TỔNG TẬP
VĂN
HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê Mạnh
Thát
---o0o---
Tập III
=================
PHẦN II
BẢN DỊCH
THIỀN
UYỂN TẬP ANH
(1a1) BÀI TỰA IN LẠI
THIỀN UYỂN TẬP ANH
Thiền uyển tập anh, sao dùng nghĩa
đó? Xin thưa, dùng sự anh tú của nó làm nghĩa vậy.
Sao thế ?
Người theo thiền tông cố nhiên là
nhiều, nhưng kẻ biết lẽ huyền thật ra lại hiếm; Chính như một con phụng
giữa bầy gà, một cây lan trong đám cỏ. Nếu chẳng phải phú bẩm anh dị, tri
kiến siêu quần, làm sao thấu được ý chỉ huyền vi, để có thể làm lãnh tụ
cho kẻ hậu học và mô thức cho người đời sau?
Đáng tin thay! Trong vườn Thiền,
người anh kỳ là hiếm, nhân đấy trích lấy những bậc danh công, thạc đức để
làm tỏ sự tổ thuật của thiền học. Nên cái nghĩa của Tập anh chính do đó mà
có tên.
Kể từ hỗn độn bắt đầu, bấy giờ có
Phật Uy Âm xuất thế (1), sáng làm tị tổ của thiền tông. Nhưng thời ấy, tục
còn thuần hậu, người nhiều chất phác, kinh giáo ở tại hư không (1b1),
không cần nói ra để làm máy hóa độ. Kẻ nào lấy ma làm Phật kẻ đó trá ngụy
ngày càng sinh, gian dâm ngày càng dấy, nghiệp nợ kết đầy, chướng tội thêm
thẳm. Nếu chẳng dùng đến thuyền từ cứu vớt, thì chẳng thể được.
Cho nên cha cả Thích Ca xuất hiện
ở Ta bà (2), vì họ mà nói ra kinh kệ, dạy dỗ chúng sanh, chín kiếp vượt tu
(3), công thành quả mãn. Do thế, Phật giáo đại hành, thiền tông tiếp nối,
như gió thổi qua sáu nẻo (4), để đem mát lành, tuyết rơi trên ba đường (5)
để dẹp nóng dữ. Bí quyết thành Phật làm Tổ, từ đó mới mở được mối manh.
Nước Đại Việt ta, lời Phật thấm
nhuần khắp cả, mưa pháp sóng gội nhiều nơi, cắt tóc xuất gia, chứng ấn ngộ
không thì cũng có người. Về hành tích, lòng thiền họ sáng như mặt trời,
gương đạo trong như băng giá. Có người ra đời để giúp nước an dân, có kẻ
nhập thế để đỡ ngã, vớt chìm. Có người sớm ngộ ấn tâm, chống gậy làm thần
diệu cơ mầu của Đạt Mạï (6) (2a1). Có kẻ muộn vào cửa thiền, chú sen (7)
khiến hiển hiện bí quyết của Đồ Trừng. Còn những kẻ, chim rừng chuộng niềm
đức, nghe kinh trong cửa, dã thú mến lòng nhân, cửa bếp dâng cơm. Đó là
lòng thành cảm cách đã hiệp, chỗ học thần hóa được xong, há chẳng là sự
mầu nhiệm của bốn mắt nhìn nhau ư! Thật đã đủ để làm bậc anh tú trong vườn
thiền vậy.
Ôi! Phật đạo chí huyền, mà lòng
lại huyền ở trong huyền. (8) Phật đạo rất lớn mà lòng lại lớn ở trong lớn.
Lòng ư! Lòng ư! Nó là cái chủ tể của sự tu đạo ư!
Một sách Thiền uyển này, bắt đầu
từ việc thiền sư Vô Ngôn Thông truyền đạo, đèn đèn nối nhau, ánh ánh huy
hoàng, song rút gọn lời dài, làm ngắn chuyện rộng thì cũng đều cái lòng ấy
là Chánh giác vô thượng vậy. Xét nguyên do nó, nếu chẳng phải gột rửa sáu
trần, rời bỏ bốn tướng (9) mà có thể được như thế sao ?
Tôi ròng học sách Nho, xem (2b1)
thêm kinh Phật, xét về lý hữu vô của chúng, tuy nói là hai đường, nhưng
khảo về chỗ quy kỉnh thì tợ cùng một lẽ. Nhân khi rảnh rỗi giảng dạy ở
trường (10), gặp một bạn thiền đến bàn lời Phật, đối thoại hồi lâu, là
những vấn đề lông rùa sừng thỏ. Y nhân đó lấy ra từ trong tay áo, có Tập
anh một tập nhờ tôi chỉnh cú, để tiện in lại, nhằm khỏi sai lầm. Tôi xem
trong sách ấy có nhiều cao thiền, danh tổ, học tu hết sức, chứng ngộ rất
thiêng, bất giác trong lòng vừa kính vừa phục. Họ bàn không, nói giác, đấy
đương nhiên không phải nằm trong phần việc của tôi.
Nhưng kinh Dịch có nói: “Trẻ nhỏ
cầu ta” (11). Cho nên, tôi không thể không theo lời xin của Y để sửa lại
những chữ thiếu và mất, thêm vào những chỗ sót và thoát lạc. Trong khoảng
tuần nhật, lời văn nghĩa lý của sách này rõ ràng trở lại như xưa, không
kém gì ánh trăng thêm sáng. Y nhân đó xin tôi một bài tựa dùng để khắc vào
đầu sách, nhằm hiển dương Phật giáo (3a1). Tôi không tiếc công, cho gọi
đứa ở đến trước mặt, bảo lấy bút giấy, chuẩn bị viết lách, rồi thảo một
thiên lời quê. Y nhân đó vái chào mà nhận. Cẩn tự.
In lại vào ngày tốt tháng tư năm
Lê Vĩnh Thạnh thứ 11 (1715).
