Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Lịch Sử Phật Giáo


...... ... .


TỔNG TẬP

VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 Lê Mạnh Thát

---o0o---

 

Tập III

=================

 

PHẦN II 

BẢN DỊCH THIỀN UYỂN TẬP ANH

 

 

 (1a1)  BÀI TỰA IN LẠI THIỀN UYỂN TẬP ANH 

Thiền uyển tập anh, sao dùng nghĩa đó? Xin thưa, dùng sự anh tú của nó làm nghĩa vậy.

Sao thế ? 

Người theo thiền tông cố nhiên là nhiều, nhưng kẻ biết lẽ huyền thật ra lại hiếm; Chính như một con phụng giữa bầy gà, một cây lan trong đám cỏ. Nếu chẳng phải phú bẩm anh dị, tri kiến siêu quần, làm sao thấu được ý chỉ huyền vi, để có thể làm lãnh tụ cho kẻ hậu học và mô thức cho người đời sau? 

Đáng tin thay! Trong vườn Thiền, người anh kỳ là hiếm, nhân đấy trích lấy những bậc danh công, thạc đức để làm tỏ sự tổ thuật của thiền học. Nên cái nghĩa của Tập anh chính do đó mà có tên. 

Kể từ hỗn độn bắt đầu, bấy giờ có Phật Uy Âm xuất thế (1), sáng làm tị tổ của thiền tông. Nhưng thời ấy, tục còn thuần hậu, người nhiều chất phác, kinh giáo ở tại hư không (1b1), không cần nói ra để làm máy hóa độ. Kẻ nào lấy ma làm Phật kẻ đó trá ngụy ngày càng sinh, gian dâm ngày càng dấy, nghiệp nợ kết đầy, chướng tội thêm thẳm. Nếu chẳng dùng đến thuyền từ cứu vớt, thì chẳng thể được. 

Cho nên cha cả Thích Ca xuất hiện ở Ta bà (2), vì họ mà nói ra kinh kệ, dạy dỗ chúng sanh, chín kiếp vượt tu (3), công thành quả mãn. Do thế, Phật giáo đại hành, thiền tông tiếp nối, như gió thổi qua sáu nẻo (4), để đem mát lành, tuyết rơi trên ba đường (5) để dẹp nóng dữ. Bí quyết thành Phật làm Tổ, từ đó mới mở được mối manh. 

Nước Đại Việt ta, lời Phật thấm nhuần khắp cả, mưa pháp sóng gội nhiều nơi, cắt tóc xuất gia, chứng ấn ngộ không thì cũng có người. Về hành tích, lòng thiền họ sáng như mặt trời, gương đạo trong như băng giá. Có người ra đời để giúp nước an dân, có kẻ nhập thế để đỡ ngã, vớt chìm. Có người sớm ngộ ấn tâm, chống gậy làm thần diệu cơ mầu của Đạt Mạï (6) (2a1). Có kẻ muộn vào cửa thiền, chú sen (7) khiến hiển hiện bí quyết của Đồ Trừng. Còn những kẻ, chim rừng chuộng niềm đức, nghe kinh trong cửa, dã thú mến lòng nhân, cửa bếp dâng cơm. Đó là lòng thành cảm cách đã hiệp, chỗ học thần hóa được xong, há chẳng là sự mầu nhiệm của bốn mắt nhìn nhau ư! Thật đã đủ để làm bậc anh tú trong vườn thiền vậy. 

Ôi! Phật đạo chí huyền, mà lòng lại huyền ở trong huyền. (8) Phật đạo rất lớn mà lòng lại lớn ở trong lớn. Lòng ư! Lòng ư! Nó là cái chủ tể của sự tu đạo ư! 

Một sách Thiền uyển này, bắt đầu từ việc thiền sư Vô Ngôn Thông truyền đạo, đèn đèn nối nhau, ánh ánh huy hoàng, song rút gọn lời dài, làm ngắn chuyện rộng thì cũng đều cái lòng ấy là Chánh giác vô thượng vậy. Xét nguyên do nó, nếu chẳng phải gột rửa sáu trần, rời bỏ bốn tướng (9) mà có thể được như thế sao ? 

Tôi ròng học sách Nho, xem (2b1) thêm kinh Phật, xét về lý hữu vô của chúng, tuy nói là hai đường, nhưng khảo về chỗ quy kỉnh thì tợ cùng một lẽ. Nhân khi rảnh rỗi giảng dạy ở trường (10), gặp một bạn thiền đến bàn lời Phật, đối thoại hồi lâu, là những vấn đề lông rùa sừng thỏ. Y nhân đó lấy ra từ trong tay áo, có Tập anh một tập nhờ tôi chỉnh cú, để tiện in lại, nhằm khỏi sai lầm. Tôi xem trong sách ấy có nhiều cao thiền, danh tổ, học tu hết sức, chứng ngộ rất thiêng, bất giác trong lòng vừa kính vừa phục. Họ bàn không, nói giác, đấy đương nhiên không phải nằm trong phần việc của tôi. 

Nhưng kinh Dịch có nói: “Trẻ nhỏ cầu ta” (11). Cho nên, tôi không thể không theo lời xin của Y để sửa lại những chữ thiếu và mất, thêm vào những chỗ sót và thoát lạc. Trong khoảng tuần nhật, lời văn nghĩa lý của sách này rõ ràng trở lại như xưa, không kém gì ánh trăng thêm sáng. Y nhân đó xin tôi một bài tựa dùng để khắc vào đầu sách, nhằm hiển dương Phật giáo (3a1). Tôi không tiếc công, cho gọi đứa ở đến trước mặt, bảo lấy bút giấy, chuẩn bị viết lách, rồi thảo một thiên lời quê. Y nhân đó vái chào mà nhận. Cẩn tự. 

In lại vào ngày tốt tháng tư năm Lê Vĩnh Thạnh thứ 11 (1715). 

