TỔNG TẬP
VĂN
HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê Mạnh
Thát
---o0o---
Tập III
=================
PHẦN I
NGHIÊN
CỨU VỀ
THIỀN
UYỂN TẬP ANH
Trong công
tác nghiên cứu lịch sử dân tộc ta, vấn đề khai thác những tư liệu phản ảnh
quan điểm và lập trường đấu tranh của dân tộc là một cần thiết. Và việc đó
càng trở nên cần thiết và quan trọng hơn nữa, khi ta đi vào lĩnh vực
nghiên cứu cổ sử và trung sử. Bởi vì về giai đoạn đó, các chính sử ta
thường chép rất sơ sài, thậm chí chép lại những gì do những ngòi bút thù
địch với dân tộc và chống lại nước ta viết ra, đưa đến tình trạng một bộ
chính sử ta đã công nhiên ngợi ca sự nghiệp của một tên xâm lược đầu sỏ
đầy tội ác đối với nước ta như Cao Biền.
Trong số
những tư liệu hiện còn loại đấy, ta chỉ có vỏn vẹn ba tác phẩm đó là Việt
điện u linh tập, Lĩnh nasm chích quái truyện và Thiền uyển tập anh. Về hai
tác phẩm đầu, trước đây chúng đã được phiên dịch và in lại nguyên văn, dẫu
rằng những công tác ấy chưa đạt được tiêu chuẩn khoa học đáng muốn. Còn
lại Thiền uyển tập anh thì kể từ ngày Trần Văn Giáp phát hiện và giới
thiệu nó với học giới trong bài Phật giáo ở Việt Nam từ khởi nguyên đến
thế kỷ thứ XIII
, tính chất quan trọng của tác phẩm này
không những đối với môn cổ sử và lịch sử giải phóng dân tộc, mà còn đối
với các môn học khác từ văn học nghệ thuật cho đến khoa học kỹ thuật đã
được nhiều người chú ý tới.
Như một bộ sử
chuyên môn không thuộc loại chính sử về lịch sử Phật giáo thiền tông Việt
Nam, nó có thể ở vào địa vị phản ảnh một phần nào quan điểm và lập trường
đấu tranh của dân tộc cùng tình tự và ý chí của họ trong liên hệ với lịch
sử vận động giải phóng và chống ngoại xâm, mà điển hình nhất là những
truyện Định Không và La Quí cùng các truyện Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn
Hạnh. Những truyện Định Không và La Quí kể lại những mẩu tin rất ly kỳ,
nhưng cũng rất thực tế trong công tác tuyên truyền vận động độc lập của
những người yêu nước sống rải rác trong các mạng lưới của làng mạc Việt
Nam dưới những hình thức sấm vĩ, tín ngưỡng chùa chiền. Chúng vạch cho
thấy họ đã vận động cho cuộc chiến đấu ấy như thế nào, đã lãnh đạo cuộc
vận động đó với một lý thuyết gì. Các truyện Khuông Việt, Pháp Thuận và
Vạn Hạnh đã diễn tả một cách khá rõ rệt tính chất dân tộc của những cuộc
chiến tranh chống ngoại xâm do dân tộc ta thực hiện trong những ngày tháng
đầu của thuở mới lập quốc qua sự tham dự tích cực và trực tiếp của hầu hết
mọi tầng lớp người.
Nhưng Thiền
uyển tập anh không chỉ là một tác phẩm phản ảnh quan điểm và thái độ quần
chúng trong một cách thể nào đó. Nó còn là một cuốn sử giúp ta nhiều tài
liệu nghiên cứu về cổ sử Việt Nam từ thế kỷ thứ VI cho đến thế kỷ thứ
XIII. Thực vậy, nó ngày nay chứa đựng nhiều chi tiết, nhiều tên người, tên
đất, nhiều sự việc mà các chính sử có quyển ghi, có quyển không ghi, thậm
chí, đôi khi không có quyển nào ghi cả. Chẳng hạn, cái tên Khúc Lãm xuất
hiện trong truyện La Quí. Lãm chắc chắn là một trong những người lãnh đạo
sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời kỳ manh nha của nó với các vị khác
như Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Mỹ v.v..., nhưng ngày nay không thấy
sử sách nào khác chép tới. Hay Cương Giáp, nơi đóng quân của tên tướng Hầu
Nhân Bảo trong trận đọ sức đầu tiên giữa dân tộc ta với quân xâm lược
Tống, mà các chính sử không thấy đâu ghi cả. Trong liên hệ này, ta có thể
nói rằng đối với môn địa lý học lịch sử, Thiền uyển tập anh có một cống
hiến thật đặc sắc, bởi vì nó là một tác phẩm đời Trần duy nhất còn lại
chứa đựng nhiều tên ấp, tên làng, tên quận, tên phủ và tên châu của đời Lý
cũng như của đời Trần hơn bất cứ một tác phẩm nào khác, kể cả bộ chính sử
Đại Việt sử lược. Khai thác kho tàng những tên đất đấy và xác định lại vị
trí của chúng, nếu hoàn thành, có thể nói ta đã vẽ lại được một phần bản
đồ địa lý chi tiết của nước ta vào thời Lý một cách cụ thể, nhờ vào tên
của các ngôi chùa gắn liền với các tên đất ấy.
Không những
thế, do chính sách văn hóa nô dịch thô bạo và thâm độc của bọn xâm lược
Minh hồi đầu thế kỷ thứ XV, tất cả những sách vở nước ta trước thế kỷ đó
hầu hết đều bị chúng hủy hoại, dẫn cuối cùng đến tình trạng là, một nền
văn học rực rỡ và phong phú như nền văn học đời Lý đã không còn để lại một
vết tích nào, nếu ta không nói đến Thiền uyển tập anh và một số bi ký ở
các chùa hiện đã phát hiện được. Thực vậy, ngay từ những năm 1433, sau khi
đã thu hồi lại độc lập và ổn định được đời sống của nhân dân, những nỗ lực
thu thập thi văn các đời Lý, Trần của những học giả đời Lê chỉ chủ yếu
ghi lại được các tác giả đời Trần mà thôi, còn tuyệt đại bộ phận các tác
giả đời Lý thì hoàn toàn vắng bóng. Sự trạng ấy, ta chỉ cần dở Việt âm thi
tập của Phan Phù Tiên, Quần hiền phú tập của Hoàng Tụy Phu cùng Tinh tuyển
chư gia luật thi của Dương Đức Nhan thì cũng đủ thấy. Việt âm thi tập hoàn
thành sau khi thu hồi độc lập khoảng 6 năm, tức vào năm 1433, đã tuyệt
nhiên không ghi lại một tác gia đời Lý nào hết. Quần hiền phú tập viết
xong khoảng năm 1457 cũng vậy. Đến Tinh tuyển chư gia luật thi của Dương
Đức Nhan đỗ tiến sĩ khoa 1463 với một nhan đề quyển sách như thế, ta không
cần phải nói là, không có một tác giả đời Lý nào được kể tới. Cả mấy trăm
năm văn học của một dân tộc đã bị bỏ quên. Sự trạng ấy ta phải đợi đến Lê
Quí Đôn mới được chấn chỉnh lại trong bộ Toàn Việt thi lục và Kiến văn
tiểu lục của ông. Nhưng Lê Quí Đôn làm được như vậy chủ yếu là nhờ vào
Thiền uyển tập anh, mà ông đã biết khai thác một cách có phương pháp và hệ
thống. Rõ ràng, đối với lịch sử văn học dân tộc ta, Thiền uyển tập anh
đóng một vai trò hết sức quan trọng và thiết yếu. Thiếu nó, thì cả mấy
trăm năm lịch sử văn học dân tộc phai mờ tiêu tán đi không phải ít.
Từ lĩnh vực
văn học bước sang lĩnh vực tư tưởng triết lý không xa. Cho nên, nếu Thiền
uyển tập anh đóng một vai trò quan trọng như thế nào đối với lịch sử văn
học dân tộc, thì nó cũng đóng một vai trò tương tự trong lịch sử tư tưởng
triết lý. Và vai trò ấy, thực tế, có một tầm quan trọng hơn nhiều, khi ta
nhớ rằng nó tự bản chất là một bộ sử chuyên môn về lịch sử Phật giáo thiền
tông Việt Nam. Mà Phật giáo thiền tông Việt Nam vào những mấy trăm năm ấy,
nếu không nói là hệ tư tưởng chỉ đạo thì nó cũng ở vào địa vị của một hệ
tư tưởng chiếm ưu thế trong giai đoạn lịch sử đó. Trong giai đoạn này, dân
tộc ta đã làm nên những chiến công hiển hách, đưa cả dân tộc lên đỉnh cao
của thời đại, đứng vào hàng những đội quân Tiên Phong của loài người chống
xâm lược và áp bức, dân tộc ta đã xây dựng được một nhà nước vì dân, một
nền kinh tế vững mạnh và một nền khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất định. Làm
nên được những kỳ tích như thế trong một tình huống như tình huống của
nước ta sau khi Ngô Quyền đánh bại quân xâm lược Nam hán và Đinh Tiên
Hoàng thống nhất tổ quốc về một mối thì phải kể là những kỳ tích vô tiền
khoáng hậu, hiếm có trong lịch sử loài người. Hệ tư tưởng chủ đạo nào đã
hướng dẫn họ trên bước đường đưa cả dân tộc đi tới vinh quang đó? Điều này
rõ rệt đòi hỏi ta phải giải quyết vấn đề lý luận dân tộc nào đã giúp nhân
dân ta đoàn kết một lòng một dạ với nhau, cùng nhau chống giặc ngoại xâm
và xây dựng đất nước. Nó đòi hỏi ta phải đặt thành vấn đề hệ tư tưởng chủ
đạo của dân tộc ta vào thời Đinh, Lê, Lý, Trần và bắt buộc ta phải nghiên
cứu nghiêm túc, nhằm rút tỉa những tinh hoa của truyền thống, đóng góp vào
việc xây dựng con người mới Việt Nam hôm nay. Để giải quyết những vấn đề
đấy, công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam tất không thể nào không
tìm đến Thiền uyển tập anh. Có thể nói, nó là nơi tập đại thành những
luồng tư tưởng chủ yếu của dân tộc từ thời nhà Trần trở về trước.
Đây là mấu
chốt của vấn đề nghiên cứu hệ tư tưởng chủ đạo thời Đinh, Lê, Lý, Trần, và
trước đó. Phân tích và nắm được những điểm chủ yếu của vấn đề ấy, ta có
thể nói là đã giải quyết được nó về mặt cơ bản. Trong chiều hướng cung cấp
tư liệu và mẫu hình cho công tác phân tích đấy, Thiền uyển tập anh với
tiểu sử của 68 thiền sư hầu hết đều có ghi thành phần gia đình, giai cấp
và sống trải dài trên một khoảng thời gian gần 700 năm, rõ ràng có thể
giúp xác định hệ tư tưởng Phật giáo thiền tông Việt Nam, mà họ là những
đại diện chân chính và được thừa nhận. Trong viễn tượng đấy, vai trò của
Thiền uyển tập anh trở nên hết sức trọng yếu cho những ai muốn nghiên cứu
lịch sử tư tưởng dân tộc và hệ tư tưởng chủ đạo của Việt Nam từ thời Trần
trở về trước. Đương nhiên, với số lượng 68 người có tiểu sử, nó chưa cung
cấp cho ta một mẫu xác suất tốt nhất đáng muốn. Nhưng trong tình trạng sử
liệu ngày nay, ta không mong gì hơn. Qua họ, hệ tư tưởng họ đại biểu có
thể xác định một cách khá đúng đắn và cụ thể. Từ đó, vấn đề bản chất của
Phật giáo thiền tông Việt Nam tất nhiên phải bộc lộ.