(3b1) Thác tích của thiền tông:
Thích tử Như Trí
Môn đồ:
Sa di Tính Nhu
Thiện nam tử Tính
Phận
Tính Xuyến
Tính Thành
Tính Trung
Tính Từ
Tính Huy
Tính Hưng
Tính Kiến
Tính Minh
Tính Bổn
Tính Băng
Tính Phụng
Thiện nữ nhân: hiệu Diệu Tặng
hiệu Diệu Đạo
Tính Phụng
(4a1) THIỀN UYỂN TẬP ANH NGỮ LỤC
QUYỂN THƯỢNG
1. THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG (1)
(759? - 826)
Chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên
Du (2). Sư vốn người Quảng Châu, họ Trịnh, nhỏ đã mộ đạo, không màng gia
sản, đến thọ nghiệp tại chùa Song Lâm ở Vụ Châu (3). Tính tình trầm hậu,
ít nói, im lặng mà biết, rõ hiểu mọi việc một cách tổng quát. Cho nên,
người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông*.
Một hôm vào lúc Sư lễ Phật, có một
Thiền khách đến hỏi: “Tọa chủ lễ cái gì đó?”
Sư đáp: “Lễ Phật”.
Thiền khách chỉ tượng Phật hỏi:
“Cái này là cái gì?”
Sư không đáp được. Đêm đó Sư y
phục nghiêm chỉnh đến lạy thiền khách, thưa rằng: “Điều ngài hỏi khi nãy
tôi chưa biết ý chỉ như thế nào?”
Thiền khách hỏi: “Tọa chủ xuất gia
đến nay trải được mấy hạ?”
Sư thưa: “Mười hạ”
Thiền khách hỏi: “Lại từng xuất
gia chưa?”
Sư trở thành hoang mang.
Thiền khách bảo: “Nếu không hiểu
điều đó, thì dù có trăm hạ cũng chẳng ích gì!”
Rồi ban đêm Sư cùng đến tham vấn
Mã Tổ (5). Đi đến Giang Tây (6), thì Tổ đã tịch (4b1), bèn đến yết kiến
thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (7).
Bấy giờ có vị tăng hỏi: “Thế nào
là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?”
Bách Trượng đáp: “Đất lòng nếu
không, trời tuệ tự chiếu (8)”
Nghe xong Sư tỉnh ngộ.
Trở về Quảng Châu, trụ trì chùa
Hòa An. Có người hỏi: “Thầy phải là thiền sư chăng?”
Sư đáp: “Bần đạo không từng học
thiền”.
Chặp lâu, Sư gọi. Người đó đáp:
“Dạ”.
Sư chỉ cây soan. Người đó không
trả lời.
Thiền sư Ngưỡng Sơn (9), khi còn
là Sa di. Có lần Sư gọi: “Tịch con, đem cái giường lại đây cho ta”. Ngưỡng
Sơn đem giường đến. Sư bảo: “Trả lại chỗ cũ”. Ngưỡng Sơn vâng theo.
Sư lại hỏi: “Tịch, bên này có cái
gì?”.
Đáp: “Không có vật”.
Hỏi: “Còn bên kia?”
Đáp: “Không có vật”.
Sư lại hỏi: “Tịch con!”.
Ngưỡng Sơn thưa: “Dạ”.
Sư bảo: “Đi đi”.
Tháng chín, mùa thu năm Canh Tý
Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820), Sư đến trác tích chùa đấy (10). Ngoài việc
cơm cháo, vui cái vui thiền, thường ngồi quay mặt vào vách, chưa từng nói
năng, nhiều năm mà không ai biết. Chỉ có thầy Cảm Thành chùa đó (5a1) càng
tôn kính, hầu hạ hai bên, thầm nấu huyền cơ, được hết yếu chỉ.
Một hôm Sư không bệnh, tắm rửa,
thay y phục, gọi Cảm Thành đến bảo: “Xưa, Tổ ta là Nam Nhạc Nhượng thiền
sư (11), khi quy tịch, có dạy:
“Tất cả các pháp
Đều từ tâm sinh
Tâm không chỗ sinh
Pháp không chỗ trụ
Nếu đạt tâm địa
Chỗ làm không ngại
Chẳng gặp thượng căn
Cẩn thận chớ nói” (12).
Dạy xong, Sư chắp tay mà mất. Cảm
Thành làm lễ trà tì thu xá lợi (13), dựng tháp tại núi Tiên Du. Bấy giờ là
nhằm ngày 12 tháng giêng năm Bính Ngọ Đường Bảo Lịch thứ 2 (826), thọ sáu
mươi tám tuổi (14).
Đến năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337)
phàm có 512 năm (15). Thiền học nước Việt ta bắt đầu từ Sư vậy (16).
Pháp tự của thiền sư (Vô Ngôn)
Thông ở Kiến Sơ.
THẾ HỆ THỨ NHẤT ( MỘT NGƯỜI)
2. THIỀN SƯ CẢM THÀNH (?-
860)
Chùa Kiến Sơ, đời thứ 2, Người
Tiên Du, họ Thị (1). Ban đầu Sư (5b1) xuất gia, tên đạo là Lập Đức, ở tại
núi Tiên Du (2) của quận mình. Sư lấy việc đọc kinh làm sự nghiệp. Có
hương hào họ Nguyễn mến Sư đức hạnh cao cả, muốn đổi nhà làm chùa mời Sư
tới ở, bèn đến lấy tình mời Sư, Sư chẳng chịu nhận. Ban đêm mộng thấy thần
nhân mách: “Nếu theo ý của Nguyễn, thì chẳng mấy năm sẽ được điều lành
lớn”, bèn đáp lại lời mời.*
Chẳng bao lâu thì thiền sư Vô Ngôn
Thông đến. Sư biết Thông là người phi thường, sớm hôm phục dịch, chưa từng
biếng nhác. Thông cảm động trước lòng thành của Sư, bèn đặt tên là Cảm
Thành. Một hôm, Thông gọi Sư đến dạy: “Xưa, Đức Thế Tôn vì một nhân duyên
lớn, mà xuất hiện ở đời (3), hóa duyên xong xuôi, ngài vào niết bàn. Chân
tâm vi diệu như thế gọi là chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng, tam
muội pháp môn, chính ngài tự thân trao cho đệ tử là tôn giả Ma Ha Ca Diếp
làm Sơ Tổ (4), đời đời truyền nhau, đến đại sư Đạt Mạ từ Ấn độ sang, lặn
lội hiểm nguy, để truyền pháp này cho đến Lục Tổ Tào Khê, đắc pháp với Ngũ
Tổ. Khi Đạt Mạ (6a1) mới đến, vì người đời chưa biết tin, nên lấy sự
truyền y để làm rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi, thì y bát là
đầu mối của tranh chấp, phải dừng lại ở nơi ông, không nên truyền nữa (5).