 (3b1) Thác tích của thiền tông: Thích tử Như Trí 

Môn đồ:         

Sa di Tính Nhu          

Thiện nam tử   Tính Phận             

Tính Xuyến

Tính Thành

Tính Trung

Tính Từ

Tính Huy

Tính Hưng

Tính Kiến

Tính Minh

Tính Bổn

Tính Băng

Tính Phụng

Thiện nữ nhân: hiệu Diệu Tặng     

hiệu Diệu Đạo

Tính Phụng

(4a1)  THIỀN UYỂN TẬP ANH NGỮ LỤC

QUYỂN THƯỢNG 

1.  THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG (1) (759? - 826)

Chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên Du (2). Sư vốn người Quảng Châu, họ Trịnh, nhỏ đã mộ đạo, không màng gia sản, đến thọ nghiệp tại chùa Song Lâm ở Vụ Châu (3). Tính tình trầm hậu, ít nói, im lặng mà biết, rõ hiểu mọi việc một cách tổng quát. Cho nên, người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông*.

Một hôm vào lúc Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi: “Tọa chủ lễ cái gì đó?”

Sư đáp: “Lễ Phật”.

Thiền khách chỉ tượng Phật hỏi: “Cái này là cái gì?”

Sư không đáp được. Đêm đó Sư y phục nghiêm chỉnh đến lạy thiền khách, thưa rằng: “Điều ngài hỏi khi nãy tôi chưa biết ý chỉ như thế nào?”

Thiền khách hỏi: “Tọa chủ xuất gia đến nay trải được mấy hạ?”

Sư thưa: “Mười hạ”

Thiền khách hỏi: “Lại từng xuất gia chưa?”

Sư trở thành hoang mang.

Thiền khách bảo: “Nếu không hiểu điều đó, thì dù có trăm hạ cũng chẳng ích gì!”

Rồi ban đêm Sư cùng đến tham vấn Mã Tổ (5). Đi đến Giang Tây (6), thì Tổ đã tịch (4b1), bèn đến yết kiến thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (7).

Bấy giờ có vị tăng hỏi: “Thế nào là pháp môn  đốn ngộ của Đại thừa?”

Bách Trượng đáp: “Đất lòng nếu không, trời tuệ tự chiếu (8)”

Nghe xong Sư tỉnh ngộ.

Trở về Quảng Châu, trụ trì chùa Hòa An. Có người hỏi: “Thầy phải là thiền sư chăng?”

Sư đáp: “Bần đạo không từng học thiền”.

Chặp lâu, Sư gọi. Người đó đáp: “Dạ”.

Sư chỉ cây soan. Người đó không trả lời.

Thiền sư Ngưỡng Sơn (9), khi còn là Sa di. Có lần Sư gọi: “Tịch con, đem cái giường lại đây cho ta”. Ngưỡng Sơn đem giường đến. Sư bảo: “Trả lại chỗ cũ”. Ngưỡng Sơn vâng theo.

Sư lại hỏi: “Tịch, bên này có cái gì?”.

Đáp:  “Không có vật”.

Hỏi:  “Còn bên kia?”

Đáp:  “Không có vật”.

Sư lại hỏi: “Tịch con!”.

Ngưỡng Sơn thưa: “Dạ”.

Sư bảo:  “Đi đi”.

Tháng chín, mùa thu năm Canh Tý Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820), Sư đến trác tích chùa đấy (10). Ngoài việc cơm cháo, vui cái vui thiền, thường ngồi quay mặt vào vách, chưa từng nói năng, nhiều năm mà không ai biết. Chỉ có thầy Cảm Thành chùa đó (5a1) càng tôn kính, hầu hạ hai bên, thầm nấu huyền cơ, được hết yếu chỉ.

Một hôm Sư không bệnh, tắm rửa, thay y phục, gọi Cảm Thành đến bảo: “Xưa, Tổ ta là Nam Nhạc Nhượng thiền sư (11), khi quy tịch, có dạy:

“Tất cả các pháp

Đều từ tâm sinh

Tâm không chỗ sinh

Pháp không chỗ trụ

Nếu đạt tâm địa

Chỗ làm không ngại

Chẳng gặp thượng căn

Cẩn thận chớ nói” (12).

Dạy xong, Sư chắp tay mà mất. Cảm Thành làm lễ trà tì thu xá lợi (13), dựng tháp tại núi Tiên Du. Bấy giờ là nhằm ngày 12 tháng giêng năm Bính Ngọ Đường Bảo Lịch thứ 2 (826), thọ sáu mươi tám tuổi (14).

Đến năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337) phàm có 512 năm (15). Thiền học nước Việt ta bắt đầu từ Sư vậy (16).

Pháp tự của thiền sư (Vô Ngôn) Thông ở Kiến Sơ.

 

THẾ HỆ THỨ NHẤT ( MỘT NGƯỜI)

2. THIỀN SƯ CẢM THÀNH  (?- 860)

Chùa Kiến Sơ, đời thứ 2, Người Tiên Du, họ Thị (1). Ban đầu Sư (5b1) xuất gia, tên đạo là Lập Đức, ở tại núi Tiên Du (2) của quận mình. Sư lấy việc đọc kinh làm sự nghiệp. Có hương hào họ Nguyễn mến Sư đức hạnh cao cả, muốn đổi nhà làm chùa mời Sư tới ở, bèn đến lấy tình mời Sư, Sư chẳng chịu nhận. Ban đêm mộng thấy thần nhân mách: “Nếu theo ý của Nguyễn, thì chẳng mấy năm sẽ được điều lành lớn”, bèn đáp lại lời mời.*

Chẳng bao lâu thì thiền sư Vô Ngôn Thông đến. Sư biết Thông là người phi thường, sớm hôm phục dịch, chưa từng biếng nhác. Thông cảm động trước lòng thành của Sư, bèn đặt tên là Cảm Thành. Một hôm, Thông gọi Sư đến dạy: “Xưa, Đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn, mà xuất hiện ở đời (3), hóa duyên xong xuôi, ngài vào niết bàn. Chân tâm vi diệu như thế gọi là chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng, tam muội pháp môn, chính ngài tự thân trao cho đệ tử là tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ (4), đời đời truyền nhau, đến đại sư Đạt Mạ từ Ấn độ sang, lặn lội hiểm nguy, để truyền pháp này cho đến Lục Tổ Tào Khê, đắc pháp với Ngũ Tổ. Khi Đạt Mạ (6a1) mới đến, vì người đời chưa biết tin, nên lấy sự truyền y để làm rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi, thì y bát là đầu mối của tranh chấp, phải dừng lại ở nơi ông, không nên truyền nữa (5). Từ đó, lấy tâm truyền tâm, không nhận y bát. Bấy giờ Nam Nhạc Nhượng đầu tiên được tâm truyền, rồi Nhượng trao cho Mã Tổ Nhất, Nhất lại trao cho Bách Trượng Hải (6). Ta nhờ ở Bách Trượng mà được tâm pháp đó. Lâu nghe phương này, nhiều người hâm mộ Đại thừa, nên ta xuôi Nam để tìm thiện tri thức. Nay gặp được ngươi, ấy bởi duyên xưa, nghe ta nói kệ:

Các phương đồn đãi

Dối tự rao truyền

Rằng thủy tổ ta

Chính tự Tây Thiên

Truyền Pháp nhãn tạng

Gọi đấy là Thiền

Một hoa năm cánh (7)

Hạt giống liên miên

Ngầm hợp mật ngữ

Muôn vàn có duyên (8)

Tâm tông đều gọi

Thanh tịnh bản nhiên

Tây Thiên đất này

Đất này Tây Thiên

Xưa nay nhật nguyệt

Xưa nay sơn xuyên

Đụng đâu cũng vướng (9)

Phật tổ thành oan

Sai một mảy may

Đi mất trăm ngàn

Ngươi khéo xem xét

Chớ lừa cháu con

Dẫu có hỏi ta

Ta vốn Vô Ngôn (10)

(6b1) Nghe xong lời đó, Sư liền lĩnh ngộ.

Một lần có vị Tăng hỏi: “Thế nào là Phật?”

Sư đáp:        “Khắp hết mọi nơi”.

Lại hỏi:        “Thế nào là tâm Phật?”

Sư đáp :        “Chẳng từng che dấu”.

Lại thưa:        “Người học không hiểu”.

Sư bảo:        “Đi quá xa rồi”.

Về sau, Sư không bệnh mà mất. Bấy giờ là năm Canh Thìn Đường Hàm Thông thứ nhất (860).

THẾ HỆ THỨ HAI  (MỘT NGƯỜI) 

3. THIỀN SƯ THIỆN HỘI (?- 901) 

 Chùa Định Thiền (1) làng Siêu Loại (2). Người Điển Lãnh (3). Lúc nhỏ xuất gia  với sư Tiệm Nguyên chùa Đông Lâm (4) cùng làng, tự gọi là Tổ Phong. Sư rảo khắp cõi ngoài, cầu học Thiền chỉ. Sau gặp Cảm Thành chùa Kiến Sơ, bèn xin ở lại hầu hạ hơn mười năm, không chút vẻ mệt. Một hôm Sư vào thất hỏi: “Trong kinh (5) nói:” Đức Thích Ca Như Lai, nhân địa tu hành trải qua ba a tăng kỳ kiếp mới được thành Phật” (6). Nay Đại đức lại luôn luôn bảo: “Tức tâm tức Phật”. Tôi thật chưa hiểu, xin một phen khai thị cho”. 

 (7a1) Thành hỏi: “Trong kinh đó là người nào nói?” 

Sư thưa: “Há chẳng phải Phật nói sao?”. 

 (7a1) Thành hỏi: “Nếu là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thù bảo: “Ta ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ cho ai”. (7) Vả lại cổ đức nói: “Người tìm văn lấyng thì thêm vướng mắt. Người khổ hạnh cầu Phật thì đều lầm mê. Lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo. Chấp tâm tức Phật là ma”. (8) 

Sư hỏi: “Như vậy tâm nầy là cái gì? Cái chẳng phải Phật là gì?”. 

Sư tiếp: “Như vậy tâm nầy là Phật gì?” 

Thành đáp: “Xưa có người ở Mã Tổ hỏi: “Tâm tức là Phật, cái nào là Phật?” Mã Tổ dạy: “Ông nghi cái nào không phải là Phật hãy chỉ ra xem?”. Người ấy không trả lời. Tổ dạy: “Hiểu được khắp nơi có, không ngộ mãi xa sai” (9). Chỉ một câu thoại đầu nầy, ngươi lại hiểu chưa?”. 

Nghe lời đó xong, Sư thưa: “Con đã hiểu rồi”. 

Thành hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”. 

Sư thưa: “Khắp cả mọi nơi, không chỗ nào là chẳng phải tâm Phật”. 

Sư liền sụp xuống lạy. 

Thành bảo: “Cần (7b1) phải làm thế a?” 

Nhân đó đặt tên là Thiện Hội. Về sau, Sư mất tại chùa mình, tức năm Canh Thân Đường Quang Hóa thứ 3 (900). 

 

 THẾ HỆ THỨ BA (MỘT NGƯỜI) 

4. THIỀN SƯ VÂN PHONG  (? - 957) [20] 

Chùa Khai Quốc (1), kinh đô Thăng Long, người Từ Liêm, quận Vĩnh Khương (2), họ Nguyễn. Khi mẹ mang thai, bà ăn chay, tụng kinh, lúc sinh có ánh sáng lạ chiếu khắp nhà. Cha mẹ thấy điềm lạ, nên hứa cho xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu Thiện Hội ở Siêu Loại làm đệ tử nhập thất (3), lặng nắm huyền chỉ, thiền học ngày thêm. Hội có lần bảo Sư: “Sống chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay”. 

Sư hỏi: “Khi sống chết đến, làm sao tránh khỏi?” 

Hội đáp: “Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh”. 

Sư hỏi: “Thế nào là chỗ không sống chết?”. 

Hội đáp: “Ngay trong sống chết biết nắm lấy nó mới được”. 

Sư hỏi: “Làm sao mà biết?”. 

Hội đáp: “Ngươi hãy đi, chiều muộn sẽ đến”. 

Sư bèn (8a1) quả đến, như đã hẹn, Hội bảo: “Đợi đến sáng mai mọi người sẽ chứng minh cho ngươi”. 

Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền sụp lạy. 

Hội hỏi: “Ngươi thấy đạo lý gì?” 

Sư thưa: “Con đã lĩnh hội”. 

Hội hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”. 

Sư đưa nắm tay lên, thưa: “Bất tiếu là cái này đây”. 

Hội liền bảo thôi. 

Về sau, Sư mất vào năm Bính Thìn Hậu Chu Hiển Đức thứ 3 (950). 