Ngoài ra,
Thiền uyển tập anh còn cần thiết cho những khoa học khác từ kinh tế học,
dân tộc học, xã hội học v.v... cho đến mỹ nghệ và kỹ thuật. Chẳng hạn,
nghiên cứu về tập tục và đời sống của dân ta ở những vùng biên giới, ta có
những truyện Ma Ha, Giới Không v.v... ghi lại lối sống, lối tín ngưỡng của
họ. Hay tìm hiểu về lai nguyên của nghề in tại Việt Nam, ta có truyện Tín
Học xác định thành phần gia đình Học là “đời đời làm nghề in kinh”. Hay
khảo sát về thành phần xã hội thời Lý và hệ thống cấu trúc của nó, ta có
truyện nhiều thiền sư ghi lại thành phần gia đình của họ vv...
Thiền uyển
tập anh như vậy chứa đựng nhiều tài liệu phong phú và đặc sắc cho công tác
nghiên cứu lịch sử cũng như nhiều khoa học kỹ thuật và mỹ thuật khác. Dẫu
thế, cho đến nay chưa có một bản dịch nghiêm chỉnh và đầy đủ nào về nó
xuất hiện, nên những người nghiên cứu, dù nhắc tới nó nhiều, ít ai có dịp
đọc toàn bộ bản văn đó. Bản dịch hiện nay của chúng tôi là nhằm cung ứng
cho những người nghiên cứu ấy một bản dịch như thế. Trước đây, một số
người cũng có ý muốn dịch nó và họ quả đã dịch, hay đúng hơn phỏng dịch
một phần nào hay toàn bộ và xuất bản dưới những tên khác nhau
. Nhưng tất cả đều chưa đạt yêu cầu. Tình
trạng này xuất phát từ hai nguyên cớ chính, đấy là: 1- Họ chưa nắm vững
lịch sử truyền bản của bản văn, nên đã không chọn được một truyền bản
chính xác để làm đề bản cho công tác hiệu thù và phiên dịch, và 2- Họ chưa
phân tích kỹ nội dung bản văn, nên tới những đoạn khó, họ hoặc đa số lướt
qua không dịch, hoặc nếu bắt buộc quá mà phải dịch, họ thường phạm phải
những sai lầm. Để khắc phục tình trạng sai trái vừa nêu, bản dịch hiện nay
bao gồm có phần nghiên cứu về tự thân bản văn và phần chú thích bản văn
đó. Phần nghiên cứu về tự thân bản văn nhằm giải quyết những vấn đề truyền
bản của bản văn, tên gọi nó, soạn niên và tác giả nó cùng vấn đề sử liệu
nó dùng và vấn đề hiệu bản cho bản dịch chúng tôi. Phần chú thích, vì nhằm
cung ứng tài liệu cho những người nghiên cứu ở nhiều bộ môn khác nhau,
chúng tôi đã cố gắng chú thích rất kỹ và nói rõ nguyên lai những chú thích
cho tiện việc tra cứu.
I. VẤN ĐỀ
TRUYỀN BẢN
Mặc dù trước
đây có sự nghiên cứu và giới thiệu của Trần Văn Giáp và Gaspardone, vấn đề
truyền bản của Thiền uyển tập anh vẫn chưa được khảo sát đầy đủ và nghiêm
chỉnh đúng mức. Cứ vào những nghiên cứu của họ, ta không biết một tí gì về
tình trạng truyền bản của nó trước bản in năm 1715 cũng như sau đó. Chúng
ta cũng sẽ không hiểu nổi những cái mà Gaspardone
gọi là “bất bình thường” (anomalie) của
bản in năm 1715. Và thực sự, như Trần Văn Giáp
đã nêu lên, Phan Huy Chú trong Văn tịch
chí của ông đã nói Thiền uyển tập anh có đến 6 quyển, chứ không phải một
hay hai quyển, mà ta hiện thấy trong các truyền bản đang còn. Truyền bản
Thiền uyển tập anh 6 quyển đó cũng không thấy ai bàn tới. Chúng tôi do thế
đề nghị khảo sát lại vấn đề truyền bản của bản văn đây, để xem thử nó có
lai lịch gì và có thể cung hiến cho ta những soi sáng nào không về những
truyền bản hiện còn, đặc biệt là nhằm kiểm soát tính đích thực văn bản của
những truyền bản hiện còn đấy.
Những gì ta
có và biết về nó hiện nay, đều bắt đầu từ thế kỷ XVIII trở đi với bản in
năm 1715 và với ghi chú của Lê Quí Đôn trong Nghệ văn chí. Lời tựa của bản
in năm đó có nói tới việc “chỉnh cú để tiện in lại” và “sửa lại những
thiếu mất, thêm vào những chữ rơi sót”, cộng thêm với cái ghi chú lờ mờ
của Đôn, đã làm một số người nghi ngờ giá trị truyền bản của bản in năm
1715. Họ nghi rằng, văn cú nó chắc đã thay đổi nhiều, không hoàn toàn có
thể tin được. Thậm chí họ còn dựa vào một câu viết của An Thiền trong bài
tựa cho bản in năm 1858 rằng “còn ở nước ta, xưa có Thiền uyển làm lục,
Tập anh làm tên, ghi lại các bậc cao tăng thạc đức của ba triều”, và giải
thích “ba triều” là gồm cả triều Trần nữa, để giả thiết rằng, tự nguyên ủy
Thiền uyển tập anh có cả một phần về những thiền sư đời Trần nhưng bị An
Thiền tách rời ra thành một sách khác, nên những truyền bản hiện còn không
thấy có phần đời Trần. Dĩ nhiên, đấy là một giả thiết vô căn cứ, đầy thiên
ý lệch lạc, nhằm xóa bỏ giá trị truyền bản của bản in năm 1715, mà họ coi
là có nhiều “bất bình thường” để được đáng tin. Thật ra, giá trị truyền
bản của bản in đấy tỏ ra rất lớn, khi so với bản in năm 1858, mà người
đứng in lại là An Thiền. Chúng ta do thế không cần phải bàn cãi dài dòng
cái giả thiết đó ở đây. Thế thì, trước bản in năm 1715, Thiền uyển tập anh
còn có một bản in hay truyền bản nào khác không ?
1. TRUYỀN BẢN
ĐỜI TRẦN
Như ta biết,
Thiền uyển tập anh ra đời vào khoảng 1337. Điều đáng chú ý là một tác phẩm
khác thường được quan niệm xuất hiện vào đời Trần, đó là Lĩnh nam chích
quái, mà theo lời tựa cho Việt giám vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm
(1470-?) ,
thì Trần Thế Pháp là tác giả. Ngày nay, căn cứ vào hai truyền bản, một của
Kiều Phú (1446-?) và một của Vũ Quỳnh (1452-1516), ta thấy bản của Trần
Thế Pháp có khả năng có 22 truyện. Trong số 22 truyện này, có 4 truyện
hoàn toàn thống nhất với 4 truyện trong Thiền uyển tập anh bản đời Lê hiện
có. Đó là truyện Không Lộ và Giác Hải của thiền phái Kiến Sơ Vô Ngôn
Thông, và truyện Từ Đạo Hạnh và Minh Không của thiền phái Pháp Vân Tỳ Ni
Đa Lưu Chi, được ghi trong 9 thủ bản hiện bảo tồn của Lĩnh nam trích quái,
dù văn cú có đôi chỗ xuất nhập, khi so chúng với nhau giữa các thủ bản
hoặc với Thiền uyển tập anh. Sự kiện này đặt cho chúng ta hai câu hỏi. Thứ
nhất, phải chăng Lĩnh nam chích quái lấy bốn truyện đó từ Thiền uyển tập
anh hay ngược lại? Thứ hai, có khả năng nào cả Thiền uyển tập anh lẫn Lĩnh
nam chích quái cùng lấy từ một nguồn chung?
Trả lời hai
câu hỏi này, ta may mắn có một số dữ kiện sau. Thứ nhất, đối với truyện
Không Lộ của Thiền uyển tập anh, ở cuối truyện tờ 25b11 có một câu chua
bằng hai hàng chữ nhỏ, nói rằng: “Vị sư này không có năm và tuổi thọ có
thể khảo được. Nay y vào Nam tông đồ truyền pháp thế thứ nên mô tả ra ở
đây” (thử Sư vô niên thọ khả khảo. Kim y Nam tông đồ truyền pháp thế thứ
cố tự vu thử). Vậy thì rõ ràng khi viết về Không Lộ, tác giả Thiền uyển
tập anh đã dựa vào Nam tông tự pháp đồ của Thường Chiếu. Một khi đã thế,
thì Giác Hải chắc chắn cũng phải lấy từ Nam tông tự pháp đồ bởi vì thân
phận hai người này thường gắn liền với nhau. Còn về truyện Từ Đạo Hạnh và
Minh Không thì tác giả Thiền uyển tập anh không cho ta biết đã lấy nguồn
tin về họ từ đâu. Dẫu thế, nếu văn cú của hai truyện này thống nhất với
nhau, dù có đôi chỗ xuất nhập, thì dứt khoát có khả năng Lĩnh nam chích
quái đã lấy từ Thiền uyển tập anh. Lý do nằm ở chỗ Thiền uyển tập anh là
một tập hợp tiểu sử các thiền sư theo một thế thứ nhất định. Cho nên rất
ít có khả năng tác giả Thiền uyển tập anh đã trích dẫn nguyên vẹn những
tiểu truyện này từ Lĩnh nam chích quái. Hơn nữa, Lĩnh nam chích quái với
cái tên đầu đề “chích quái” thì khả năng trích dẫn và thu lượm các tiểu
truyện từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau là một sự thực. Ngoài ra, đọc bốn
truyện này, văn phong của chúng tỏ ra thống nhất với văn phong của các
truyện khác trong Thiền uyển tập anh. Trong khi đó, nếu so với các truyện
khác của chính bản thân Lĩnh nam chích quái thì không ăn khớp lắm. Nói
tóm, dù có thông qua Nam tông tự pháp đồ hay không, Lĩnh nam chích quái
cũng đã chép bốn truyện trên từ Thiền uyển tập anh.
Không những
thế, truyền bản Thiền uyển tập anh hiện còn, tuy in lại vào năm Vĩnh Thịnh
thứ 11 (1715), đã giữ lại nhiều chữ húy đời Trần. Cụ thể là Lý §õ đổi
thành Nguyễn ¨¿ (truyện Pháp Thuận và truyện Chân Không), Diệu §® đổi
thành Mậu Z (truyện Chân Không) hay viết (truyện Tịnh Thiền, Viên Học),
càn °® đổi thành yết ªỵ hay ma ¼¯ (truyện Pháp Dung) v.v… Ngoài ra, như
sẽ thấy, một loạt các sự kiện được ghi lại trong Thiền uyển tập anh mà
những bộ sử từ đời Lê sơ về sau như Đại Việt sử ký toàn thư không ghi, thì
lại được chép trong các quyển sử trước thời điểm đó, như Đại Việt sử lược.
Cho nên, ta không thể nghi ngờ việc Thiền uyển tập anh ra đời sau Lĩnh nam
chích quái được, dù truyền bản sớm nhất ngày nay của nó là một truyền bản
đời Lê I, tức bản in 1715. Kết luận như thế cho phép ta xác định bốn
truyện trên từ nguyên thủy đã phải xuất hiện từ đời Trần, nghĩa là lúc
Thiền uyển tập anh ra đời, chứ không phải một sao chép về sau từ Lĩnh nam
trích quái.