Từ đó, lấy tâm truyền tâm, không nhận y bát. Bấy giờ Nam Nhạc Nhượng đầu
tiên được tâm truyền, rồi Nhượng trao cho Mã Tổ Nhất, Nhất lại trao cho
Bách Trượng Hải (6). Ta nhờ ở Bách Trượng mà được tâm pháp đó. Lâu nghe
phương này, nhiều người hâm mộ Đại thừa, nên ta xuôi Nam để tìm thiện tri
thức. Nay gặp được ngươi, ấy bởi duyên xưa, nghe ta nói kệ:
Các phương đồn đãi
Dối tự rao truyền
Rằng thủy tổ ta
Chính tự Tây Thiên
Truyền Pháp nhãn tạng
Gọi đấy là Thiền
Một hoa năm cánh (7)
Hạt giống liên miên
Ngầm hợp mật ngữ
Muôn vàn có duyên (8)
Tâm tông đều gọi
Thanh tịnh bản nhiên
Tây Thiên đất này
Đất này Tây Thiên
Xưa nay nhật nguyệt
Xưa nay sơn xuyên
Đụng đâu cũng vướng (9)
Phật tổ thành oan
Sai một mảy may
Đi mất trăm ngàn
Ngươi khéo xem xét
Chớ lừa cháu con
Dẫu có hỏi ta
Ta vốn Vô Ngôn (10)
(6b1) Nghe xong lời đó, Sư liền
lĩnh ngộ.
Một lần có vị Tăng hỏi: “Thế nào
là Phật?”
Sư đáp: “Khắp hết mọi nơi”.
Lại hỏi: “Thế nào là tâm
Phật?”
Sư đáp : “Chẳng từng che
dấu”.
Lại thưa: “Người học không
hiểu”.
Sư bảo: “Đi quá xa rồi”.
Về sau, Sư không bệnh mà mất. Bấy
giờ là năm Canh Thìn Đường Hàm Thông thứ nhất (860).
THẾ HỆ THỨ HAI
(MỘT NGƯỜI)
3. THIỀN SƯ THIỆN HỘI (?- 901)
Chùa Định Thiền (1) làng Siêu
Loại (2). Người Điển Lãnh (3). Lúc nhỏ xuất gia với sư Tiệm Nguyên chùa
Đông Lâm (4) cùng làng, tự gọi là Tổ Phong. Sư rảo khắp cõi ngoài, cầu học
Thiền chỉ. Sau gặp Cảm Thành chùa Kiến Sơ, bèn xin ở lại hầu hạ hơn mười
năm, không chút vẻ mệt. Một hôm Sư vào thất hỏi: “Trong kinh (5) nói:” Đức
Thích Ca Như Lai, nhân địa tu hành trải qua ba a tăng kỳ kiếp mới được
thành Phật” (6). Nay Đại đức lại luôn luôn bảo: “Tức tâm tức Phật”. Tôi
thật chưa hiểu, xin một phen khai thị cho”.
(7a1) Thành hỏi: “Trong kinh đó
là người nào nói?”
Sư thưa: “Há chẳng phải Phật nói
sao?”.
(7a1) Thành hỏi: “Nếu là Phật nói
thì tại sao trong kinh Văn Thù bảo: “Ta ở đời 49 năm, chưa từng nói một
chữ cho ai”. (7) Vả lại cổ đức nói: “Người tìm văn lấyng thì thêm vướng
mắt. Người khổ hạnh cầu Phật thì đều lầm mê. Lìa tâm cầu Phật là ngoại
đạo. Chấp tâm tức Phật là ma”. (8)
Sư hỏi: “Như vậy tâm nầy là cái
gì? Cái chẳng phải Phật là gì?”.
Sư tiếp: “Như vậy tâm nầy là Phật
gì?”
Thành đáp: “Xưa có người ở Mã Tổ
hỏi: “Tâm tức là Phật, cái nào là Phật?” Mã Tổ dạy: “Ông nghi cái nào
không phải là Phật hãy chỉ ra xem?”. Người ấy không trả lời. Tổ dạy: “Hiểu
được khắp nơi có, không ngộ mãi xa sai” (9). Chỉ một câu thoại đầu nầy,
ngươi lại hiểu chưa?”.
Nghe lời đó xong, Sư thưa: “Con đã
hiểu rồi”.
Thành hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”.
Sư thưa: “Khắp cả mọi nơi, không
chỗ nào là chẳng phải tâm Phật”.
Sư liền sụp xuống lạy.
Thành bảo: “Cần (7b1) phải làm thế
a?”
Nhân đó đặt tên là Thiện Hội. Về
sau, Sư mất tại chùa mình, tức năm Canh Thân Đường Quang Hóa thứ 3 (900).
THẾ HỆ THỨ BA (MỘT NGƯỜI)
4. THIỀN SƯ VÂN PHONG (? - 957)
Chùa Khai Quốc (1), kinh đô Thăng
Long, người Từ Liêm, quận Vĩnh Khương (2), họ Nguyễn. Khi mẹ mang thai, bà
ăn chay, tụng kinh, lúc sinh có ánh sáng lạ chiếu khắp nhà. Cha mẹ thấy
điềm lạ, nên hứa cho xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu Thiện Hội ở Siêu Loại
làm đệ tử nhập thất (3), lặng nắm huyền chỉ, thiền học ngày thêm. Hội có
lần bảo Sư: “Sống chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay”.
Sư hỏi: “Khi sống chết đến, làm
sao tránh khỏi?”
Hội đáp: “Hãy nắm lấy chỗ không
sống chết mà tránh”.
Sư hỏi: “Thế nào là chỗ không sống
chết?”.
Hội đáp: “Ngay trong sống chết
biết nắm lấy nó mới được”.
Sư hỏi: “Làm sao mà biết?”.
Hội đáp: “Ngươi hãy đi, chiều muộn
sẽ đến”.
Sư bèn (8a1) quả đến, như đã hẹn,
Hội bảo: “Đợi đến sáng mai mọi người sẽ chứng minh cho ngươi”.
Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền sụp
lạy.
Hội hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?”
Sư thưa: “Con đã lĩnh hội”.
Hội hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”.
Sư đưa nắm tay lên, thưa: “Bất
tiếu là cái này đây”.
Hội liền bảo thôi.
Về sau, Sư mất vào năm Bính Thìn
Hậu Chu Hiển Đức thứ 3 (950).
THẾ HỆ THỨ TƯ (HAI NGƯỜI, MỘT
NGƯỜI KHUYẾT)
5. ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT (930-1011)
Chùa Phật Đà, hương Cát Lợi,
Thường Lạc (1). Người Cát Lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế. Tướng
mạo khôi ngô, chí chuộng phóng khoáng, nhỏ theo học Nho, lớn lên quy y
Phật. Sư cùng bạn học Trụ Trì đến Vân Phong chùa Khai Quốc, thọ giới Cụ
túc (2). Từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền. Năm bốn
mươi tuổi, tiếng vang tới triều, vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, Sư đối đáp
hiệp ý vua, bèn phong làm Tăng thống (3). Năm Thái Bình thứ hai (971), vua
ban hiệu Khuông Việt đại sư (4).
Hoàng đế Lê Đại Hành càng kính
trọng Sư hơn, phàm việc quân, việc nước ở triều đình, Sư đều dự vào.
Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh (5)
ở quận Bình Lỗ, (6) thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở. Đêm
tới nằm mộng thấy một vị thần, mình mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương
vàng, tay phải đỡ bảo tháp, hơn mười người theo hầu, tướng mạo dễ sợ, đến
nói rằng: “Ta là Tỳ Sa Môn thiên vương (7), những người theo ta là Dạ xoa
(7). Thiên đế (7) có sắc sai ta đến nước này để giữẵ gìn biên giới, khiến
cho Phật pháp thịnh hành. Ta có duyên với ông, nên đến đây báo cho biết”.
Sư kinh ngạc thức dậy, nghe trong núi có tiếng kêu la ầm ĩ, lòng rất lấy
làm lạ. Đến sáng Sư vào núi, thấy một cây to, cao khoảng mười trượng, cành
lá sum sê, bên trên lại có mây lành bao phủ, nhân đó sai thợ đến chặt. Đem
về, khắc tượng như đã thấy trong mộng, để thờ.
Năm Thiên Phúc thứ 1 (980), binh
Tống đến cướp. Vua vốn biết việc đó, liền sai Sư đến đền cầu đảo. Quân
giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh (8), lại thấy sóng gió nổi lên,
giao long nhảy nhót, giặc bèn (9a1) tan vỡ (9).
Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), người
Tống là Nguyễn Giác sang sứ. Bấy giờ Pháp sư Đỗ Thuận cũng nổi danh. Vua
sai Pháp sư đổi áo làm giang lệnh, đón Giác ở Giang Khúc. Giác thấy sư
giỏi bàn văn chương, bèn đem thơ tặng, có câu: “Ngoài trời lại có trời soi
rạng”. Vua đưa hỏi Sư. Sư thưa rằng: “Đây nó tôn kính Bệ hạ cùng với chúa
nó không khác”. Khi Giác trở về, Sư làm một bài từ nhan đề Vương lang qui
(10), để tiễn đưa. Bài từ như sau:
Trời lành gió thuận, gấm buồm
dương
Thần tiên về đế hương
Muôn tầng vạn dặm vượt trùng
dương
Đường về thẳm chín tầng
Tình lưu luyến chén lên
đường
Bịn rịn sứ tinh lang
Nguyện đem thâm ý vì Nam bang
Phân minh tâu thánh hoàng
(11).
Sau, Sư lấy cớ già yếu, xin từ
quan về núi Du Hý ở quận mình (12), lập chùa trụ trì; người học tìm tới
đông đảo. Một hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi: “Thế nào là chung thủy
của sự học đạo”.
Sư đáp: “Thủy chung không vật,
diệu hư không
Hiểu được chân như , thể tự
đồng”.
Bảo tiếp: “Làm sao giữ được?”.
Sư đáp: “Không có chỗ cho người
xuống tay”.
(9b1) Bảo lại hỏi: “Hòa thượng
nói xong rồi?”.
Sư nói: “Ông làm sao hiểu”.
Bảo bèn hét lên.
Ngày 15 tháng 2 năm Thuận Thiên
thứ 2 (1011) triều Lý, khi sắp cáo tịch, Sư dạy Đa Bảo bài kệ:
Trong cây vốn có lửa
Có lửa, lửa mới bừng
Nếu bảo vốn không lửa
Cọ xát do đâu bùng.
Nói kệ xong, Sư ngồi kiết già mà
mất, thọ 82 tuổi
(13).
THẾ HỆ THỨ
NĂM (HAI NGƯỜI, KHUYẾT MỘT)
6. THIỀN SƯ ĐA
BẢO
Chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên
Du. Không biết người đâu, và cũng không biết họ gì. Khi đại sư Khuông Việt
giảng dạy tại chùa Khai Quốc, Sư đến tham học. Đại sư khen là người gặp
việc thì chóng hiểu, xử sự cẩn thận, nên riêng cho nhập thất.
Sau khi đắc pháp, Sư chỉ một bình
một bát, tiêu dao ngoài vật. Sau được chùa Kiến Sơ, bèn đến ở đó. Lý Thái
Tổ lúc chưa lên ngôi, Sư thấy tướng mạo anh tuấn khác thường, bèn bảo “chú
này cốt tướng khác phàm, ngày kia làm vua ắt là nó đây”. Vua cả kinh,
thưa: “Hiện nay (10a1) đức thánh thượng anh minh còn đó, trong ngoài cả
nước an vui, Thầy ta sao lại nói lời phải tội tru di nầy?”.
Sư bảo: “Mệnh trời đã định, người
dù muốn trốn cũng chẳng được nào. Giả như lời này mà đúng, thì mong chớ bỏ
nhau”.
Khi Vua lên ngôi, nhiều lần triệu
Sư vào cung, hỏi bàn yếu chỉ của Thiền và lễ Sư rất hậu. Cả đến công việc
chính trị của triều đình, Sư đều dự phần giải quyết. Vua xuống chiếu trùng
tu chùa Sư (1). Sau không biết Sư tịch ở đâu.