 

THẾ HỆ THỨ TƯ (HAI NGƯỜI, MỘT NGƯỜI KHUYẾT)

5.        ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT  [21](930-1011) 

Chùa Phật Đà, hương Cát Lợi, Thường Lạc (1). Người Cát Lợi, họ Ngô, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế. Tướng mạo khôi ngô, chí chuộng phóng khoáng, nhỏ theo học Nho, lớn lên quy y Phật. Sư cùng bạn học Trụ Trì đến Vân Phong chùa Khai Quốc, thọ giới Cụ túc (2). Từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền. Năm bốn mươi tuổi, tiếng vang tới triều, vua Đinh Tiên Hoàng mời đến, Sư đối đáp hiệp ý vua, bèn phong làm Tăng thống (3). Năm Thái Bình thứ hai (971), vua ban hiệu Khuông Việt đại sư (4). 

Hoàng đế Lê Đại Hành càng kính trọng Sư hơn, phàm việc quân, việc nước ở triều đình, Sư đều dự vào. 

Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh (5) ở quận Bình Lỗ, (6) thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở. Đêm tới nằm mộng thấy một vị thần, mình mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương vàng, tay phải đỡ bảo tháp, hơn mười người theo hầu, tướng mạo dễ sợ, đến nói rằng: “Ta là Tỳ Sa Môn thiên vương (7), những người theo ta là Dạ xoa (7). Thiên đế (7) có sắc sai ta đến nước này để giữẵ gìn biên giới, khiến cho Phật pháp thịnh hành. Ta có duyên với ông, nên đến đây báo cho biết”. Sư kinh ngạc thức dậy, nghe trong núi có tiếng kêu la ầm ĩ, lòng rất lấy làm lạ. Đến sáng Sư vào núi, thấy một cây to, cao khoảng mười trượng, cành lá sum sê, bên trên lại có mây lành bao phủ, nhân đó sai thợ đến chặt. Đem về, khắc tượng như đã thấy trong mộng, để thờ. 

Năm Thiên Phúc thứ 1 (980), binh Tống đến cướp. Vua vốn biết việc đó, liền sai Sư đến đền cầu đảo. Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh (8), lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn (9a1) tan vỡ (9). 

Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), người Tống là Nguyễn Giác sang sứ. Bấy giờ Pháp sư Đỗ Thuận cũng nổi danh. Vua sai Pháp sư đổi áo làm giang lệnh, đón Giác ở Giang Khúc. Giác thấy sư giỏi bàn văn chương, bèn đem thơ tặng, có câu: “Ngoài trời lại có trời soi rạng”. Vua đưa hỏi Sư. Sư thưa rằng: “Đây nó tôn kính Bệ hạ cùng với chúa nó không khác”. Khi Giác trở về, Sư làm một bài từ nhan đề Vương lang qui (10), để tiễn đưa. Bài từ như sau: 

Trời lành gió thuận, gấm buồm dương 

Thần tiên về đế hương 

Muôn tầng vạn dặm vượt trùng dương 

Đường về thẳm chín tầng 

 Tình lưu luyến chén lên đường 

Bịn rịn sứ tinh lang 

Nguyện đem thâm ý vì Nam bang

 Phân minh tâu thánh hoàng (11). 

Sau, Sư lấy cớ già yếu, xin từ quan về núi Du Hý ở quận mình (12), lập chùa trụ trì; người học tìm tới đông đảo. Một hôm, đệ tử nhập thất là Đa Bảo hỏi: “Thế nào là chung thủy của sự học đạo”. 

Sư đáp: “Thủy chung không vật, diệu hư không 

Hiểu được chân như , thể tự đồng”. 

Bảo tiếp: “Làm sao giữ được?”. 

Sư đáp: “Không có chỗ cho người xuống tay”.  

 (9b1) Bảo lại hỏi: “Hòa thượng nói xong rồi?”. 

Sư nói: “Ông làm sao hiểu”. 

Bảo bèn hét lên. 

Ngày 15 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) triều Lý, khi sắp cáo tịch, Sư dạy Đa Bảo bài kệ: 

Trong cây vốn có lửa 

Có lửa, lửa mới bừng

Nếu bảo vốn không lửa

Cọ xát do đâu bùng.

Nói kệ xong, Sư ngồi kiết già mà mất, thọ 82 tuổi [22](13).

 

THẾ HỆ THỨ NĂM (HAI NGƯỜI, KHUYẾT MỘT) 

6. THIỀN SƯ ĐA BẢO 

Chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Tiên Du. Không biết người đâu, và cũng không biết họ gì. Khi đại sư Khuông Việt giảng dạy tại chùa Khai Quốc, Sư đến tham học. Đại sư khen là người gặp việc thì chóng hiểu, xử sự cẩn thận, nên riêng cho nhập thất. 

Sau khi đắc pháp, Sư chỉ một bình một bát, tiêu dao ngoài vật. Sau được chùa Kiến Sơ, bèn đến ở đó. Lý Thái Tổ lúc chưa lên ngôi, Sư thấy tướng mạo anh tuấn khác thường, bèn bảo “chú này cốt tướng khác phàm, ngày kia làm vua ắt là nó đây”. Vua cả kinh, thưa: “Hiện nay (10a1) đức thánh thượng anh minh còn đó, trong ngoài cả nước an vui, Thầy ta sao lại nói lời phải tội tru di nầy?”. 

Sư bảo: “Mệnh trời đã định, người dù muốn trốn cũng chẳng được nào. Giả như lời này mà đúng, thì mong chớ bỏ nhau”. 

Khi Vua lên ngôi, nhiều lần triệu Sư vào cung, hỏi bàn yếu chỉ của Thiền và lễ Sư rất hậu. Cả đến công việc chính trị của triều đình, Sư đều dự phần giải quyết. Vua xuống chiếu trùng tu chùa Sư (1). Sau không biết Sư tịch ở đâu. 