Thêm vào đó,
có một chi tiết đáng chú ý là trong truyền bản đời Lê I, tức bản in năm
1715 và truyền bản đời Lê II, tức bản in sau năm 1715, cả hai bản trong
truyện Từ Đạo Hạnh, Thiền uyển tập anh tờ 53b10, có để trống 7 ô sau những
chữ “ngự thí trúng” và trước những chữ “dĩ tà thuật”. 7 ô này, căn cứ vào
truyện Từ Đạo Hạnh của các truyền bản Lĩnh nam chích quái hiện biết thì ta
có 8 hoặc 6 chữ, đó là “bạch liên khoa, vị cơ, kỳ phụ vinh”, hoặc “bạch
liên khoa, vị cơ, phụ”. Điều này chứng tỏ bản đáy dùng cho việc in lại bản
đời Lê I và Lê II đã bị rách mất 7 chữ, và người hiệu chính hai bản in này
do không biết hay không có cơ hội huy động các truyền bản của Lĩnh nam
chích quái để hiệu chỉnh 7 ô chữ đó. Ngày nay, căn cứ vào 8 hay 6 chữ ấy,
ta có thể hiệu chỉnh thành 7 chữ, là “bạch liên khoa, vị cơ, kỳ phụ”, và
điền vào 7 ô trống với ý nghĩa trọn vẹn của một câu văn. Thiền sư An
Thiền, khi dùng một bản gọi là Cựu bản Tiêu Sơn tự làm bản đáy cho việc in
lại Thiền uyển tập anh trong bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, đã
không biết các ô trống này nên trong Thiền uyển truyền đăng quyển thượng
tờ 48a10 khắc mất các ô đó để ta có câu “ngự thí trúng, dĩ tà thuật”. Sự
kiện có 7 ô trống này của Thiền uyển tập anh bản đời Lê và những chữ tương
đương trong các truyền bản Lĩnh nam chích quái càng chứng tỏ các truyện Từ
Đạo Hạnh, Minh Không, Không Lộ và Giác Hải của Lĩnh nam chích quái phải
phát xuất từ các truyện trong Thiền uyển tập anh.
Nói tóm lại,
dù ngày nay truyền bản sớm nhất mà ta có là truyền bản đời Lê I (1715), ta
vẫn có thể giả thiết nếu không nói là khẳng định Thiền uyển tập anh là một
văn bản đời Trần được lưu hành rộng rãi, thậm chí còn được khắc in, để cho
các tác giả như Trần Thế Pháp của Lĩnh nam chích quái biết tới và sử dụng.
Để tiện việc tra cứu, chúng tôi cho sưu tập lại 4 truyện này trong bản Phụ
lục I ở sau.
2. TRUYỀN BẢN
ĐỜI HỒ
Bước sang thế
kỷ thứ XV, lúc Hồ Quý Ly lên nắm quyền, Thiền uyển tập anh vẫn còn được sử
dụng rộng rãi. Khi quân Minh đánh chiếm được nước ta vào năm 1407, Thiền
uyển tập anh đã bị chúng thu gom và sau này được dùng một phần để viết An
nam chí nguyên. Trong mục Tiên thích của An nam chí nguyên 3 tờ 209-211 ta
thấy ghi lại tiểu sử của 14 vị thiền sư, trong đó có 13 vị có tên trong
Thiền uyển tập anh.
So sánh những
ghi chú của nó về 13 vị ấy, thì trừ Thảo Đường ra, mà Thiền uyển tập anh
không có truyện, số còn lại có văn cú hoàn toàn giống với một đoạn trong
truyện của những thiền sư ấy trong Thiền uyển tập anh. Chẳng hạn, ta lấy
hai vị thiền sư đầu do nó ghi làm thí dụ. Thứ nhất, về thiền sư Tịnh Giới,
nó viết: “Thiền sư Tịnh Giới là vị Sư huyện Đông Quan, tu hạnh đầu đà, cảm
hóa như thần, Giao Châu có hạn, họ Lý sai sứ đi đón về, nửa đêm Sư đứng
giữa sân, đốt hương, mưa ngọt đổ lớn. Họ Lý khen, tặng làm Thầy Mưa”. Còn
Thiền uyển tập anh viết: “Thiền sư Tịnh Giới ... người Mão hương ... tu
hạnh đầu đà ... cảm hóa như thần ... hạ gặp hạn ... Lý Cao Tôn ... sai sứ
đi đón về ... nửa đêm Sư đứng giữa sân đốt hương, trời bèn mưa xuống, vua
rất khen sủng, thường gọi là Thầy Mưa”.
Thứ hai, về
Đạo Hạnh, nó viết: “Thiền sư Đạo Hạnh là Sư huyện Thạch Thất, thường đi
khắp tòng lâm, hỏi tìm tri thức, khi duyên đạo đã thục, pháp lực có thêm,
bèn có thể sai sử chim rừng thú nội, họp nhau đến phục, cầu mưa trị bệnh
không gì là không không linh ứng. Nay xác thân đang còn”. Thiền uyển tập
anh viết: “Thiền sư Đạo Hạnh ... đi khắp tòng lâm, hỏi tìm ấn chứng ... từ
đó pháp lực có thêm, duyên thiền đã thục, bèn có thể sai sử rắn núi thú
rừng, họp nhau đến phục. Đốt ngón tay cầu mưa, chú bát nước trị bệnh,
không gì là không ứng nghiệm tức khắc ... Đến nay xác thân đang còn”.
Qua những thí
dụ như thế, ta buộc phải kết luận là, những ghi chú trong An nam chí
nguyên
phải trực tiếp rút ra từ Thiền uyển tập
anh, hay nếu không đi nữa thì phải rút ra từ một tác phẩm đã sử dụng sách
đó. Với những sự đồng nhất hầu như hoàn toàn ấy, không một kết luận nào
khác có thể rút ra. Nhưng chính bản thân An nam chí nguyên 3 tờ 208 thú
nhận là không biết đến Thiền uyển tập anh bởi vì nó viết: “Đạo Phật của
Giao Chỉ từ Hán đến Đường đều không thể khảo được. Từ thời Lý, Trần, danh
tăng rất nhiều, nổi tiếng linh dị. Quốc vương đem lễ tham hỏi thuật lạ,
đến nỗi có vị đã xả thân đi xuất gia. Quan liêu, sĩ dân thường thường cảm
hóa theo. Còn đạo thần tiên thì cũng hiếm có, thỉnh thoảng mới thấy một
hai người mà thôi. Nay thấy Cựu chí và Quan báo các nơi cùng lời tương
truyền của các phụ lão, mỗi mỗi góp chép lại, mà chọn những ai dấu vết có
thể chứng nghiệm được thì phụ chép vào đấy”.
Bằng lời giáo
đầu mục Tiên thích như vậy, An nam chí nguyên đã xác định nguyên lai của
những nguồn tài liệu của mình về những vị thiền sư dẫn trên. Trong đó,
ngoài loại phụ lão tương truyền ra, ta thấy có “Cựu chí” và “Quan báo các
xứ”. Về Cựu chí, thì giữa những thứ chí do nó dẫn có Giao Chỉ thông chí,
Giao Châu bát huyện ký, Các huyện châu chí, Các phủ chí và Các phủ huyện
khai báo tường tải chí. Đấy phải là những “Cựu chí” mà nó muốn nói tới,
nếu không muốn hiểu Cựu chí muốn chỉ một chí trong những tác phẩm vừa
liệt. Còn về “Quan báo các xứ” thì đây có thể là tên một tập hồ sơ hành
chính do yêu cầu điều tra tạo nên, nhưng cũng có thể chính tên của tập hồ
sơ đó. Dầu sao chăng nữa, An nam chí nguyên chắc phải lấy những ghi chú về
những vị thiền sư trên, nếu không từ chính Thiền uyển tập anh, thì cũng từ
những “Cựu chí” vừa dẫn, và những Cựu chí đấy đến lượt chúng tất cũng phải
lấy từ Thiền uyển tập anh, bởi vì sự đồng nhất văn cú và sự kiện vừa thấy
tất không thể nào kết luận ngược lại được.
Chỉ có vấn đề
là trong số 13 vị sư ấy, trừ Thảo Đường ra, quê quán hay trú quán của họ
bị An nam chí nguyên thay đổi và gọi họ như những nhà sư của huyện này
hay châu nọ, không giống với Thiền uyển tập anh. Chúng tôi cho rằng vì An
nam chí nguyên rút từ những Cựu chí viết dưới thời Minh chiếm đóng nước
ta, nên tên đất tên làng đã bị bọn xâm lược thay đổi, từ đó báo cáo về
những vị sư cũng bị thay đổi theo. Thêm vào đó, nếu rút ra từ những Cựu
chí, thì những bản chí, nhất là địa chí thường ghi lại các nhân vật nổi
tiếng của vùng liên hệ. Do thế, dù Tịnh Giới người Mão hương, Ngung Giang,
An nam chí nguyên đã nói là: “Sư huyện Đông Quan”, bởi vì Giới đã nổi
tiếng về việc cầu mưa ở tại Thăng Long. Giới Không cũng vậy. Dù Tịnh Không
là người Mãn Đẩu, họ vẫn bảo Không là “Sư huyện Gia Lâm, vì có ở chùa Gia
Lâm” v.v... Do thế việc thay đổi quê quán hay trú quán của những vị sư
không điểm chỉ một điều gì khác hơn là hai điểm sau. Thứ nhất, đấy là
những tên đất đặt ra lần đầu tiên dưới thời quân Minh xâm lược. Và thứ
hai, những sách vở ghi lại những vị Sư đấy là do quân Minh làm ra.
Thực tế thì
An nam chí nguyên, trừ phần tổng luận ra, có thể coi như một tác phẩm viết
khoảng năm 1419. Những ghi chú về các vị thiền sư trên chắc chắn phải dùng
những tài liệu viết trước năm đó. Từ đấy, ta có thể kết luận rằng chúng
chính là những trích dẫn từ một truyền bản xưa nhất của Thiền uyển tập
anh, đấy là truyền bản đời Trần. Ta hiện không có cách nào để xác định
truyền bản đấy là in hay chép. Dẫu thế những ghi chú đó thật sự là dấu vết
của nó còn sót lại, giúp ta kiểm soát được tính đáng tin và giá trị văn
bản của bản in đời Lê. Do thế, chúng tôi cho sưu tập lại toàn bộ những
trích văn vừa nói có trong An nam chí nguyên để làm tư liệu văn bản cho
những nghiên cứu về sau. Chúng sẽ được xếp vào trong Phụ lục II.
3. TRUYỀN
BẢN 6 QUYỂN
Sau truyền
bản đời Hồ, mà ngày nay ta chỉ còn có 12 trích dẫn ngắn trong An nam chí
nguyên, ta có cái chúng tôi gọi là truyền bản 6 quyển ở đây. Nó đến từ bản
thư tịch của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí 45 tờ
89b1-2, ở đây Chú viết: “Thiền uyển tập, 6 quyển, người thời Trần soạn,
ghi lại sự tích các tông phái Thiền học của nước ta từ cuối đời Đường trải
qua đời Đinh, Lê đến Lý, Trần”. Thiền uyển tập đây dĩ nhiên là Thiền uyển
tập anh, bởi vì ghi chú vừa dẫn của Chú là lấy trực tiếp không thêm bớt từ
cái ghi chú của Lê Quí Đôn về Thiền uyển tập anh trong Nghệ văn chí của
ông. Chỉ trừ một điểm khác biệt căn bản là, trong khi Đôn nói “Thiền uyển
tập anh một tập” thì Chú bảo Thiền uyển tập có 6 quyển. Ngày nay ta không
biết bản Thiền uyển tập anh, do Đôn dùng, mà Đôn chỉ nói có “1 tập”, là có
bao nhiêu quyển. Nhưng cứ vào những trích dẫn trong Kiến văn tiểu lục 4 tờ
12b7-13b8 mục Thiên chương thì chúng chứng tỏ không sai khác với truyền
bản đời Lê của bản in năm 1715 bao nhiêu. Chúng ta do đó có thể suy diễn
ra là Lê Quí Đôn chắc cũng dùng bản in năm 1715 đấy. Thế thì truyền bản 6
quyển của Phan Huy Chú xuất xứ từ đâu?