THẾ HỆ THỨ
SÁU (BA NGƯỜI, MỘT NGƯỜI KHUYẾT LỤC)
6. TRƯỞNG LÃO
ĐỊNG HƯƠNG (?-1051)
Chùa Cảm Ứng, Ba Sơn (1), phủ
Thiên Đức (2), Sư họ Lã, người Châu Minh (3), gia thế dòng tịnh hạnh. Thuở
nhỏ thọ giáo với thiền sư Đa Bảo tại chùa Kiến Sơ. Trải qua 24 năm, môn đồ
của Bảo hơn trăm người, chỉ có Sư cùng với Quốc Bảo Hòa được chọn đứng
đầu, nhưng Sư rất được tôn chỉ của Bảo.
Một hôm Sư hỏi Bảo: “Làm thế nào
được thấy chân tâm?”
Bảo dạy: “Chính ngươi tự phát
hiện”.
Sư bỗng nhiên hiểu được yếu chỉ,
liền thưa: “Hết thảy đều như thế, chứ có riêng gì tôi”.
Bảo hỏi: “Ngươi đã hiểu chưa?”
Sư đáp: “Khi đệ tử hiểu rồi, cũng
giống như lúc không hiểu” (4).
Bảo dạy: “Nên đem tâm đó mà quyết
chắc”.
Sư bưng tai, đứng quay lưng lại.
Bảo liền quát “Đi”. Sư sụp lạy.
Bảo dạy: “Từ nay ngươi hãy như một
kẻ đui điếc trong việc tiếp người”.
Đô tướng thành hoàng sứ là Nguyễn
Tuân khâm phục tài đức của Sư, nên mời về chùa đó ở. Người học vân tập,
dạy dỗ dắt dìu, công Sư không ít.
Ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần
(5) Sùng Hưng Đại Bảo thứ 2 (1050) triều Lý Thái Tông, Sư nhuốm bịnh, họp
chúng để từ biệt, đọc kệ :
“Bản lai không xứ sở (6)
Xứ sở ấy chân tông
Chân tông huyễn như vậy
Huyễn hữu tức không không” (7).
Nói kệ xong, Sư lặng lẽ viên
tịch.
8. THIỀN SƯ
THIỀN LÃO (1)
Chùa Trùng Minh, núi Thiên Phúc,
(2) Tiên Du. Ban đầu Sư đến tham bái Đa Bảo tại chùa Kiến Sơ, hiểu được
tâm yếu rồi đến trác tích tại núi ấy (3). Gió thiền ngày càng nổi, kẻ học
hàng nghìn, đông đảo làm cho tòng lâm thịnh vượng.
Vào khoảng Thông Thụy (1034-
1038), Lý Thái Tông có lần đến (11a1) chùa và hỏi Sư rằng: ”Hòa thượng ở
núi này đến nay được bao lâu?”.
Sư đáp:
“Chỉ biết tháng ngày nay
Ai hay xuân thu trước” (4).
Vua hỏi: “Hàng ngày làm việc gì?”
Sư đáp:
“Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh ngoại
(5)
Trăng trong mây bạc hiện toàn
chân”.
Vua hỏi: “Có ý chỉ gì?”
Sư đáp: “Lắm lời không ích về
sau”.
Vua hoát nhiên như có sở đắc.
Khi sắp sai sứ rước Sư về triều
làm cố vấn, thì Sư đã viên tịch trước đó (6). Vua rất buồn tiếc, làm thơ
thương viếng sai trung sứ ban nhiều lễ hậu, lập đàn trà tỳ, thu linh cốt,
xây tháp ở cửa núi, lại sửa sang rộng rãi chùa Sư, đặt môn đồ lo việc
hương hỏa.
THẾ HỆ THỨ
BẢY (BẢY NGƯỜI, KHUYẾT MỘT)
9. THIỀN SƯ VIÊN
CHIẾU (999-1090)
Chùa Cát Tường, kinh đô Thăng
Long, Sư họ Mai, tên Trực, người Long Đàm (1) Phúc Đường (2), là con anh
bà Linh Cảm thái hậu nhà Lý (3). Thuở nhỏ thông minh hiếu học, nghe đồn vị
trưởng lão tại chùa Mật Nghiêm (4) quận mình xem tướng giỏi, bèn đến xem
thử cho biết. Vị trưởng lão nhìn kỹ (11a1) rồi bảo: “Ngươi có duyên với
Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là người trong hàng thiện Bồ tát, bằng không
thì việc thọ yểu khó bảo đảm”. Sư cảm ngộ, giã từ cha mẹ, đến núi Ba Tiêu
theo học với Định Hương, hầu hạ nhiều năm, nghiên cứu Thiền học. Sư thường
trì kinh Viên giác, rõ được phép Tam quán (5). Một tối trong lúc thiền
định, Sư thấy Bồ tát Văn Thù cầm dao mổ bụng, rửa ruột rồi dùng thuốc rịt
lại. Từ ấy, những gì đã học trong lòng, trở thành rõ ràng như từng biết
(6), chứng sâu ngôn ngữ tam muội, (7) thuyết giảng lưu loát. Sau đó, Sư
đến bên tả kinh thành dựng chùa để ở. Người học đổ về như rừng.
Có tăng hỏi: “Phật với Thánh,
nghĩa nó thế nào?”.
Sư đáp:
“Cúc trùng dương dưới dậu
Oanh thục khí đầu cành (8)".
Lại hỏi: “Cảm ơn, nhưng người học
này không hiểu, xin thầy dạy lại”.
Sư đáp:
“Ngày thì ác vàng dọi
Đêm đến thỏ bạc soi”.
Tăng lại hỏi: “Chân ý thầy đã rõ
máy huyền phải tỏ thế nào?”.
Sư đáp:
“Bưng chậu nước đầy đi bất cẩn
Một phen vấp ngã hối mà chi?”.
Vị tăng nói: “Cảm ơn thầy”.
Sư chỉ nói:
“Sóng sông chìm chớ tát
(12 a1) Đem mình tự đắm thôi”.
Lại hỏi: “Thiếu Thất, Ma Kiệt rất
huyền, từ xưa đến nay, ai nối nhau làm chủ?” (9).