THẾ HỆ THỨ SÁU (BA NGƯỜI, MỘT NGƯỜI KHUYẾT LỤC) 

6.  TRƯỞNG LÃO ĐỊNG HƯƠNG (?-1051) 

Chùa Cảm Ứng, Ba Sơn (1), phủ Thiên Đức (2), Sư họ Lã, người Châu Minh (3), gia thế dòng tịnh hạnh. Thuở nhỏ thọ giáo với thiền sư Đa Bảo tại chùa Kiến Sơ. Trải qua 24 năm, môn đồ của Bảo hơn trăm người, chỉ có Sư cùng với Quốc Bảo Hòa được chọn đứng đầu, nhưng Sư rất được tôn chỉ của Bảo. 

Một hôm Sư hỏi Bảo: “Làm thế nào được thấy chân tâm?” 

Bảo dạy: “Chính ngươi tự phát hiện”. 

Sư bỗng nhiên hiểu được yếu chỉ, liền thưa: “Hết thảy đều như thế, chứ có riêng gì tôi”. 

Bảo hỏi: “Ngươi đã hiểu chưa?” 

Sư đáp: “Khi đệ tử hiểu rồi, cũng giống như lúc không hiểu” (4). 

Bảo dạy: “Nên đem tâm đó mà quyết chắc”. 

Sư bưng tai, đứng quay lưng lại. Bảo liền quát “Đi”. Sư sụp lạy. 

Bảo dạy: “Từ nay ngươi hãy như một kẻ đui điếc trong việc tiếp người”. 

Đô tướng thành hoàng sứ là Nguyễn Tuân khâm phục tài đức của Sư, nên mời về chùa đó ở. Người học vân tập, dạy dỗ dắt dìu, công Sư không ít. 

Ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần (5) Sùng Hưng Đại Bảo thứ 2 (1050) triều Lý Thái Tông, Sư nhuốm bịnh, họp chúng để từ biệt, đọc kệ : 

“Bản lai không xứ sở (6) 

Xứ sở ấy chân tông 

Chân tông huyễn như vậy 

Huyễn hữu tức không không” (7). 

Nói kệ xong, Sư lặng lẽ viên tịch. 

 

8. THIỀN SƯ THIỀN LÃO (1) 

Chùa Trùng Minh, núi Thiên Phúc, (2) Tiên Du. Ban đầu Sư đến tham bái Đa Bảo tại chùa Kiến Sơ, hiểu được tâm yếu rồi đến trác tích tại núi ấy (3). Gió thiền ngày càng nổi, kẻ học hàng nghìn, đông đảo làm cho tòng lâm thịnh vượng. 

Vào khoảng Thông Thụy (1034- 1038), Lý Thái Tông có lần đến (11a1) chùa và hỏi Sư rằng: ”Hòa thượng ở núi này đến nay được bao lâu?”. 

Sư đáp:

 “Chỉ biết tháng ngày nay 

Ai hay xuân thu trước” (4). 

Vua hỏi: “Hàng ngày làm việc gì?” 

Sư đáp:

“Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh ngoại (5) 

Trăng trong mây bạc hiện toàn chân”. 

Vua hỏi: “Có ý chỉ gì?” 

Sư đáp: “Lắm lời không ích về sau”. 

Vua hoát nhiên như có sở đắc. 

Khi sắp sai sứ rước Sư về triều làm cố vấn, thì Sư đã viên tịch trước đó (6). Vua rất buồn tiếc, làm thơ thương viếng sai trung sứ ban nhiều lễ hậu, lập đàn trà tỳ, thu linh cốt, xây tháp ở cửa núi, lại sửa sang rộng rãi chùa Sư, đặt môn đồ lo việc hương hỏa.

 

THẾ HỆ THỨ BẢY (BẢY NGƯỜI, KHUYẾT MỘT) 

9. THIỀN SƯ VIÊN CHIẾU (999-1090) 

Chùa Cát Tường, kinh đô Thăng Long, Sư họ Mai, tên Trực, người Long Đàm (1) Phúc Đường (2), là con anh bà Linh Cảm thái hậu nhà Lý (3). Thuở nhỏ thông minh hiếu học, nghe đồn vị trưởng lão tại chùa Mật Nghiêm (4) quận mình xem tướng giỏi, bèn đến xem thử cho biết. Vị trưởng lão nhìn kỹ (11a1) rồi bảo: “Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là người trong hàng thiện Bồ tát, bằng không thì việc thọ yểu khó bảo đảm”. Sư cảm ngộ, giã từ cha mẹ, đến núi Ba Tiêu theo học với Định Hương, hầu hạ nhiều năm, nghiên cứu Thiền học. Sư thường trì kinh Viên giác, rõ được phép Tam quán (5). Một tối trong lúc thiền định, Sư thấy Bồ tát Văn Thù cầm dao mổ bụng, rửa ruột rồi dùng thuốc rịt lại. Từ ấy, những gì đã học trong lòng, trở thành rõ ràng như từng biết (6), chứng sâu ngôn ngữ tam muội, (7) thuyết giảng lưu loát. Sau đó, Sư đến bên tả kinh thành dựng chùa để ở. Người học đổ về như rừng. 

Có tăng hỏi: “Phật với Thánh, nghĩa nó thế nào?”.

Sư đáp:

“Cúc trùng dương dưới dậu 

Oanh thục khí đầu cành (8)". 

Lại hỏi: “Cảm ơn, nhưng người học này không hiểu, xin thầy dạy lại”.

Sư đáp:   

“Ngày thì ác vàng dọi 

Đêm đến thỏ bạc soi”.

Tăng lại hỏi: “Chân ý thầy đã rõ máy huyền phải tỏ thế nào?”.

Sư đáp: 

“Bưng chậu nước đầy đi bất cẩn

Một phen vấp ngã hối mà chi?”. 

Vị tăng nói: “Cảm ơn thầy”. 

Sư chỉ nói:  

“Sóng sông chìm chớ tát 

(12 a1) Đem mình tự đắm thôi”. 

Lại hỏi: “Thiếu Thất, Ma Kiệt rất huyền, từ xưa đến nay, ai nối nhau làm chủ?” (9). 

Sư đáp:   

 “Sáng tối tượng trời do quạ thỏ 

Lõm lồi hình đất nọ núi sông” (10). 

Lại hỏi: “Thế nào là căn nguyên đại đạo thẳng đường đi?”. 

Sư đáp:       

 “Gió lộng bờ cao hay cỏ cứng 

Nhà tan nước mất biết trung lương” (11).