Những truyền
bản đời Lê và đời Nguyễn hiện còn, tức những bản in năm 1715 khoảng 1750
và 1858, không có bản nào ghi Thiền uyển tập anh có đến 6 quyển cả. Bản in
năm 1715 thì ghi có quyển thượng và quyển hạ, nhưng không phân chia số
trang rõ ràng, nên ta cũng chỉ có thể đoán thôi. Bản in 1750 thì cơ bản
giống bản in 1715 với một vài sửa đổi thêm thắt cùng ba tờ hình và tiểu sử
của Trúc Lâm Tam Tổ ở đầu sách và lời bạt hậu ở cuối sách. Còn bản in năm
1858 thì đã bị gom in vào một bộ sách gồm 5 quyển, nên Thiền uyển tập anh
in năm đó trở thành một quyển duy nhất, đấy là quyển thượng đối với 4
quyển kia trong bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục.
Tuy nhiên,
nếu phân tích kỹ hơn hai truyền bản đời Lê thì việc Phan Huy Chú nói
truyền bản của ông gồm 6 quyển không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Xét hai
truyền bản đời Lê hiện còn, ta thấy, mặc dù ở đầu sách tờ 4a1 và ở cuối
sách tờ 72b11 nó ghi Thiền uyển tập anh ngữ lục quyển thượng và Thiền uyển
tập anh quyển hạ, chứng tỏ như vậy Thiền uyển tập anh nguyên có hai quyển
thượng và hạ, ta thấy bên trong sách ở những tờ 26b1, 44a1, 61a1, 71a1 nó
dành hẳn một dòng để ghi bốn chữ Thiền uyển tập anh mà thôi. Bốn chữ Thiền
uyển tập anh ở tờ 44a1 chúng tôi đoán là để phân chia quyển thượng với
quyển hạ của bản in đó, bởi vì nó để tờ 43 hầu như hoàn toàn trống. Như
vậy, thì còn ba trường hợp kia sẽ ra sao?
Theo lập luận
của chúng tôi thì bốn chữ Thiền uyển tập anh ở những tờ 26b1, 61b1, và
71b1 cũng có nhiệm vụ tương tự, đấy là chúng chỉ sự bắt đầu của một quyển
Thiền uyển tập anh. Tính ra từ những nhan đề Thiền uyển tập anh đó trong
truyền bản đời Lê, ta có tối thiểu là đến 5 quyển Thiền uyển tập anh, tức
một bộ Thiền uyển tập anh 5 quyển.
Thế nhưng,
Văn tịch chí của Phan Huy Chú nói bản của nó có đến 6 quyển. Vậy thì, lấy
đâu ra một quyển nữa? Chúng tôi cho rằng có thể truyền bản đời Lê đã ghi
thiếu cái nhan đề Thiền uyển tập anh ấy ở một tờ, khoảng giữa ở những tờ
từ 4a1 đến 26b1. Tại sao? Bởi vì nếu đếm từ trang 26b1 đến trang 72b1 ta
có cả thảy đến bốn lần ghi nhan đề Thiền uyển tập anh, nghĩa là trung bình
cứ khoảng mười tờ là có một nhan đề, trong khi từ tờ 4a1 đến tờ 26b1 ta có
chỉ một nhan đề mà thôi. Do thế, chắc khoảng từ tờ 17 trở đi bản in năm
1715 đã bỏ sót nhan đề Thiền uyển tập anh. Nếu thế, việc Phan Huy Chú nói
văn bản Thiền uyển tập anh của ông có 6 quyển là hoàn toàn hiểu được.
Thực ra, nhờ
cái ghi chú “Thiền uyển tập 6 quyển” ấy của Chú, ta ngày nay mới hiểu
được tại sao trong truyền bản đời Lê đã có ghi thêm những nhan đề Thiền
uyển tập anh ở những năm tờ khác nhau. Trước đây Gaspardone đã vạch ra
hiện tượng khá ngộ nghĩnh của truyền bản đời Lê, những đã không chịu tìm
hiểu tại sao. Ngược lại còn dựa vào nó để đánh thấp giá trị truyền bản đó.
Bây giờ nó trở thành rõ ràng là hiện tượng ấy cho ta biết sự có mặt của
một truyền bản Thiền uyển tập anh gồm 6 quyển. Thế thì, truyền bản 6 quyển
này có những liên hệ như thế nào với truyền bản đời Lê ?
Riêng với vấn
đề này chúng tôi qui lại rằng: truyền bản 6 quyển xưa hơn truyền bản đời
Lê in năm 1715, bởi vì bản in năm 1715 chỉ giữ lại một phần nào vết tích
của truyền bản 6 quyển qua sự hiện diện của những nhan đề Thiền uyển tập
anh vừa nêu, chứ không còn giữ nguyên được tình trạng truyền bản 6 quyển.
Nói khác đi, truyền bản 6 quyển có lẽ cũng là truyền bản đời Trần nói
trước, chứ không gì hơn. Nếu không đi nữa, nó là một bản in trước năm 1715
còn sót lại một cách nguyên vẹn, nghĩa là không bị tình trạng “khuyết
thất” và “thoát lạc” của bản in đời Lê. Dẫu sao, nó cũng là một truyền bản
xưa nhất được biết một cách đích xác chứ không phải qua suy luận. Khẳng
định như thế, chúng tôi cũng muốn nói thêm là, truyền bản đời Trần có lẽ
cũng có 6 quyển. Và từ đó, vấn đề phải chăng từ nguyên ủy Thiền uyển tập
anh có 6 quyển, chắc phải giải quyết trong một chiều hướng tương tự.
4. TRUYỀN BẢN
ĐỜI LÊ SƠ
Nếu những
trích dẫn trong An Nam chí nguyên không ghi rõ ràng xuất xứ, thì bước sang
thế kỷ thứ XV, trong việc biên tập lại Việt điện u linh tập và Lĩnh nam
chích quái, ta thấy Thiền uyển tập anh đã được đích danh nêu tên. Cụ thể
là Tục Việt điện u linh tập của Nguyễn Văn Chất (1422-?), đỗ Hoàng giáp
năm 1448, làm đến Thượng thư bộ hộ, đã chép tiếp ba hay bốn truyện vào
Việt điện u linh tập cũ, trong đó có truyện Sóc thiên vương, mà Nguyễn Văn
Chất ghi là cứ vào Thiền uyển tập anh. Có thể nói đây là một trích dẫn sớm
nhất hiện biết của đời Lê về Thiền uyển tập anh. Điều này chứng tỏ Thiền
uyển tập anh lưu truyền khá phổ biến vào đời Lê sơ, tức khoảng trong những
năm 1448-1466, thời gian mà Nguyễn Văn Chất làm việc ở Quốc sử viện.
Dựa vào Liệt
huyện đăng khoa lục bị khảo, kết hợp với những thông tin trong Đại Việt sử
ký toàn thư, ta dễ chấp nhận Tục Việt điện u linh tập là do Nguyễn Văn
Chất viết, chứ không phải do Nguyễn Văn Hiền, như tuyệt đại bộ phận các
thủ bản của Việt điện u linh tập tức các bản A.751; A.47; A.19 và VH1285,
trừ bản A.2879, đã ghi. Bản A.2879 ghi rõ tên Nguyễn Văn Chất. Văn cú của
trích dẫn này, cứ theo bản Việt điện u linh tập lục A.47 so với bản Thiền
uyển tập anh hiện còn có một số xuất nhập. Nhưng nếu cứ Việt điện u linh
tập lục toàn thiên tức các bản A.751 và A.2879 thì văn cú tỏ ra ít xuất
nhập hơn. Dù có xuất nhập nhiều hay ít, thì rõ ràng truyện Sóc thiên vương
của Việt điện u linh tập là do Nguyễn Văn Chất trích dẫn từ Thiền uyển tập
anh, và chúng tôi không bận tâm phân tích ở đây. Mà chỉ cho chép lại các
dị bản để làm tư liệu nghiên cứu cho những người sau, ở phụ lục III.
Trước mắt,
cho đến lúc này, trong thế kỷ 15 ta mới chỉ tìm thấy một trích dẫn duy
nhất đây thôi. Còn bao trích dẫn nữa, ta chưa thể biết được. Tuy nhiên với
sự trích dẫn Thiền uyển tập anh của Nguyễn Văn Chất, ta có thể chắc chắn
khi Phan Phù Tiên khởi thảo Việt âm thi tập, Tiên không phải không biết
đến Thiền uyển tập anh. Nhưng do yêu cầu chỉ thu thập thơ văn giới hạn vào
đời Trần, cho nên ông đã không đề cập gì tới mảng thơ văn do Thiền uyển
tập anh cung cấp, chứ tuyệt nhiên không phải vì “phải sau thế kỷ XV, Nho
giáo mất dần địa vị độc tôn trong đời sống tinh thần tình cảm, thì đối với
người nghiên cứu một số thơ văn từ cửa Phật mới được chính thức nhập tịch
văn đàn”, như một số người đã sai lầm quan niệm. Nếu phải sau thế kỷ XV do
Nho giáo mất dần địa vị độc tôn và thơ văn từ cửa Phật mới nhập tịch văn
đàn, thì tại sao trong Việt âm thi tập đã xuất hiện những nhà thơ Phật
giáo như Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Pháp Loa và Huyền
Quang v.v…? Và ngay cả một nhà thơ bài xích Nho giáo tương đối mạnh mẽ như
Nguyễn Trung Ngạn với bài thơ Phổ Minh tự đỉnh minh cũng đã được Phan Phù
Tiên dành cho một số lượng trích thơ cực kỳ lớn là 36 bài, nếu khi tiến
hành biên soạn Việt âm thi tập, Phan Phù Tiên đã thực hiện nó dưới nhãn
quan Nho giáo? Nho giáo chưa bao giờ độc tôn tại Việt Nam và càng không
bao giờ độc tôn vào thời Lê sơ của thế kỷ 15.1
Không những
Thiền uyển tập anh được người trí thức thời Lê sơ biết tới mà ngay cả một
bộ sử Phật giáo khác của thời Lý là Nam tông tự pháp đồ của Thường Chiếu
(?-1203) cũng đã được các trí thức thời Lê sơ ngưỡng mộ và cho in lại.
Phan Huy Chú trong Văn tịch chí của Lịch triều hiến chương loại chí 45 tờ
105a6-7vào thế kỷ XIX đã ghi nhận là Lương Thế Vinh (đậu Trạng nguyên năm
1463) có viết tựa cho tác phẩm này của Thường Chiếu. Sử học Phật giáo vào
thời Lê sơ như thế tỏ ra được giới trí thức thời đó chăm sóc khá kỹ lưỡng.
Mà cũng nhờ thế mà bộ Thiền uyển tập anh mới đến được với chúng ta ngày
hôm nay.
5. TRUYỀN BẢN
ĐỜI LÊ I
Đây là truyền
bản xưa nhất hiện còn qua bản in năm 1715. Nó gồm cả thảy 72 tờ, mỗi tờ 2
trang, mỗi trang 11 dòng, mỗi dòng 17 chữ. Chữ in khá đẹp, gồm có hai
loại. Loại chữ cỡ lớn dùng để in chánh văn, và loại chữ cỡ nhỏ dùng để in
chú thích. Về loại chữ cỡ nhỏ thì mỗi dòng có đến hai hàng, mỗi hàng trung
bình có 24 chữ hay ít hơn.