Sư đáp:
“Sáng tối tượng trời do quạ
thỏ
Lõm lồi hình đất nọ núi sông”
(10).
Lại hỏi: “Thế nào là căn
nguyên đại đạo thẳng đường đi?”.
Sư đáp:
“Gió lộng bờ cao hay cỏ cứng
Nhà tan nước mất biết trung lương” (11).
Lại hỏi: “Tất cả chúng sanh
từ đâu mà đến? Trăm năm sau sẽ về đâu?”.
Sư đáp:
“Rùa đui chui vách đá
Trạch què bò núi cao”.
Lại hỏi: “Xanh xanh trúc
biếc thảy chân như (12). Thế nào là dụng của chân như?”.
Sư đáp:
“Tặng anh ngàn dặm xa,
Cười mang
trà một bình (13) ”.
Tăng thưa: “Đến suông có
ích gì là sao?” (14).
Sư đáp:
“Ai biết đi Đông a
Nửa đường đầu đã bạc” (15) .
Lại hỏi:
“Dã hiên một cửa
vắng
Thong thả gõ ai hay (16).
Sư đáp:
“Kim cốc đìu hiu hoa cỏ rối
Mà nay hôm sớm thả trâu dê”.
Tăng thưa: “Vì sao như vậy?”.
Sư đáp:
“Giàu sang cùng kiêu thái
Lầu chợ khiến tan hoang” (17).
Lại hỏi:
“Long nữ (12b1) dâng châu thành Phật quả, đàn na bố thí phước ra sao”
(18).
Sư đáp:
“Trong trăng quế muôn thuở
Rậm, thưa vẫn một vành”.
Tăng thưa: “Nhọc mà vô ích là
sao?” (19).
Sư đáp:
“Như gương treo trên trời
Nhân gian soi khắp nơi”.
Lại hỏi:
“Qua sông phải dùng bè
Đến bến hết cần ghe
Khi không qua sông thì sao?” (20).
Sư đáp:
“Ao khô cá lên cạn
Sống cả vạn năm xuân”.
Tăng thưa: “Thế nào là “theo dòng
mới đạt được Diệu lý?” (21).
Sư đáp:
“Nghe nói bạn Kinh Kha
Một đi không trở lại” (22) .
Lại hỏi:
“Lẫn lộn quặng vàng cùng một chất
Xin thầy phương tiện luyện tinh
ròng” (23)
Sư đáp:
“Không phải khách Tề quân
Sao biết biển cá lớn!“ (24).
Tăng thưa:
“Quách quân nếu không nhận
Can gián
chẳng làm chi” (25).
Sư
đáp:
“Nếu muốn bưng uống
trước
Vẽ rắn khéo hãy thôi” (26).
Lại
hỏi:
“Rắn chết giữa đường
Xin thầy cứu sống” (27).
Sư đáp:
“Ngươi là người phương nào?”.
Tăng đáp:
“Vốn người ở núi”.
Sư
dạy:
“Mau về (13a1) non cũ
ẩn
Chớ gặp Hứa Chân Quân” (28).
Lại hỏi:
“Hải tạng mênh mông không nên hỏi
Tào Khê từng giọt nghĩa ra
sao?” (29).
Sư đáp:
“Rừng tùng tiếng gió
thê lương thổi,
Mưa tạnh bùn nhơ ngập lối đi”.
Tăng thưa: “Không khác với ngày
nay, là thế nào?”(30)
Sư
đáp:
“Cúc trùng dương dưới
giậu
Oanh ngày nắng đầu cành”.
Lại hỏi:
“Sờ sờ ở khoảng mắt lòng
Rành rành trong chốn sắc thân
Nhưng lý không thể phân
Tướng không thể thấy
Vì sao không thấy được?” (31).
Sư đáp:
“Trong vườn hoa rực rỡ
Trên bờ cỏ tràn lan”.
Tăng thưa:
“Năm
lạnh mầm non rụng
Lấy gì để thưởng công”.
Sư đáp:
“Mừng cho ông tự rõ
Sung sướng biết chừng nào!”.
Tăng thưa:
“Hôm nay, may nghe giải
Từ đây hết hoang mang”.
Sư dạy:
“Đắm cạn vừa vớt ra
Ngoảnh đầu đầm muôn trượng”.
Lại hỏi: “Trong thành niết bàn vẫn
còn nguy hiểm (32). Thế nào là chỗ không nguy hiểm?”.
Sư đáp:
”Trên rèm che làm tổ
Cành lau xõa tóc mai.
Tăng thưa:
“Nếu gặp lúc cấp bách
Đôi đường xử lẽ nào?”.
(13b1) Sư đáp:
“Trượng phu theo phóng khoáng
Trăng gió hãy vui chơi” (33).
Lại hỏi: “Hết thảy chúng sanh đều
bảo là Phật, lẽ ấy chưa tường, mong thầy chỉ dạy?”.
Sư đáp:
“Nông trang hãy gắng khuyên anh
thế
Đợi thỏ người kia chớ nhọc theo”
(34).
Tăng thưa:
“May được thầy chỉ rõ
Trọn chẳng đến ai tìm”.
Sư dạy:
“Khá thương một
lần nghẹn
Ngồi đói trót quên ăn”.
Lại hỏi:
“Bao năm dồn chứa
ngọc trong túi
Tận mặt hôm nay thấy rõ rành
(35)”.
Sư đáp :
“Trăng trung thu
chờ mãi
Gặp phải mây mưa xông” (36).
Tăng thưa:
“Tuy nghe thầy
dạy bảo
Lý đó vẫn chưa thông”.
Sư dạy:
“Cười người suông ôm cột
Chết đuối nhắm giữa dòng!” (37).
Tăng hỏi:
“Thế nào là một phái?” (38).
Sư đáp:
“Vừa thấy xuân
gieo và hạ lớn
Gặp ngay thu chín với đông thâu”.
Tăng thưa:“Thành Phật
nhiều thế là sao?”.
Sư đáp:
“Tổ Long thôi nghĩ chạy
Từ Phúc luống đường xa“ (39).
Tăng hỏi:
“Kiến tính thành Phật, nghĩa ấy
thế nào?”.
Sư đáp:“Xuân đến cây khô
hoa đua nở
Gió đưa ngàn dặm nức (14a1) hương
thần” (40).
