-thức v..v.. có tự-thể riêng?
Đáp: Bởi vì
Thánh-giáo, chính-lý làm định lượng vậy.
CHỨNG-CỚ:
Tỏ rằng thức
tứ tám thật có.
A.
THÁNH-GIÁO:
-
“Đại-thừa A Tỳ-Đạt-Ma
Khế-Kinh3” nói:
“Vô thủy thời đến nay: NHÂN…”
(Chủng tử thức lần lữa nối luonn, thân sinh ra các pháp. Nên gọi là
“Nhân”)
1
Bẩn : chỉ chúng-sinh.
2
Sạch : chỉ từ A-la-hán, lên các bồ tát và Phật.
3
Sách chép lời Phật dạy.
“Tất cả pháp đều DUYÊN (nương)…
(Tức là trì-chủng-thức, từ vô-thuỷ đến nay với tất cả pháp đều nương-dựa,
nên gọi là duyên)
“Bởi thế có các THÚ …
(Thú là cõi người, trời, A-tu-la v..v.. Bởi có thức ấy nên có các thú. Vì
thức thứ tám chấp-trì tất cả pháp thuận lưu-chuyển, khiến cho chúng
hữu-tình lưu-chuyển sinh-tử. Dù hoặc-nghiệp sinh, đều là lưu-chuyển mà
thú là quả, cho nên nói riêng các thú).
“Và chứng được niết-bàn.
Bởi có thức ấy mới chứng được niết-bàn. Vì thức thứ tám nắm giữ tất cả
pháp thuận hoàn, diệt1 khiến cho người tu hành mới chứng được
niết-bàn)
Tóm lại: Thức
làm nhân-duyên sinh các thức hay chứng niết-bàn.
*
* *
2. KINH
“GIẢI-THÂM-MẬT” cũng nói:
- “Thức
A-đà-na rất thâm-tế, tất cả chủng-tử như dòng nước chảy mạnh2.
Tôi đối với kẻ phàm-ngu3 chẳng khai-diễn, e họ phân-biệt chấp
làm ngã”.
3. Kinh
“LĂNG-GIÀ” cũng nói:
- “Như cái
biển gặp duyên có gió, khởi ra các sóng, hiện-tiền tác-dụng chuyển”.
KẾT-LUẬN: Đó
trong các kinh đại-thừa, đều riêng nói có thức thứ tám.
1
Diệt phiền-não, thuận theo các pháp hoàng-diệt, mới chứng niết bàn. Trái
thế gian.
2
Giữ tất cả các hạt giống thiện, ác, nối luôn không ngừng.
3
Phàm : chúng-sinh. Ngu : thanh-văn.
B. CHÍNH LÝ
Đã dẫn
thánh-giáo, sẽ tỏ chính-lý.
Đây có MƯỜI
LÝ.
1.
Trì-chủng:
Khế-kinh nói:
“ Chứa-nhóm
chủng-tử các pháp thanh-tịnh và tạp-nhiễm, để chúng pháp-khởi, nên gọi là
tâm. Nếu không có thức thứ tám, thì tâm trì-chủng không có”.
2. Dị-Thục:
Khế-kinh nói:
“Có dị-thục
tâm, cảm thiện ác nghiệp. Nếu không có thức này, cái thể THÚ và SINH
chẳng có”.
3. THÚ-SINH:
Khế-kinh nói:
“ Chúng
hữu-tình lưu-chuyển trong 5 thú và 4 loài sinh. Nếu không có thức này,
cái thể THÚ và SINH chẳng có”.
4. THỤ-GIẢ:
Lại Khế-kinh
nói:
“ Có sắc
căn, thân là có chấp-thụ. Nếu không cái thức này, cái năng chấp-thụ kia
chẳng có”.
5. THỨC-GIẢ:
Khế-kinh nói:
“ Thọ1,
noãn2, và thức3, ba cái đắp đổi nương giữ nhau, được
nối luôn, an-trụ. Nếu không cái thức này có thể giữ thọ và noãn, khiến
thức ở lâu, thì không có” .