Sách chia làm
hai quyển, gọi là Thiền uyển tập anh ngữ lục quyển thượng và Thiền uyển
tập anh quyển hạ. Nhưng vì nó đánh số tờ liên tục, và vì chỉ ghi quyển
thượng ở tờ 4a1 đầu sách sau lời tựa và quyển hạ ở tờ 72b11 cuối sách nên
ta không biết đích xác đâu là quyển thượng chấm dứt và quyển hạ bắt đầu.
Dẫu thế, chúng ta có thể đoán là quyển thượng chấm dứt ở tờ 43a1 và quyển
hạ bắt đầu từ tờ 44a1 trở đi, dựa vào những bằng chứng sau: 1. từ tờ 44a1
trở đi là phần mô tả thiền phái Pháp Vân 2. trước tờ 44a1 đấy, tờ 43 hầu
như hoàn toàn bỏ trống, như muốn tỏ có một khoảng cách đặt biệt, mà những
tờ khác không thấy có, và 3. tờ 43a1 bắt đầu có ghi nhan đề Thiền uyển
tập anh. Bằng chứng thứ ba này dĩ nhiên không có hiệu lực mấy do sự có mặt
của nhan đề ấy ở những tờ khác, đấy là tờ 26b1, tờ 66b1 và tờ 71b1. Sự có
mặt đó như chúng tôi đã phân tích trên, chứng tỏ rằng tự nguyên ủy Thiền
uyển tập anh có đến 5 hay 6 quyển, như Văn tịch chí của Phan Huy Chú đã
ghi.
Thế thì, việc
chia sách thành hai quyển thượng, hạ xuất hiện từ bao giờ? Câu hỏi này
hiện chưa trả lời dứt khoát được. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng nó không phải
xuất hiện với bản in năm 1715 đây. Ngược lại, nó đã xuất hiện trong chính
bản đáy của bản in đó. Lý do cho một suy nghĩ như vậy xuất phát từ một
nhận xét chủ quan về văn bản của nó.
Mặc dù người
viết tựa cho bản in năm 1715 trên thú nhận có thực hiện việc “chỉnh cú”
nhằm “sửa lại những chỗ thiếu mất và thêm vào những chữ bị rơi rớt” để
tiện in lại, nói chung ông đã làm việc ấy một cách tương đối cẩn thận và
có tính khoa học phê bình cao. Chẳng hạn, trong truyện Đạo Hạnh ở tờ
53b10, sau khi viết “hậu ứng tăng quan ngự thí trúng” (sau đó ứng thi
điện thí tăng quan đỗ) ta thấy bản in để trống một khoảng cho đúng vừa 7
chữ, rồi viết tiếp “dĩ tà thuật ngỗ Diên Thành Hầu” (dùng tà thuật làm
mích lòng Diên Thành Hầu). Bây giờ, khảo truyện Từ Đạo Hạnh trong Lĩnh nam
chích quái tờ 77, mà cốt truyện và ngữ cú hoàn toàn đồng nhất với truyện
Đạo Hạnh của Thiền uyển tập anh, thì câu bắt đầu từ chữ “hậu” đến Diên
Thành Hầu đọc thế này: “Hậu ứng tăng thí trúng Bạch liên khoa, Vị cơ phụ
Vinh dĩ tà thuật ngỗ Diên Thành Hầu”. Rõ ràng, khoảng trống 7 chữ của
Thiền uyển tập anh tờ 53b10 chính là chỗ của 7 chữ chúng tôi in nghiêng
trong câu dẫn từ Lĩnh nam chích quái truyện, chứ không có một ý nghĩa nào
khác.
Chúng tôi
nghĩ rằng bản đáy của bản in năm 1715 đến khúc những chữ đó bị rách nát
nên người chỉnh cú đã để nguyên khoảng trống lại, nhằm lưu ý những người
sau về sự rách nát hay thiếu sót ấy, với mục đích khi nào có được bản mới
thì bổ khuyết vào. Trong Thiền uyển tập anh hiện nay, ngoài nửa dòng trống
vừa nói, chúng tôi tìm thấy những khoảng trống khác có một ý nghĩa tương
tự ở những tờ 12b3, 12b5, 12b8 và 13a6 truyện Viên Chiếu, tờ 27b8 truyện
Tín Học, tờ 49b4, 49b7 và 50a1 truyện Ma Ha, nhưng hiện chưa có những văn
bản khác để hiệu thù và bổ sung.
Xét trường
hợp để trống gần nửa dòng ở truyện Đạo Hạnh vừa nêu, chúng tôi cho rằng
người làm công tác chỉnh cú cho bản in đời Lê đã tỏ ra có một cẩn thận
khoa học tốt và một khả năng phê bình cao. Từ nhận xét ấy, chúng tôi bắt
buộc phải kết luận là có lẽ ông không có khuynh hướng tổ chức lại cả một
quyển sách xưa bằng cách phân chia lại quyển số của nó. Và thực sự, nếu ta
có giả thiết là ông đã làm việc đó, thì sự có mặt của nhan đề Thiền uyển
tập anh ở những tờ 26b1, 66a1, 71a1 thực khó mà giải thích một cách ổn
thỏa, bởi vì nếu có sự phân chia lại quyển số, thì tại sao lại còn để
những nhan đề như vậy hiện diện? Sự hiện diện chúng có ý nghĩa và mục đích
gì? Ta thật không bao giờ có thể trả lời được những câu hỏi như thế, nếu
giả thiết sự phân chia Thiền uyển tập anh thành quyển thượng và quyển hạ
bắt đầu với những chỉnh cú của nó vào năm 1715. Do đó, chúng tôi cho rằng
sự phân chia thành hai quyển thượng, hạ đó đã xuất hiện ngay trong để bản
của bản in năm ấy, nghĩa là, đã xuất hiện từ lâu trước năm đấy. Lý do cho
sự phân chia có lẽ bắt nguồn từ cái muốn làm hợp lý lại tổ chức của cuốn
sách.
Thực vậy, nếu
chia Thiền uyển tập anh thành quyển thượng và quyển hạ như truyền bản đời
Lê đã có, thì việc phân tích nội dung nó thật dễ thấy và nhất quán. Đó là
quyển thượng mô tả về dòng thiền Kiến Sơ, và quyển hạ nói về dòng thiền
Pháp Vân với một bản danh sách những thiền sư của dòng Thảo Đường. Ngược
lại, nếu chia nó thành 5 hay 6 quyển thì tính nhất quán và dễ thấy không
được nổi bật cho lắm, dù không phải là mất hẳn. Chẳng hạn, nếu là 5 quyển
thì quyển 1 và 2 tả dòng thiền Kiến Sơ, quyển 3 và 4 tả dòng thiền Pháp
Vân, và quyển 5 ghi danh sách phái Thảo Đường.
Dẫu sao chăng
nữa, việc phân chia Thiền uyển tập anh thành hai quyển thượng, hạ cho đến
năm in 1715 vẫn chưa được dứt khoát chấp nhận. Cho nên, trong truyền bản
lưu hành hiện nay ta mới phát hiện ra sự có mặt của những chứng tích tỏ ra
nó tự nguyên ủy gồm 5 hay 6 quyển như đã nói. Chính sự chưa dứt khoát đó
một lần nữa chứng tỏ sự tôn trọng để bản và tính cẩn thận khoa học của
người làm công tác chỉnh cú cho bản in năm 1715 ấy.
Người làm
công tác chỉnh cú vừa đề cập, ngày nay ta không biết tên gì. Nhưng qua bài
tựa do ông viết vào “ngày tốt của tháng tư năm Vĩnh Thịnh 11 triều Lê”
(1715) thì ông là một nhà Nho có học và yêu chuộng Phật giáo. Ông đã làm
công tác chỉnh cú qua lời yêu cầu của “một thiền hữu” của ông. Vị học trò
thiền này, ông không nói rõ là ai, song ta có thể giả thiết là Như Trí.
Nhà Nho Phật
tử ấy, dù với tính cẩn thận khoa học tốt và khả năng phê bình cao, đã thực
hiện việc chỉnh cú trong một điều kiện thư tịch không được như ý muốn lắm.
Cho nên, truyền bản đời Lê này đang còn chứa khá nhiều sai lầm, đôi khi
sai lầm rất lớn. Tuy nhiên, thật khó mà phân biệt rõ ràng đâu là sai lầm
của chính người chỉnh cú, và đâu là của chính những người có trách nhiệm
khắc bản. Chúng tôi đánh giá tổng quát toàn bộ bản in thì nó chứa nhiều ưu
điểm vượt hẳn bản in đời Nguyễn về nhiều mặt, trong đó mặt hình thức đại
cương đã phân tích ở trên.
Về mặt nội
dung thì sách chia làm bốn phần. Phần I từ tờ 1a1 đến 3b6 gồm bài tựa viết
vào một “ngày tốt tháng tư năm Vĩnh Thịnh 11 triều Lê”, mà không ghi tên
người viết, và bản danh sách những môn đồ của Thích Như Trí, giả thiết là
những người đóng góp vào việc khắc bản cho bản in năm ấy. Phần này có
trong bản in 1750 và hoàn toàn không có trong bản in đời Nguyễn. Phần II
từ tờ 4a1 đến 43a1 mô tả 16 thế hệ truyền thừa của dòng Kiến Sơ, bắt đầu
từ Vô Ngôn Thông (759?-826) cho đến Ứng Thuận, gồm truyện của cả thảy 39
người. Phần III từ tờ 44a1 đến 71a1 mô tả 21 thế hệ truyền thừa của dòng
Pháp Vân, từ Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?- 594) đến Y Sơn (?-1213), gồm truyện của
cả thảy 29 người. Phần IV từ tờ 71b1-72b11 là một bản danh sách các thiền
sư thuộc phái Thảo Đường, bắt đầu từ Thảo Đường cho tới Phạm Đẳng, gồm cả
thảy 19 người không có truyện.
Bốn phần này,
nếu đem so sánh với nội dung của truyền bản in khoảng năm 1750 và bản in
đời Nguyễn ta sẽ thấy có những so le đáng chú ý, mà người đọc có thể thấy
trong bản đối chiếu dưới đây. Điều này làm nổi bật hẳn giá trị văn bản của
truyền bản đời Lê của chúng ta.
Về người đứng
in bản văn và nơi in, bản in năm 1715 này không cho biết rõ ràng gì hết,
một điều thường trái với thông lệ. Tuy nhiên, ta có thể đoán là Thích Như
Trí cùng những môn đồ của ông, mà bảng danh sách ở tờ 3b1-6 ghi tới tên 15
người gồm cả nhà tu lẫn người đời. Tung tích những người này, ta hiện có
một số thông tin.
Về Như Trí,
ta ngày nay có hai nguồn tư liệu. Thứ nhất, Tiêu Sơn Thiên Tâm cúng tổ
khoa tờ 13a5-6 đã ghi thiền sư Như Trí như một vị tổ của chùa Thiên Tâm:
“Nam mô Viên Huệ tháp hòa thượng Như Trí thiền sư hóa thân Bồ tát”. Văn
bản Tiêu Sơn Thiên Tâm cúng tổ khoa này do Tịnh Từ soạn và in vào năm Tự
Đức thứ 3 (1850).
Cùng với Như
Trí, ta thấy một loạt các vị thiền sư khác được Tịnh Từ kể tên, bắt đầu
với Vạn Hạnh Quốc sư, rồi Thủy Nguyệt, Tông Diễn, cho đến Hải Điện và Tịch
Lâm. Đặc biệt, Tịnh Từ nhắc đến ba lần Giác Trí Không Không Viên Giác
thiền sư trước khi nhắc đến các vị tổ kia. Điều này chứng tỏ Tịnh Từ là đệ
tử của Giác Trí Không Không và khi viết Tiêu Sơn Thiên Tâm cúng tổ khoa,
là nhắm để cúng chủ yếu vị thiền sư này. Qua văn bản này, ta biết Như Trí
là vị thiền sư đã từng làm trụ trì ngôi chùa mà thiền sư Vạn Hạnh đã từng
sống và làm việc.