 

Lại hỏi:  “Tất cả chúng sanh từ đâu mà đến? Trăm năm sau sẽ về đâu?”.

Sư đáp: 

“Rùa đui chui vách đá 

Trạch què bò núi cao”. 

Lại hỏi: “Xanh xanh trúc biếc thảy chân như (12). Thế nào là dụng của chân như?”. 

Sư đáp:        

“Tặng anh ngàn dặm xa,

Cười mang trà một bình (13) ”.

Tăng thưa:         “Đến suông có ích gì là sao?” (14). 

Sư đáp:         

“Ai biết đi Đông a

  Nửa đường đầu đã bạc” (15) . 

Lại hỏi:        

 “Dã hiên một cửa vắng 

  Thong thả gõ ai hay (16). 

Sư đáp: 

“Kim cốc đìu hiu hoa cỏ rối

Mà nay hôm sớm thả trâu dê”. 

Tăng thưa: “Vì sao như vậy?”. 

Sư đáp:

 “Giàu sang cùng kiêu thái

 Lầu chợ khiến tan hoang” (17). 

Lại hỏi:    “Long nữ (12b1) dâng châu thành Phật quả, đàn na bố thí phước ra sao” (18). 

Sư đáp: 

 “Trong trăng quế muôn thuở

Rậm, thưa vẫn một vành”.

Tăng thưa: “Nhọc mà vô ích là sao?” (19). 

Sư đáp:

 “Như gương treo trên trời  

Nhân gian soi khắp nơi”. 

Lại hỏi:

 “Qua sông phải dùng bè

 Đến bến hết cần ghe

 Khi không qua sông thì sao?” (20). 

Sư đáp:                     

 “Ao khô cá lên cạn

Sống cả vạn năm xuân”. 

Tăng thưa: “Thế nào là “theo dòng mới đạt được Diệu lý?” (21). 

Sư đáp:   

 “Nghe nói bạn Kinh Kha

Một đi không trở lại” (22) . 

Lại hỏi: 

 “Lẫn lộn quặng vàng cùng một chất

 Xin thầy phương tiện luyện tinh ròng” (23)  

Sư đáp: 

 “Không phải khách Tề quân

 Sao biết biển cá lớn!“ (24). 

Tăng thưa:                       

 “Quách quân nếu không nhận 

 Can gián chẳng làm chi” (25).

 Sư đáp: 

“Nếu muốn bưng uống trước

Vẽ rắn khéo hãy thôi” (26). 

Lại hỏi:  

 “Rắn chết giữa đường

Xin thầy cứu sống” (27).

Sư đáp: 

 “Ngươi là người phương nào?”. 

Tăng đáp:   “Vốn người ở núi”.

Sư dạy:  

 “Mau về (13a1) non cũ ẩn

Chớ gặp Hứa Chân Quân” (28). 

Lại hỏi: 

“Hải tạng mênh mông không nên hỏi

  Tào Khê từng giọt nghĩa ra sao?” (29). 

Sư đáp:

“Rừng tùng tiếng gió thê lương thổi,

Mưa tạnh bùn nhơ ngập lối đi”. 

Tăng thưa: “Không khác với ngày nay, là thế nào?”(30) 

Sư đáp:

“Cúc trùng dương dưới giậu

 Oanh ngày nắng đầu cành”.

Lại hỏi:

“Sờ sờ ở khoảng mắt lòng 

Rành rành trong chốn sắc thân 

Nhưng lý không thể phân

Tướng không thể thấy

Vì sao không thấy được?” (31).

Sư đáp:

“Trong vườn hoa rực rỡ

Trên bờ cỏ tràn lan”.

Tăng thưa:

 “Năm lạnh mầm non rụng

Lấy gì để thưởng công”.

Sư đáp:

“Mừng cho ông tự rõ

Sung sướng biết chừng nào!”.

Tăng thưa:

“Hôm nay, may nghe giải

Từ đây hết hoang mang”.

Sư dạy:

“Đắm cạn vừa vớt ra

Ngoảnh đầu đầm muôn trượng”.

Lại hỏi: “Trong thành niết bàn vẫn còn nguy hiểm (32). Thế nào là chỗ không nguy hiểm?”.

Sư đáp:

”Trên rèm che làm tổ             

Cành lau xõa tóc mai.

 Tăng thưa:

“Nếu gặp lúc cấp bách

Đôi đường xử lẽ nào?”.

(13b1) Sư đáp:

“Trượng phu theo phóng khoáng

Trăng gió hãy vui chơi” (33).

Lại hỏi: “Hết thảy chúng sanh đều bảo là Phật, lẽ ấy chưa tường, mong thầy chỉ dạy?”.

Sư đáp:

“Nông trang hãy gắng khuyên anh thế

Đợi thỏ người kia chớ nhọc theo” (34).

Tăng thưa:

“May được thầy chỉ rõ

Trọn chẳng đến ai tìm”.

Sư dạy:

“Khá thương một lần nghẹn

Ngồi đói trót quên ăn”.

Lại hỏi:

“Bao năm dồn chứa ngọc trong túi

Tận mặt hôm nay thấy rõ rành (35)”.

Sư đáp :

“Trăng trung thu chờ mãi

Gặp phải mây mưa xông” (36).

Tăng thưa:

“Tuy nghe thầy dạy bảo

Lý đó vẫn chưa thông”.

Sư dạy:

“Cười người suông ôm cột

Chết đuối nhắm giữa dòng!” (37).

Tăng hỏi: “Thế nào là một phái?” (38).

Sư đáp: 

“Vừa thấy xuân gieo và hạ lớn

Gặp ngay thu chín với đông thâu”.

Tăng thưa:“Thành Phật nhiều thế là sao?”.

Sư đáp:

“Tổ Long thôi nghĩ chạy

Từ Phúc luống đường xa“ (39).

Tăng hỏi:

“Kiến tính thành Phật, nghĩa ấy thế nào?”.

Sư đáp:“Xuân đến cây khô hoa đua nở

Gió đưa ngàn dặm nức (14a1) hương thần” (40).

Tăng thưa:“Học nhân không hiểu, xin thầy dạy lại”.

 Sư đáp:“Muôn năm cây cà ấy,

 Xanh ngát tận chân mây”.