Tăng thưa:“Học nhân không
hiểu, xin thầy dạy lại”.
Sư đáp:“Muôn năm cây cà
ấy,
Xanh ngát tận chân mây”.
Lại hỏi:“Ma ni cùng các
sắc
Chẳng hợp chẳng
phân ly” (41).
Sư đáp:
“Hoa xuân cùng bươm bướm
Lúc luyến lúc ruồng nhau”.
Tăng hỏi:
“Theo người xen lẫn là sao”.
Sư đáp:
“Chẳng phải mắt Hồ
tăng (42)
Uổng công
dâng ngọc Biện” (43).
Lại hỏi: “Thế nào là chạm
mắt là bồ đề?” (44).
Sư đáp:
“Cây cong chim mãi
sợ
Dưa nguội người thổi hoài”.
Tăng thưa: “Học nhân không hiểu,
xin thầy cho ví dụ khác”.
Sư đáp: “Kẻ điếc nghe
tiếng đàn
Người mù ngắm bóng trăng”.
Lại hỏi:
“Vốn đã có hình thêm có ảnh
Có lúc ảnh cũng lìa hình sao?”
Sư đáp: “Trăm sông đổ về đông kìa,
muôn dòng đua chảy.
Ngàn sao chầu Bắc đẩu kìa, thiên
cổ quy tâm”.
Lại hỏi: “Thế nào là một câu tỏ
ngộ, vượt muôn ngàn?” (45).
Sư đáp: “Xa kẹp Thái sơn qua biển
Bắc
Ngửa quăng gậy chống vào cung
trăng”.
Lại hỏi: “Chỉ một sự này thật,
(14b1) Còn hai chẳng phải chân (46) Thế thì, chân là gì?”.
Sư đáp:
“Gió dễ lay đầu gậy
Mưa thành nẩy trên đường”.
Lại hỏi:
“Không nhắm Như Lai xin Diệu tạng
Không mong lửa tổ nối đèn chong
Ý chỉ rốt ráo thế nào?”.
Sư đáp
:
“Trời thu lúa xào xạt
Cảnh tuyết mẫu đơn cười”.
Lại hỏi:
“Thế nào là câu tối diệu?”
Sư đáp:
“Một người ngoảnh mặt khóc
Cả tiệc uống không vui”.
Lại hỏi:
“Xưa nay việc lớn xin không hỏi
Điểm lạ Tây lai ý thế nào?” (47).
Sư đáp:
“Kẻ khéo lời đẹp mặt (48)
Phường đập ngói hong rùa”.
Lại hỏi:“Tâm, pháp đều
quên, thì tính tức chân (49) Thế nào là chân ?”.
Sư đáp: “Đàn Bá Nha gió
khua sân trúc (50)
Lệ Nữ Thần mưa rắc hoa non (51).
Lại hỏi:“Thế nào là câu
tối diệu?”.
Sư đáp: “Yết hầu còn mắc
nghẹn
Yên ở chẳng vui gì“.
Lại hỏi: “Có tu có chứng,
khơi bốn bệnh (52)
Ló đầu sao được thoát hồng
trần”.
Sư đáp: “Núi cao chất ngất
dung muôn vật
Biển rộng bao la chứa vạn sông”.
Lại hỏi: “Chỉ có Phật với
Phật mới biết (15a1) việc đó (53) Thế thì việc đó là thế nào?”.
Sư đáp:
“Đường hẹp chi
chít trúc
Gió thổi nhạc tự thành”.
Lại hỏi: “Chẳng cần bình thường,
chẳng cần thiên nhiên, chẳng cần tác dụng, thì nay làm gì đây?”.
Sư đáp:
“Cỏ bồng én đậu thấp
Biển rộng ẩn cá lân”.
Lại hỏi:
“Tứ đại mang về
từ nhiều kiếp
Xin thầy phương tiện thoát luân
hồi”.
Sư đáp:
“Loài thú trên đời
Tê là quý
Nó ăn gai góc mẹp bùn nhơ” (54).
Lại hỏi: “Mọi thứ thủ, xả đều luân
hồi, không thủ không xả thời thế nào?” (55).
Sư đáp:
“Giềng hồng đẹp đẽ
xưa nay vậy
Có lá sum sê chẳng có hoa”.
Lại hỏi:
“Dứt hết nói năng ý ấy thế nào?” (56).
Sư đáp:
“Theo gió tiếng còi luồn bụi trúc
Kèm trăng trái núi quá đầu tường”.
Lại hỏi:
“Chư Phật thuyết pháp là để giáo hóa mọi loài, nếu hiểu được bản ý thì gọi
là xuất thế, bản ý là gì?”.
Sư đáp:
“Xuân dệt hoa như gấm
Thu sang lá tựa vàng”.
Lại hỏi:
“Thế nào là một đường nhắm
thẳng?”(57)
Sư (15b1) đáp:
“Đông tây xe ngựa ruỗi
Hôm sớm bụi mờ bay”.
Lại hỏi:
“Có pháp, có tâm, sinh vọng thức
Làm sao tâm, pháp thảy tiêu
vong?”.
Sư đáp:
“Ví được lá tùng xanh cao ngất
Sá gì sương tuyết lả tả rơi”.
Lại hỏi:
“Ý tổ và ý kinh thế nào?”.
Sư đáp:
“Chống trượng lên mây khi thích chí
Mệt buông rèm trúc ngủ giường tre”.
Lại hỏi:
“Tổ tổ truyền nhau là truyền những gì?”.
Sư đáp:
“Đói đến tìm thức ăn
Rét liền xin áo mặc” (58).
Lại hỏi:
“Thế nhân đều thuê nhà
Người dột ở đâu ta?”.
Sư đáp:
“Vầng ô cùng ngọc
thố
Tròn khuyết dối nhọc chia”.
Lại hỏi:
Thế nào là con đường duy nhất đến Tào Khê?”.
Sư đáp:
“Khá thương kẻ khắc thuyền (59)
Rốt cuộc ý hoang mang”.