Về niên đại
của Như Trí, ta hiện có thể dựa vào tiểu sử của Như Trúc, vị trụ trì của
chùa Bút Tháp nổi tiếng, khắc trên tháp của vị thiền sư này. Theo tiểu sử
thì Như Trúc sinh năm 1691 và mất năm 1735, hưởng dương được 45 tuổi ta.
Trong quảng đời ngắn ngủi ấy, Như Trúc đã xuất gia làm đệ tử của Như Trí.
Khi Như Trí tịch, Như Trúc đã đến Đông Sơn sống 5 năm, rồi lên Long Động,
sau đó trở về làm trụ trì chùa Bút Tháp 13 năm trước khi mất. Ta không
biết chắc chắn Như Trúc đã ở chùa Long Động bao lâu, nhưng có thể giả
thiết là không dài lắm. Bởi vì nếu cọng thời gian ở Đông Sơn và Bút Tháp
thì cũng đã lên tới 18 năm, nghĩa là Như Trúc đã rời Như Trí để lên Đông
Sơn không chậm hơn năm 1717. Mà Như Trúc lên Đông Sơn là sau khi Như Trí
đã mất. Do thế, ta có thể rút ra kết luận là Như Trí phải mất vào khoảng
năm 1717 trở về trước. Bây giờ ta biết năm 1715 Như Trí còn đứng in Thiền
uyển tập anh. Vậy có khả năng Như Trí đã mất vào khoảng 1716.
Về những đệ
tử của Như Trí tham gia vào việc in lại Thiền uyển tập anh như Tín Nhu,
Tín Phụng ta hiện tìm thấy tên trong bảng danh sách các môn đồ thuộc dòng
phái của Minh Châu Hương Hải (1628-1715) ghi trong Hương Hải thiền sư ngữ
lục
. Điều này giúp ta xác định được dòng
thiền của Như Trí. Đó là dòng thiền do Minh Châu Hương Hải (1628-1715)
truyền bá tại vùng đồng bằng sông Hồng. Về nơi tạng bản của bản in năm ấy
cũng do việc xác định Như Trí từng trụ trì chùa Thiên Tâm tại Tiêu Sơn,
nên ta có thể khẳng định nơi đứng ra in Thiền uyển tập anh chính là chùa
Thiên Tâm ở Tiêu Sơn.
Xác định này
đem lại cho ta một hiểu biết mới về bản đáy của bản in An Thiền. Trong bản
in của mình ở Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục, An Thiền đã ghi là
ông dựa vào “Tiêu Sơn cựu bản” để in lại Thiền uyển tập anh. Như vậy,
“Tiêu Sơn cựu bản” chính là bản gỗ ở Tiêu Sơn, tức bản gỗ do thiền sư Như
Trí đã đứng khắc. Từ đó, bản in đời Nguyễn nói dựa vào “bản gỗ xưa của
chùa Tiêu Sơn” (cựu bản Tiêu Sơn tự) chính là bản in của Như Trí vào năm
1715.
6. TRUYỀN BẢN
ĐỜI LÊ II
Truyền bản
đời Lê II là bản in khổ 30x20cm, gồm có 74 tờ, mỗi tờ 2 trang, mỗi trang
11 dòng, mỗi dòng 16 chữ, trừ những dòng in tên sách và đề mục cùng những
chú thích khắc chữ nhỏ. Chữ khắc chân phương, dễ đọc, rất giống với nét
chữ của bản in 1715, nên rất dễ gây ra sự lầm lẫn giữa bản này và bản đời
Lê I, nếu không chú ý kỹ. Nét chữ của nó mập hơn bản kia. Sau bản đời Lê I
xuất hiện một thời gian, nó đã được in lại và trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp
tìm thấy vào khoảng năm 1930.
Theo Trần Văn
Giáp mô tả
thì đây là một văn bản về cơ bản hoàn
toàn giống với bản đời Lê I, chỉ khác là ngay sau bài tựa ở tờ 3b, có thêm
3 tờ ghi số 8, 9 và 10 in kèm vào. Tờ 8 mặt a in hình và mặt b khắc tiểu
sử của Trúc Lâm Điều Ngự. Tờ 9 mặt a in hình và mặt b khắc tiểu sử của
Pháp Loa Phổ Tuệ tổ sư. Tờ 10 mặt a in hình và mặt b khắc tiểu sử của
Trạng nguyên Huyền Quang tôn giả. Và cuối sách, sau tờ 72b có thêm 2 tờ 73
và 74 chép lời bạt không ghi ngày và tên người viết cùng một danh sách
những tín thí cúng tiền in sách. Gaspardone
cũng mô tả tương tự và còn cho ta biết
đây là bản đã được nhập vào kho sách của trường Viễn Đông Bác Cổ, với ký
hiệu số A.1782 và truyền lại cho tới ngày nay, (từ đây ta gọi là bản đời
Lê II) và thường được coi là đại diện cho bản in của đời Vĩnh Thịnh 11
(1715), tức truyền bản đời Lê I.
Nhưng đây là
một quan niệm sai lầm, bởi vì nếu nghiên cứu sâu vào văn bản của nó, ta sẽ
thấy bản Lê II này không hoàn toàn thống nhất với bản Lê I. Thật sự nếu
không có 3 tờ 8, 9, 10 và 2 tờ chép lời bạt ở cuối, thì mới trông qua, bản
in đời Lê II này, về mặt chữ, về số trang, về số chữ đều giống với bản đời
Lê I, gây cho ta ấn tượng hai truyền bản nầy là một.
Trong khi
tiến hành nghiên cứu để làm hiệu chỉnh, chúng tôi mới khám phá ra rằng hai
bản này tuy có vẻ giống nhau nhưng có nhiều khác biệt. Thứ nhất, người
đứng in truyền bản Lê II đã sửa chữa những chữ sai trong truyền bản Lê I.
Thí dụ, tờ 4a7
bản Lê I có “túc dạ” ¨¬ ©] , thì bản Lê
II sửa thành “thị dạ” ¬O ©] ; tờ 11a11 Lê I có “thục thị” ¼ơ ¬O , bản
Lê II có “thục thị” ¼ơ ¬O ; tờ 20a6 Lê I viết Lưu Hán với chữ Lưu ¬y là
dòng, trôi, còn bản Lê II có Lưu ¼B là họ Lưu viết theo lối giản thể
Thứ hai, là
bản Lê II bổ sung những chữ sót mà bản Lê I bị coi là thiếu. Thí dụ, tờ
17b6 bản Lê I có “Minh nhị Thiền sư” thì bản Lê II bổ sung thành “Minh Tâm
nhị thiền sư”; tờ 26a2-3, Lê I có “Nho giả, nghĩa chi tích”, bản Lê II bổ
sung thêm thành “Nho giả, nhân nghĩa chi tích” v.v... Nói chung, bản Lê II
đã thực hiện một số những hiệu chỉnh, nghĩa là sửa những chữ sai và thêm
những chữ thiếu đối với bản Lê I. Ai làm công việc này, hiện nay ta không
được bảo cho biết. Căn cứ vào lời bạt ở cuối bản Lê II này, mà chúng tôi
sẽ cho in nguyên bản và dịch ở Phụ lục IV, ta thấy những người góp tiền in
bản này gồm những kinh chủ và hội chủ, tất cả đều có pháp danh chữ Tính
hoặc chữ Diệu. Điều này chứng tỏ họ phải là đệ tử của những vị thầy có chữ
Như, theo Truyền pháp kệ của phái Trí Bảng Đột Không của dòng Lâm Tế đang
thịnh hành tại miền Bắc nước ta vào thời điểm ấy:
Trí tuệ thanh tịnh
Đạo đức Viên Minh
Chân như tính hải
Tịch chiếu phổ thông.
Những Thiền
sư có chữ Như vào đầu thế kỷ XVIII như: Như Trừng (1690-1728), Như Nhàn
(1655-1724), v.v… như vậy, có đệ tử chắc chắn phải sống vào nửa đầu thế kỷ
này trở đi, tức có khả năng sống tới những năm 1750. Do thế, những kinh
chủ như Nguyễn Công Kính pháp danh Tính Trác, Nguyễn Công Vận pháp danh
Tính Chuyên, những hội chủ như Trần Tuấn Đức pháp danh Tính Trì, Trần Tuấn
Vượng pháp danh Tính Duệ, Đoàn Đình Khôi pháp danh Tính Pháp, Trần Đăng
Minh pháp danh Tính Thường v.v…, quyết phải sống vào khoảng thời gian vừa
nói. Vì vậy, việc in truyền bản đời Lê II này tất nhiên xảy ra vào những
năm trước sau năm 1750.
Đó là về thời
điểm ra đời của bản Lê II. Căn cứ vào quê quán của những kinh chủ và hội
chủ này, ta thấy tập trung vào bốn xã chính, là Trung Mâu, Tử Nê, Đông Sơn
và Lễ Xuyên. Trong số này, Lễ Xuyên nằm tại huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn
thuộc Kinh Bắc cũ, còn Trung Mâu thì hoặc là tên xã thuộc huyện Tiên Du
cũng của phủ Từ Sơn, hoặc thuộc huyện Hưng Nguyên của Nghệ An. Nhưng Trung
Mâu của Nghệ An hẳn không là quê của những người tham gia in truyền bản Lê
II này. Hai xã Đông Sơn và Tử Nê thì ở các tỉnh Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải
Dương, Thanh Hóa đều có, song ở đây, chúng phải thuộc về huyện Tiên Du,
Kinh Bắc. Tóm lại, tất cả những người đứng in truyền bản này đều thuộc
vùng Từ Sơn, Kinh Bắc
.
Như vậy, truyền bản ấy có phải là bản cũ của chùa Tiêu Sơn mà Phúc Điền
hòa thượng đã xử dụng để in lại hay không, ta hiện có thể trả lời là không
phải. Lý do nằm ở chỗ, những chữ do truyền bản Lê II hiệu chỉnh đã không
thấy xuất hiện đầy đủ trong bản in của hòa Thượng Phúc Điền.
Truyền bản Lê
II này từ đó có thể nói là một dị bản của truyền bản Lê I với một số cải
chính và hiệu đính, làm cho truyền bản Lê I tốt hơn. Sự xuất hiện mấy mươi
năm sau truyền bản Lê I của nó tỏ ra phong trào nghiên cứu và học tập lịch
sử Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ XVIII rất sôi động và khởi sắc. Để cung
cấp tư liệu, chúng tôi cho dịch lại lời Bạt theo lần in cho truyền bản Lê
II này, gọi là: Thiền uyển tập anh bạt hậu, nơi Phụ lục IV.
7. TRUYỀN
BẢN ĐỜI NGUYỄN
Trong lời tựa
viết cho việc in lại “năm quyển Truyền đăng” thảo ra vào ngày 15 tháng
giêng năm Tự Đức thứ 12, tức ngày 12 tháng 2 năm 1858, và in vào đầu bộ
Ngự chế thiền điển thống yếu Kế đăng lục hay gọi tắt Kế đăng lục, nhan đề
San khắc truyền đăng thủ Trần gia bản, nhưng ở gáy lại ghi rõ hơn là
Truyền đăng ngũ quyển tân tự, An Thiền đã trình bày khá tường tận ý muốn
xuất bản một bộ sử thiền tông Việt Nam của mình và phương án để thực hiện
ý muốn đó. Đấy là lấy bộ Thiền uyển tập anh làm quyển thượng, lấy bộ Kế
đăng lục của Như Sơn gồm ba quyển, tức quyển nhất, quyển tả và quyển hữu
làm ba quyển tiếp theo, còn quyển cuối cùng thì đó chính An Thiền sáng tác
viết về “ba tổ đời Trần, hai phái Lâm Tế và Tào động, hai phía đạo đời làm
thành một tập cùng những ghi chú lặt vặt sách ngoài, riêng làm quyển hạõõ.