 Lại hỏi:“Ma ni cùng các sắc

 Chẳng hợp chẳng phân ly” (41). 

Sư đáp:       

 “Hoa xuân cùng bươm bướm 

Lúc luyến lúc ruồng nhau”. 

Tăng hỏi:   “Theo người xen lẫn là sao”. 

Sư đáp:  

“Chẳng phải mắt Hồ tăng (42) 

Uổng công dâng ngọc Biện” (43). 

Lại hỏi:  “Thế nào là chạm mắt là bồ đề?” (44). 

Sư đáp: 

“Cây cong chim mãi sợ 

Dưa nguội người thổi hoài”. 

Tăng thưa: “Học nhân không hiểu, xin thầy cho ví dụ  khác”. 

Sư đáp:  “Kẻ điếc nghe tiếng đàn 

Người mù ngắm bóng trăng”. 

Lại hỏi: 

“Vốn đã có hình thêm có ảnh 

Có lúc ảnh cũng lìa hình sao?” 

Sư đáp: “Trăm sông đổ về đông kìa, muôn dòng đua chảy.

Ngàn sao chầu Bắc đẩu kìa, thiên cổ quy tâm”. 

Lại hỏi: “Thế nào là một câu tỏ ngộ, vượt muôn ngàn?” (45). 

Sư đáp:  “Xa kẹp Thái sơn qua biển Bắc

Ngửa quăng gậy chống vào cung trăng”. 

Lại hỏi: “Chỉ một sự này thật, (14b1) Còn hai chẳng  phải chân (46) Thế thì, chân là gì?”. 

Sư đáp:  “Gió dễ lay đầu gậy

Mưa thành nẩy trên đường”. 

Lại hỏi: 

“Không nhắm Như Lai xin Diệu  tạng 

Không mong lửa tổ nối đèn chong 

Ý chỉ rốt ráo thế nào?”. 

Sư đáp : 

 “Trời thu lúa xào xạt 

Cảnh tuyết mẫu đơn cười”. 

Lại hỏi: “Thế nào là câu tối diệu?” 

Sư đáp:  “Một người ngoảnh mặt khóc 

Cả tiệc uống không vui”. 

Lại hỏi: 

“Xưa nay việc lớn xin không hỏi 

Điểm lạ Tây lai ý thế nào?” (47). 

Sư đáp: 

“Kẻ khéo lời đẹp mặt (48)  

Phường đập ngói hong rùa”.

Lại hỏi:“Tâm, pháp đều quên, thì tính tức chân (49) Thế nào là chân ?”. 

Sư đáp:  “Đàn Bá Nha gió khua sân trúc (50) 

Lệ Nữ Thần mưa rắc hoa non (51). 

 Lại hỏi:“Thế nào là câu tối diệu?”.

Sư đáp: “Yết hầu còn mắc nghẹn

Yên ở chẳng vui gì“.

Lại hỏi: “Có tu có chứng, khơi bốn bệnh (52)

 Ló đầu sao được thoát hồng trần”. 

Sư đáp: “Núi cao chất ngất dung muôn vật 

Biển rộng bao la chứa vạn sông”. 

Lại hỏi:  “Chỉ có Phật với Phật mới biết (15a1) việc đó (53) Thế thì việc đó là thế nào?”.

Sư đáp:  

 “Đường hẹp chi chít trúc 

Gió thổi nhạc tự thành”. 

Lại hỏi: “Chẳng cần bình thường, chẳng cần thiên nhiên, chẳng cần  tác dụng, thì nay làm gì đây?”.

Sư đáp:        

“Cỏ bồng én đậu thấp 

Biển rộng ẩn cá lân”. 

Lại hỏi: 

“Tứ đại mang về từ nhiều kiếp 

Xin thầy phương tiện thoát luân hồi”. 

Sư đáp:  

 “Loài thú trên đời Tê là quý  

Nó ăn gai góc mẹp bùn nhơ” (54). 

Lại hỏi: “Mọi thứ thủ, xả đều luân hồi, không thủ không xả thời thế nào?” (55). 

Sư đáp: 

“Giềng hồng đẹp đẽ xưa nay vậy 

Có lá sum sê chẳng có hoa”. 

Lại hỏi:  

“Dứt hết nói năng ý ấy thế nào?” (56). 

Sư đáp: 

 “Theo gió tiếng còi luồn bụi trúc 

Kèm trăng trái núi quá đầu tường”.

Lại hỏi: 

“Chư Phật thuyết pháp là để giáo hóa mọi loài, nếu hiểu được bản ý thì gọi là xuất thế, bản ý là gì?”. 

Sư đáp: 

“Xuân dệt hoa như gấm 

 Thu sang lá tựa vàng”. 

Lại hỏi:

“Thế nào là một đường nhắm thẳng?”(57) 

 Sư (15b1) đáp:

“Đông tây xe ngựa ruỗi

Hôm sớm bụi mờ bay”.

Lại hỏi: 

 “Có pháp, có tâm, sinh vọng thức

Làm sao tâm, pháp thảy tiêu vong?”.

Sư đáp: 

 “Ví được lá tùng xanh cao ngất 

Sá gì sương tuyết lả tả rơi”.

Lại hỏi:  

 “Ý tổ và ý kinh thế nào?”.

Sư đáp: 

  “Chống trượng lên mây khi thích chí

 Mệt buông rèm trúc ngủ giường tre”. 

Lại hỏi: 

 “Tổ tổ truyền nhau là truyền những gì?”.

Sư đáp:  

 “Đói đến tìm thức ăn 

Rét liền xin áo mặc” (58). 

Lại hỏi: 

“Thế nhân đều thuê nhà

Người dột ở đâu ta?”. 

Sư đáp: 

 “Vầng ô cùng ngọc thố

 Tròn khuyết dối nhọc chia”. 

Lại hỏi: 

Thế nào là con đường duy nhất đến Tào Khê?”. 

Sư đáp: 

 “Khá thương kẻ khắc thuyền (59) 

Rốt cuộc ý hoang mang”. 