1
Sống lâu
2
Khí nóng
3
A-lại-da
Các
chuyển-thức có hở, có chuyển như tiếng gió v.v… không hằng tri-dụng, không
thể lập làm giữ thọ, noãn và thức.
Chỉ
dị-thục-thúc không hở, không chuyển, dường có hằng trì-dụng như thọ và
noãn. Nên có thể lập làm giữ thọ, noãn và thức.
6) SINH-TỬ :
Lại
Khế-kinh nói :
“Các loài
hữu-tình, thọ-sinh, mạng chung1, quyết ở nơi tán-tâm2,
chẳng phải vô-tâm định. Nếu không có thức này, khi sinh-tử, tâm chẳng có
“.
Khi
sinh-tử, thân-tâm mờ tối, như ngủ không chiêm-bao, và lúc chết ngất thì rõ
ràng các chuyển-thức không hiên-khởi3. Nên không thể
biết.
7) DUYÊN-GIẢ
Và Khế-kinh
nói :
“ Thức
duyên danh sắc, danh-sắc duyên thức, nh ư vậy hai cái lần lữa
xoay vần nương nhau4, ví như bó lau, đồng thời nương
nhau. Nếu không thức này thì tự-thể của thức kia chẳng có. ”
8) Y-THỰC :
Lại
khế-kinh nói :
“ Tất cả
chúng hữu-tình đều nương nơi ăn mà sống còn. Nếu không có thức này
thì kia thức thật thể không có .”
Khế-kinh
nói ăn có 4 cách :
a)
Đoạn.-thực : Trong cõi dục, các món ăn như thịt, cá, cỏ, quả v.v… Có
mùi, vị, hương.Các loài ăn, phải tiêu hoá.
b)
Xúc-thực : Quỷ-thần nhìn, tiếp-súc với cảnh, nhiếp-thụ vui-mừng.Thế là
ăn.Tuy có tương-ưng với các thức, nhưng xúc-thực này thuộc về thức thứ
sáu.
c)
Ý-tư-thực : Tứ-thiền hy-vọng, trông mong.Thế là ăn.Tuy có tương-ưng
với các thức, thuộc về ý-thức.
d)
Thức-thực : Chấp-tri (nắm giữ) làm tướng.
Cái thức-thực này dù thông tự-thể các thức, mà thức thứ tám cái
nghĩa ăn nhiều hơn, bởi vì một loại nối luôn, chấp-trì hơn.
Bốn cách ấy có thể giữ thân-mạng chúng hữu-tình, khiến chẳng hư mất, nên
gọi là ăn.
Đoạn-thực chỉ ở cõi dục có dùnh.Xúc và ý-tu-thực dù khắp ba cõi mà nương
ở chuyển thức.
9) DIỆT-ĐỊNH :
Lại Khế-kinh nói :
“ Cái người ở diệt-tận-định, các hành về thân, nói và tâm đều diệt, mà
mạng sống chẳng diệt, vẫn còn hơi chát nóng.Căn không biến-hoại, thức
chẳng dời thân.
Nếu không có thức này, trụ-duyệt-định về thức chẳng dời thân thân
chẳng có.”
Trong định-diệt-tận, các chuyển-thức đều diệt, chỉ còn thức thứ tám
nhỏ-nhiệm, hằng khắp, giữ-dìn mạng sống v.v… vì thế nên nói : thức chẳng
dời thân.
10) NHIỄM-TỊNH :
Và Khế-kinh nói :
“Vì tâm tạp-nhiễm, hữu-tình tạp-nhiễm.
Vì tâm thanh-tịnh, hữu-tình thanh-tịnh.
Nếu không có thức này, tâm nhiễm-tịnh chẳng có.
Vì các pháp nhiễm-tịnh lấy tâm làm gốc, nhân tâm mà sinh, nương tâm mà
ở. Tâm bị chúng huân-tập và giữ các chủng tử của chúng .”
---o0o---
[
Mục Lục ] [
01 ]
[02
] [03
] [04
] [05
] [06
]
[07]
[08
] [09]
[10]
[11
] [12
] [13
] [14
]
---o0o---
-
Vi tính: Viên Trí
-
Trình bày: Nhị Tường
-
Cập nhật: 01-03-2004