Bộ Truyền đăng ngũ quyển này, cứ vào cái tên ghi ở quyển thượng tức Thiền
uyển tập anh có lẽ có tên Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục hay gọi
tắt là Thiền uyển Truyền đăng lục, hay Đại nam thiền uyển truyền đăng. Dẫu
sao chăng nữa, đó là những tên An Thiền dùng để gọi bộ Thiền uyển tập anh
của chúng, sau khi đã thêm vào hai chữ “quyển thượng”.
Quyển thượng
của bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng như vậy chắc chắn in xong trước năm
1858, hay cùng lắm thì in xong vào năm đó. Nó gồm cả thảy 65 tờ, mỗi tờ 2
trang, mỗi trang 10 dòng, mỗi dòng 21 chữ. Chữ in thật đẹp, cùng một cỡ,
trừ một số rất ít có chữ cỡ nhỏ để chú thích. Nhưng vì những nguyên chú
xuất hiện trong truyền bản đời Lê, phần lớn đã bị bản in này in thành cỡ
chữ lớn nên số chữ cỡ nhỏ trở thành không quan trọng gì cho lắm. Bắt đầu
mỗi truyện, nó in trồi lên một ô. Vì thế, tuy nói mỗi dòng 21 chữ, nhưng
thật sự thì chỉ dòng bắt đầu mỗi truyện mới có số chữ đó, còn tất cả những
dòng còn lại thì chỉ có 20 chữ mà thôi. Mỗi dòng đều có chấm câu, nhưng
công tác chấm câu không được thực hiện một cách đạt yêu cầu, nên đôi chỗ
chấm câu hoàn toàn sai.
Sách không
chia thành nhiều quyển và cũng không có một dấu tích gì cho phép ta giả
thiết là nó gồm nhiều quyển hết. Từ đầu tờ 1a1 nó có tên Trùng khắc Đại
nam thiền uyển truyền đăng tập lục quyển thượng. Ở cuối sách tờ 65a10 nó
cũng có tên Đại nam thiền uyển truyền đăng quyển thượng. Còn gáy các tờ từ
1 cho đến 65 đều có ghi Thiền uyển Truyền đăng lục quyển thượng. Sự thống
nhất toàn bộ bản Thiền uyển tập anh thành quyển thượng của bộ Đại nam
thiền uyển truyền đăng tập lục này dĩ nhiên là công cũng như tội của An
Thiền. Chính trong lời tựa dẫn trên, Thiền đã minh xác rất rõ ràng vai trò
của mình trong việc tạo nên quyển thượng đấy. Ông nói: “Kịp đến nước ta
thì xưa có Thiền uyển làm lục, Tập anh làm tên, ghi lấy thạc đức cao tăng
của ba triều, trình sơ nét chính, nhưng bên trong sai lầm không phải một,
ngược lộn không kể ra, do đó tôi đã hiệu đính lại, viết sạch ra mà khắc
vào bản gỗ, để bảo tồn bản văn xưa, riêng làm quyển thượng”. Như vậy Thiền
không những là người tổ chức lại bản văn của Thiền uyển tập anh cũ mà còn
làm công việc chỉnh cú và hiệu đính bản văn đó cùng việc in nó ra nữa.
Thực vậy, trùng khắc Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục quyển thượng
tờ1a2 ghi rõ: “Hòa Thượng Phúc Điền chùa Liên Tôn có giới đạo độ điệp
thuộc phái Lâm Tế hiệu đính và khắc bản”.
Hòa Thượng
Phúc Điền là đạo hiệu của An Thiền, vị Sư trú trì chùa Đại Giác ở Bồ Sơn,
Bắc Ninh. Ông là một dịch giả quốc âm lớn cũng như một nhà nghiên cứu có
tiếng tăm của thế kỷ thứ XIX. Trong bài tựa Quốc âm tiểu luận viết ở đầu
sách Khóa hư giải âm, An Thiền đã ghi 34 bộ kinh sách Phật giáo do chính
ông dịch quốc âm và do một “Trưởng lão” nhóm sơn môn lại để khắc bản ra từ
năm 1840 đến năm 1861, đó là:
1. Kim cương
kinh 1 quyển
2. Di Đà
kinh 1 quyển
3. Qui sơn
cảnh sách 2 quyển
4. Sa di
sớ 2 quyển
5. Thiền lâm
bảo huấn 4 quyển
6. Đại đường
từ ân xuất gia châm 1 thiên
7. Di Sơn đại
sư phát nguyện 1 văn
8. Vân Thê
đại sư phát nguyện 1 văn
9. Trúc
song 3 quyển
10.Hộ pháp
luận 1 quyển
11.Khóa hư
lục 3 quyển
12.Thái căn
đàm 1 quyển
13.Tam giáo
nhất nguyên 1 quyển
14. Nhân sinh
nhất đán 1 văn
15. Bán
điểm 1 văn
16. Hàn lâm
sở 1 quyển
17. Vương thị
cảnh thế lương ngôn 1 thiên
18. Tân soạn
thích giáo chân ngôn 1 thiên
19. Tiên nho
công luận 1 thiên
20. Thượng
đường quốc ngữ 1 thiên
21. Phụng
Phật tổ đối liễu kỷ cú
22. Hoa
nghiêm phương san kinh 82 quyển
23. Giải hoặc
thượng hạ 2 quyển
24. Tam giáo
quản khuy nho thích đạo 3 tập
25. Truyền
đăng Phật tổ 5 quyển
26. Phật tổ thống kỷ
27. Cổ bản
phạn giáp 54 quyển
28. Kim vi
phương sam 20 quyển
29. Tại gia
tu trì
30. Đạo giáo
nguyên lưu 2 quyển
31. Tiểu du
già 1 quyển
32. Lễ thiên
địa lương tinh cập âm hồn bài vị 22 bài
33. Trùng
khắc đại giới điệp 1 trương
34. Tân biên
ngũ giới thập giới điệp 1 trương
Theo Thích
song tổ ấn tờ 3a6-7 do Tịnh Hạnh viết vào năm 1924 thì hòa Thượng Phúc
Điền có dịch “Đại nam thiền uyển tập một quyển, Trúc song một bộ, Phật tổ
thống chí một bộ”, vào năm Minh Mạng thứ 9 (1828). Trúc song và Phật tổ
thống chí đều có ghi trong số 32 dịch phẩm vừa dẫn, nhưng Đại nam thiền
uyển tập, mặc dù Thích song tổ ấn nói có một quyển, ta biết chắc chắn là
phải gồm cả thảy năm quyển, như đã bàn cãi ở trên và chúng tôi chưa tìm
thấy một dấu vết gì khác về một bản dịch quốc âm của nó. Ngoài những dịch
phẩm đấy, chúng tôi hiện đã tìm được Đạo giáo nguyên lưu ba quyển, Thiền
lâm qui ước ba quyển, Tân tập tại gia nhật dạ tu trì nghi thức một quyển,
Phóng sanh giới sát văn một tập, Tiểu du già , Hàn lâm sở, nhưng tất cả
đều bằng Hán văn. Chỉ mới phát hiện đều các bản dịch Kim cương, Di Đà và
Khóa hư lục bằng quốc âm.
An Thiền như
vậy là một tác giả lớn không những của Phật giáo thế kỷ thứ XIX, mà còn là
của văn học và tư tưởng nước ta thế kỷ đó. Việc ông cho ra đời bộ Đại nam
thiền uyển truyền đăng tập lục không phải không là một sáng kiến hay. Điều
đáng tiếc là ngoài bài tựa San khắc truyền đăng thủ Trần gia bản dẫn trên,
giới thiệu tổng quát phương án và tư liệu của việc in ra bộ đó, An Thiền
đã không viết giới thiệu riêng cho từng quyển. Do thế, ngày nay ta không
thể chắc chắn Thiền đã dùng truyền bản nào để in lại Thiền uyển tập anh
thành quyển thượng của Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục. Tuy nhiên,
vào tờ đầu quyển thượng của Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục, Thiền
chua “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn”, với ý nghĩa là, Thiền đã dùng truyền bản
của bản gỗ chùa Tiêu Sơn. Về lai lịch bản gỗ ấy, ta hiện có thể đồng nhất
với truyền bản đời Lê của bản in năm 1715. Bởi vì, ngoài những xuất nhập
văn bản, mà ta hiện chưa thể phát hiện nguồn gốc, tối thiểu ta đang có một
chứng cớ tỏ ra “bản gỗ cũ của chùa Tiêu Sơn” dứt khoát phải là truyền bản
đời Lê in năm 1715. Đấy là ở truyện Viên Chiếu, bản của Phúc Điền hòa
thượng tờ 11a9 thiếu hẳn cơ duyên thoại ngữ của đúng một tờ trong bản in
1715, tức từ tờ 14b9 đến tờ 15b9. Chúng tôi do thế nghĩ “bản gỗ cũ chùa
Tiêu Sơn” phải là truyền bản của bản in năm 1715 cũng như bản đời Lê II.
Kết luận như
vậy, ta sẽ qui trách nhiệm hoàn toàn cho An Thiền về sự ra đời của những
xuất nhập xảy ra giữa truyền bản đời Lê I và Lê II và truyền bản đời
Nguyễn. Đây là một kết luận phải chăng, và sự có mặt của những xuất nhập
chỉ biểu hiện cho sự ưu việt của truyền bản đời Lê mà thôi, không hơn
không kém. Cũng cần thêm rằng những xuất nhập ấy có lẽ đã xuất hiện trong
bản đời Nguyễn xuất phát từ một cây bút có liên hệ với truyền thống chùa
núi Phả Lại. Bởi vì sự sai khác giữa hai truyền bản đời Lê và truyền bản
đời Nguyễn chủ yếu nằm trong truyện Không Lộ. Không Lộ theo truyền bản đời
Lê là vị Sư của chùa Nghiêm Quang ở Hải Thanh, trong khi truyền bản đời
Nguyễn muốn gồm luôn cả chùa núi Phả Lại nữa. Truyền thống liên kết Không
Lộ với chùa núi Phả Lại ấy đã thấy xuất hiện trong An nam chí lược 15 tờ
147, như vậy chứng tỏ có một lịch sử xa xưa. Từ đó, không cần phải đợi đến
An Thiền mới nảy ra cố gắng tạo nên một truyền thuyết mới về Không Lộ.
Do thế, về
nội dung truyền bản đời Nguyễn, tuy chủ yếu là đồng nhất với hai truyền
bản đời Lê, đã có hai xuất nhập chủ chốt. Thứ nhất, nó hoàn toàn thay đổi
truyện của Không Lộ bằng một nội dung mới khác hẳn với truyện Không Lộ của
truyền bản đời Lê I và Lê II. Thứ hai, nó thiếu truyện Minh Không ở thế hệ
13 của dòng thiền Pháp Vân. Sự thiếu truyện Minh Không này có thể không
phải do người đứng khắc “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn” hay chính An Thiền tạo
nên từ hành động loại bỏ văn bản có ý thức của họ. Trái lại, nó có lẽ xảy
ra, vì truyền bản của “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn” hay chính bản thân bản gỗ
cũ đó đã thiếu mất một tờ, khi An Thiền sử dụng để in lại thành quyển
thượng của bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục. Lý do cho một giả
thiết như thế nằm ở chỗ truyện của Minh Không trong bản in năm 1715 chiếm
đúng một tờ, tức từ tờ 59b2 đến 60b1, mà có thể rơi đúng lên khuôn một tờ
của truyền bản nguyên ủy của đời Nguyễn, chớ không phải ăn thâm đến hai tờ
khác nhau, như ở trường hợp truyện Viên Chiếu. Một lần nữa, nếu giả thiết
ấy tỏ ra đúng đắn, thì sự thiếu truyện Minh Không vừa nêu là một chứng cớ
khác cho khẳng định rằng “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn” phải là bản in năm
1715.