Sư từng soạn Dược sư thập nhị nguyện văn (60). Vua Lý Nhân Tông lấy bản thảo của Sư, sai sứ đem sang Triết Tôn (61). Triết Tôn cho mời Pháp sư Cao tòa chùa Tướng quốc đến xem (62), xem xong liền chấp tay lạy, mà nói rằng: “Phương Nam có bậc Đại sĩ nhục thân ra đời, ấy là vị Pháp sư khéo giảng kinh điển vậy. (16a1) Bần đạo đâu có thể dám thêm bớt”. Nhân đó chép lại một bản, rồi giao trả bản cũ trả về. Sứ giả trở về thuật lại, vua rất khen thưởng. 

Vào một ngày tháng chín năm Canh Ngọ Quảng Hựu thứ sáu (1090), Sư không bệnh, gọi chúng đến dạy rằng: “Trong thân ta đây, thịt xương gân mạch, tứ đại giả hợp, đều có vô thường, ví như ngôi nhà kia khi đổ, cột kèo đều rơi. Cùng các con giã từ, hãy nghe bài kệ ta đây: 

 Thân như tường vách đổ xiêu rồi, 

Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi, 

Nêu rõ tâm không , không tướng sắc, 

Sắc không ẩn hiện mặc  xoay dời. 

Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch, thọ 92 tuổi đời, và 56 tuổi hạ (63). Có để lại Tán viên giác kinh, Thập nhị bồ tát hành tu chứng đạo trường và Tham đồ hiển  quyết một quyển (65) nay còn lưu hành ở đời (66).

 

10. THIỀN SƯ CỨU CHỈ 

Chùa Diên Linh, núi Long Đội (1), Yên Lãng (2). Người Phù đàm, Châu Minh (3), họ Đàm. Thuở nhỏ hiếu học, sách Nho, sách Phật, không thứ gì là không coi hết. Một hôm bèn ôm (16b1) sách than rằng: “Khổng Mặc chấp có, Trang Lão chấp không, sách vở của thế tục chẳng phải là phương giải thoát. Chỉ có Phật pháp không kể có, không, có thể rõ sanh tử, nhưng phải siêng năng giữ giới, tìm thiện tri thức ấn chứng cho mới được”. Nhân đó bỏ tục, đến chùa Cảm Ứng ở Ba Sơn thọ Cụ túc với Định Hương trưởng lão. Ngày cầu đạo, trưởng lão hỏi: “Thế nào là nghĩa của cứu cánh?” 

Sư đáp: “Chưa”. 

Sơn nói: “Ta với ngươi là nghĩa của cứu cánh rồi!”. 

Sư ngẫm nghĩ. 

Sơn nói: “Qua mất rồi”. 

Nhờ lời nói đấy, Sư rõ được yếu chỉ. Nhân đó lấy tên Cứu Chỉ. 

Sau Sư vào chùa Quang Minh ở núi Tiên Du, tu khổ hạnh đầu đà (4) sáu năm không bước chân xuống núi. Tiếng tăm giáo hóa của Sư vang đến tai vua. Vua Lý Thái Tông nhiều lần cho mời, Sư không đến, nên ba lần thân hành đến chùa Sư, lấy lời an ủi thăm hỏi. Thái sư Lương Văn Nhậm (5) cũng rất kính trọng. 

      Trong khoảng Long Thụy Thái Bình (1054-1058) Tể tướng Dương Đạo Gia đem chùa mình, mời Sư về trụ trì. Sư quyết từ không được, đành phải làm theo. Ngày Sư xuống núi (17a1) bèn nói với mọi người rằng: “Ta không trở lại đây nữa”. Chim muông trong rừng kêu thương ba tuần không dứt. 

Ở vừa ba năm, vào một ngày tháng, năm nào đó của niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), khi sắp thị tịch, Sư họp môn đồ dạy rằng: 

Tất cả pháp môn 

Vốn từ tính ngươi 

Tất cả pháp tính 

Vốn từ tâm ngươi 

Tâm, pháp như một 

Vốn chẳng hai pháp 

Phiền não trói buộc 

Tất cả đều không 

Phải quấy, tội phước 

Tất cả đều huyễn 

Không đâu chẳng quả, chẳng nhân 

Ở trong nghiệp không phân biệt 

Ở trong báo không phân biệt 

Nếu có phân biệt đối với nghiệp 

Thì không tự tại 

Tuy thấy tất cả pháp 

Mà không chỗ thấy 

Tuy biết tất cả pháp 

 Mà không chỗ biết 

Biết tất cả pháp 

Nhân duyên làm gốc 

Thấy tất cả pháp 

Chính chân làm tông 

Tuy nhiễm thực tế 

Hiểu rõ thế gian 

Đều như biến hóa 

Thấu rõ chúng sanh 

Chỉ là một pháp 

Không có hai pháp 

Không bỏ nghiệp cảnh 

Phương tiện thiện xảo 

Đối giới hữu vi 

Bày pháp hữu vi 

Mà không phân biệt 

 (17b1) Tướng của vô vi 

Vì muốn dứt trừ 

Vọng niệm so đo, 

Của ta ấy vậy. 

Rồi nói kệ rằng: 

Rõ biết thân tâm vốn lặng yên, 

Thần thông biến hóa hiện mọi tướng

 Hữu vi vô vi từ đây hiện 

Thế giới hà sa không thể lượng

Tuy dù biến khắp cõi hư không

 Mỗi mỗi xem ra chẳng hình dạng 

Ngàn năm muôn năm khó sánh đó

Cõi cõi nơi nơi thường tỏ rạng (6). 

Đúng ngọ hôm ấy, dựng đàn trà tì, đồ chúng thu linh cốt của Sư xây tháp phụng thờ. 

 

11-12. HAI THIỀN SƯ BẢO TÍNH (?-1034), MINH TÂM (?-1034) 

Chùa Cảm Ứng, Ba Sơn, phủ Thiên Đức. Đều là người Châu Minh, (1) Bảo Tính họ Nghiêm, Minh Tâm họ Phạm. Thuở nhỏ cùng sớm xuất gia, là bạn đồng chí. 

Lúc đầu, cùng với thiền sư Viên Chiếu, đều thờ Định Hương thượng nhân, sâu hiểu chỗ cốt tủy của Hương. Về sau mỗi người mang tâm ấn, tùy phương giáo hóa, nổi tiếng là bậc thượng thủ của tòng lâm. Viên Chiếu thường có ca, thơ gửi tặng Bảo Tính ngợi khen cái chí hướng cao thư