Sư từng soạn Dược sư thập nhị
nguyện văn (60). Vua Lý Nhân Tông lấy bản thảo của Sư, sai sứ đem sang
Triết Tôn (61). Triết Tôn cho mời Pháp sư Cao tòa chùa Tướng quốc đến xem
(62), xem xong liền chấp tay lạy, mà nói rằng: “Phương Nam có bậc Đại sĩ
nhục thân ra đời, ấy là vị Pháp sư khéo giảng kinh điển vậy. (16a1) Bần
đạo đâu có thể dám thêm bớt”. Nhân đó chép lại một bản, rồi giao trả bản
cũ trả về. Sứ giả trở về thuật lại, vua rất khen thưởng.
Vào một ngày tháng chín năm Canh
Ngọ Quảng Hựu thứ sáu (1090), Sư không bệnh, gọi chúng đến dạy rằng:
“Trong thân ta đây, thịt xương gân mạch, tứ đại giả hợp, đều có vô thường,
ví như ngôi nhà kia khi đổ, cột kèo đều rơi. Cùng các con giã từ, hãy nghe
bài kệ ta đây:
Thân như tường vách đổ xiêu
rồi,
Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi,
Nêu rõ tâm không , không tướng
sắc,
Sắc không ẩn hiện mặc xoay
dời.
Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng
viên tịch, thọ 92 tuổi đời, và 56 tuổi hạ (63). Có để lại Tán viên giác
kinh, Thập nhị bồ tát hành tu chứng đạo trường và Tham đồ hiển quyết một
quyển (65) nay còn lưu hành ở đời (66).
10. THIỀN SƯ CỨU CHỈ
Chùa Diên Linh, núi Long Đội (1),
Yên Lãng (2). Người Phù đàm, Châu Minh (3), họ Đàm. Thuở nhỏ hiếu học,
sách Nho, sách Phật, không thứ gì là không coi hết. Một hôm bèn ôm (16b1)
sách than rằng: “Khổng Mặc chấp có, Trang Lão chấp không, sách vở của thế
tục chẳng phải là phương giải thoát. Chỉ có Phật pháp không kể có, không,
có thể rõ sanh tử, nhưng phải siêng năng giữ giới, tìm thiện tri thức ấn
chứng cho mới được”. Nhân đó bỏ tục, đến chùa Cảm Ứng ở Ba Sơn thọ Cụ túc
với Định Hương trưởng lão. Ngày cầu đạo, trưởng lão hỏi: “Thế nào là nghĩa
của cứu cánh?”
Sư đáp: “Chưa”.
Sơn nói: “Ta với ngươi là nghĩa
của cứu cánh rồi!”.
Sư ngẫm nghĩ.
Sơn nói: “Qua mất rồi”.
Nhờ lời nói đấy, Sư rõ được yếu
chỉ. Nhân đó lấy tên Cứu Chỉ.
Sau Sư vào chùa Quang Minh ở núi
Tiên Du, tu khổ hạnh đầu đà (4) sáu năm không bước chân xuống núi. Tiếng
tăm giáo hóa của Sư vang đến tai vua. Vua Lý Thái Tông nhiều lần cho mời,
Sư không đến, nên ba lần thân hành đến chùa Sư, lấy lời an ủi thăm hỏi.
Thái sư Lương Văn Nhậm (5) cũng rất kính trọng.
Trong khoảng Long Thụy Thái
Bình (1054-1058) Tể tướng Dương Đạo Gia đem chùa mình, mời Sư về trụ trì.
Sư quyết từ không được, đành phải làm theo. Ngày Sư xuống núi (17a1) bèn
nói với mọi người rằng: “Ta không trở lại đây nữa”. Chim muông trong rừng
kêu thương ba tuần không dứt.
Ở vừa ba năm, vào một ngày
tháng, năm nào đó của niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), khi
sắp thị tịch, Sư họp môn đồ dạy rằng:
Tất cả pháp môn
Vốn từ tính ngươi
Tất cả pháp tính
Vốn từ tâm ngươi
Tâm, pháp như một
Vốn chẳng hai pháp
Phiền não trói buộc
Tất cả đều không
Phải quấy, tội phước
Tất cả đều huyễn
Không đâu chẳng quả, chẳng nhân
Ở trong nghiệp không phân biệt
Ở trong báo không phân biệt
Nếu có phân biệt đối với nghiệp
Thì không tự tại
Tuy thấy
tất cả pháp
Mà không chỗ thấy
Tuy biết tất cả pháp
Mà không chỗ biết
Biết tất cả pháp
Nhân duyên làm gốc
Thấy tất cả pháp
Chính chân làm tông
Tuy nhiễm thực tế
Hiểu rõ thế gian
Đều như biến hóa
Thấu rõ chúng sanh
Chỉ là một pháp
Không có hai pháp
Không bỏ nghiệp cảnh
Phương tiện thiện xảo
Đối giới hữu vi
Bày pháp hữu vi
Mà không phân biệt
(17b1) Tướng của vô vi
Vì muốn dứt trừ
Vọng niệm so đo,
Của ta ấy vậy.
Rồi nói kệ rằng:
Rõ biết thân tâm vốn lặng yên,
Thần thông biến hóa hiện mọi tướng
Hữu vi vô vi từ đây hiện
Thế giới
hà sa không thể lượng
Tuy dù biến khắp cõi hư không
Mỗi mỗi xem ra chẳng hình
dạng
Ngàn năm
muôn năm khó sánh đó
Cõi cõi nơi nơi thường tỏ rạng
(6).
Đúng ngọ hôm ấy, dựng đàn trà tì,
đồ chúng thu linh cốt của Sư xây tháp phụng thờ.
11-12. HAI THIỀN SƯ
BẢO TÍNH (?-1034), MINH TÂM
(?-1034)
Chùa Cảm Ứng, Ba Sơn, phủ Thiên
Đức. Đều là người Châu Minh, (1) Bảo Tính họ Nghiêm, Minh Tâm họ Phạm.
Thuở nhỏ cùng sớm xuất gia, là bạn đồng chí.
Lúc đầu, cùng với thiền sư Viên
Chiếu, đều thờ Định Hương thượng nhân, sâu hiểu chỗ cốt tủy của Hương. Về
sau mỗi người mang tâm ấn, tùy phương giáo hóa, nổi tiếng là bậc thượng
thủ của tòng lâm. Viên Chiếu thường có ca, thơ gửi tặng Bảo Tính ngợi khen
cái chí hướng cao thư