Ngoài ra, bản
in do An Thiền thực hiện đã không có lời tựa của người hiệu đính bản in
năm 1715. Đấy có thể là do Thiền cố ý loại bỏ. Chúng tôi nghĩ, trường hợp
này gần đúng với sự thực hơn, bởi lẽ nội dung bài tựa bản in năm 1715
không có liên hệ gì với mục tiêu An Thiền đang làm đối với Đại Nam thiền
uyển truyền đăng tập lục, nên An Thiền đã loại bỏ. Do thế, đấy là có thể
là một chứng cứ thứ ba cho ta khẳng định rằng “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn”
phải là bản in năm 1715. Khẳng định như vậy, ta vẫn chưa biết văn bản của
truyền bản đời Nguyễn trước “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn” là ra sao cả. Dẫu
thế, trừ sự sai khác chính yếu về truyện Không Lộ chưa thể giải quyết một
cách thỏa đáng trên, ta có thể nói nội dung truyền bản đời Nguyễn là đồng
nhất với truyền bản đời Lê, khi coi sự thiếu truyện Minh Không trong
truyền bản trước xuất phát từ việc mất một tờ trong “bản gỗ cũ chùa Tiêu
Sơn”, như truyện Viên Chiếu đã thiếu một tờ trong phần cơ duyên thoại ngữ.
8. BẢN CHÉP TAY A.2767
Đúng ra, sau
khi chúng ta đã có trong tay 3 bản in Thiền uyển tập anh, đó là bản in đời
Lê I, Lê II và đời Nguyễn, thì bản chép tay A.2767 do trường Viễn Đông Bác
Cổ Pháp thuê chép hiện tàng trữ tại thư viện Hán Nôm, Hà Nội, không đáng
cho ta bận tâm bàn cãi ở đây. Tuy nhiên, nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ
Pháp dùng vi phim chụp lại trước khi rời khỏi Hà Nội vào năm 1954, rồi phổ
biến cho những người nghiên cứu miền Nam sử dụng. Đặc biệt Viện đại học
Vạn Hạnh đã dùng nó làm bản đáy để chép lại và in ronéo ít lắm là hai lần
để làm tài liệu giảng dạy, vào những năm 1965 và 1966, từ đó được phát tán
rộng rãi, trong nước cũng như ngoài nước, cho nên bản chép tay A.2767 này
có cơ hội gây nhiều lầm lẫn cho những người học tập và nghiên cứu gần đây
. Do vậy, chúng tôi phải nói sơ đôi chút
về bản chép tay A.2767 này, để người sau thận trọng hơn khi phải dùng các
bản chép tay loại ấy.
Thứ nhất, bản
A.2767 có tên là Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, như vậy nó đã
dùng bản in thế kỷ XIX của thiền sư An Thiền ở chùa Đại Giác, Bồ Sơn, Bắc
Ninh, làm bản đáy để chép lại. Thứ hai, nó chép đúng theo khuôn khổ của
bản in đời Nguyễn, nghĩa là số trang, số dòng và số chữ cùng giống nhau
trên mỗi trang. Bản in năm 1966 do Ban Tu thư Đại học Vạn Hạnh ấn hành.
cũng theo cùng cỡ. Còn bản năm 1965 thì chép một cách tùy tiện nên không
kể tới. Thứ ba, vì chép đúng theo cỡ trang, số dòng và số chữ của mỗi
trang, bản này đã có những khuyết tật của bản đời Nguyễn, nghĩa là nó đã
loại bỏ truyện Không Lộ của dòng thiền Vô Ngôn Thông có trong bản đời Lê I
và Lê II và thế vào đó bằng một truyện Không Lộ mới, mà đôi khi nó lại
viết thành Không Lộ khi chép về chuyện Không Lộ đúc “Đại nam tứ khí”. Ở
truyện Viên Chiếu, nó thiếu một tờ giống như bản in đời Nguyễn. Và cuối
cùng nó không có truyện Minh Không. Những sai sót này, lúc ta so với bản
đời Nguyễn của thiền sư An Thiền, là tình trạng “tam sao thất bổn” mà
người xưa đã từng nói đến. Thứ tư, ngoài những chép sai, chép sót và chép
thiếu nằm rải rác ở khắp cả bản chép như nêu trên, bản sao A.2767 này đã
tùy tiện thêm thắt một số đoạn viết. Cụ thể là đoạn phiến về Khương Tăng
Hội trong truyện Thông Biện quốc sư, ở tờ 17a3, nó thêm năm chữ “Khương
Tăng Hội chi nhân”. Và sự tình này xảy ra là do việc trường Viễn Đông Bác
Cổ Pháp trả tiền công cho bản chép trên cơ sở số chữ đã chép, nên người
chép đã thêm một số chữ để kiếm thêm tiền, như ggiáo sư Hoàng Xuân Hãn đã
từng nhận xét
. Tóm lại, đây là một bản chép tồi tệ, không đáng để ta nói đến.
Trong lần
xuất bản trước vào năm 1976, bản nghiên cứu Thiền uyển tập anh của chúng
tôi không đề cập gì đến bản chép tay này vì suy nghĩ như thế. Nhưng do gần
đây những sai lầm của bản chép này đã gây ra nhiều nhiễu loạn cho nhận
thức trong giới nghiên cứu, đặc biệt là ở nước ngoài, vì không tiếp cận
được với những truyền bản gốc, nên đã nêu lên vài vấn đề tưởng có vẻ như
là khám phá mới mẻ, song thật sự chỉ là xuất phát từ những sai lầm đó mà
thôi. Do vậy, chúng tôi phải đưa ra vài nhận xét ở đây. Và vì nó phát tán
rộng rãi qua những lần in ronéo, nên trong khi làm bản hiệu đối, chúng tôi
ghi nhận sự sai biệt của nó đối với ba bản kia để giúp những người có bản
vi phim hay bản ronéo trong tay có thể dò theo để hiệu chỉnh lại cho đúng.
9. VẤN ĐỀ
CHỌN LỰA TRUYỀN BẢN
Sau khi đã
giới thiệu và phân tích tám truyền bản, mà ta hiện có thể truy cứu được,
thì rõ ràng truyền bản đời Trần, đời Hồ, đời Lê sơ và truyền bản 6 quyển
của Phan Huy Chú ngày nay đã hoàn toàn tán thất, do thế không giúp ích gì
lắm cho công tác lựa chọn đề bản của ta. Còn lại như vậy là truyền bản đời
Lê I, đời Lê II và truyền bản đời Nguyễn, mà chủ yếu là bản in năm năm
1715, khoảng năm 1750 và bản in năm 1858 của chúng. Với những phân tích
trên, ta bây giờ có thể so sánh và đánh giá trị văn bản của từng bản in.
Thứ nhất, về mặt hình thức, hai bản in đời Lê với những lời chua in bằng
khổ chữ nhỏ và với những dấu vết của truyền bản sáu quyển đã tỏ ra hơn hẳn
bản in đời Nguyễn bằng hai đặc điểm đó, mà bản in đời Nguyễn không có.
Tiếp đến, về nội dung, bản in đời Nguyễn, có lẽ vì mất một tờ, trong
nguyên bản, đã đánh rơi mất đúng gần một nửa số cơ duyên thoại ngữ của
Viên Chiếu trong truyện Viên Chiếu. Đồng thời truyện Không Lộ hoàn toàn
khác hẳn truyện Không Lộ trong hai bản đời Lê, biểu hiện một tạo dựng vụng
về hậu kỳ, mà ta hiện chưa thể xác định được nguồn gốc. Ngoài ra, vì
truyện Không Lộ của nó đã bao gồm luôn truyện của thiền sư Minh Không, nay
truyện Minh Không của dòng thiền Pháp Vân không xuất hiện trong phần viết
về dòng thiền đấy. Sự vắng mặt nó cũng có thể đến từ việc nguyên bản, mà
An Thiền dùng để in bản in năm 1858, đã bị mất tờ có truyện Minh Không.
Dẫu sao chăng nữa truyện Minh Không đã không thấy xuất hiện trong dòng
thiền Pháp Vân. Cuối cùng, về quyển số, vì gộp Thiền uyển tập anh vào làm
quyển thượng của bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, bản in đời
Nguyễn đã loại bỏ hết mọi dấu tích phân chia quyển số của hai bản in đời
Lê, một điều không phải là không nguy hiểm cho những người nghiên cứu.
Còn giữa bản
in đời Lê I và đời Lê II, khi so sánh, tuy bản đời Lê II có một số ưu điểm
là sửa lại những chữ sai và sót của bản Lê I, nhưng vì nó xuất hiện sau
bản Lê I và không phải lúc nào nó cũng sửa đúng cả, nên chúng tôi vẫn chọn
bản Lê I làm bản đáy. Và đó là chưa kể bản Lê II có đóng chung với ba tờ
7, 8, 9 khắc chân dung và ghi tiểu truyện của Trúc Lâm tam tổ, biểu thị nó
có một số pha tạp, mà ta hiện không biết lý do vì sao. Ít nhất, những pha
tạp đó đã làm nó mất đi khá nhiều tính đáng tin cậy của nó, như
Gaspardone đã vạch ra
.
Do thế, nếu
so sánh hai truyền bản đời Lê và bản đời Nguyễn, chúng tôi chọn truyền bản
đời Lê I mà cụ thể là bản in năm 1715, làm để bản, rồi tham khảo bản in
đời Lê II và Nguyễn cùng những trích dẫn của truyền bản đời Trần, đời Hồ
và đời Lê sơ để làm một bản hiệu cho công tác phiên dịch của chúng tôi.
Nói rõ ra, chúng tôi dùng bản in năm 1715 của Thiền uyển tập anh để dịch,
rồi tham khảo thêm bản đời Lê II và Nguyễn và những trích dẫn của truyền
bản đời Trần, đời Hồ và đời Lê sơ bổ sung cho cách đọc bản in năm 1715, và
trong một số trường hợp rất ít (không lên quá số ba), để cải chính cách
đọc của bản in đó. Xem bản hiệu đối đính kèm ở dưới.
II. VẤN ĐỀ
TÊN GỌI
Ba truyền bản
hiện lưu hành, đấy là truyền bản đời Lê I, đời Lê II và truyền bản đời
Nguyễn, mang những tên gọi khác nhau về Thiền uyển tập anh. Truyền bản đời
Nguyễn thì gọi Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục ở tờ 1a1, hay Đại
nam thiền uyển truyền đăng ở tờ 65a10 và Thiền uyển Truyền đăng lục ở gáy
từ tờ 1 đến tờ 65. Điều này không có nghĩa người đứng in truyền bản đời
Nguyễn, tức An Thiền không biết đến tên Thiền uyển tập anh đâu. Chính Đạo
giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a4, một tác phẩm của Thiền, đã liệt Thiền
uyển tập anh lục một (quyển) giữa những bản gỗ tàng trữ tại các chùa chiền
miền Bắc nước ta vào thế kỷ thứ XIX. Như vậy, “bản gỗ cũ chùa Tiêu Sơn”,
mà Thiền dùng để in ra quyển thượng của bộ Đại nam thiền uyển truyền đăng
tập lục, cứ vào ghi chép vừa dẫn của Đạo giáo nguyên lưu, phải có tên là
Thiền uyển tập anh lục. Và chính lời tựa San khắc truyền đăng thủ Trần gia
bản tờ 1b4-5, Thiền đã nói thẳng ra tên sách mình dùng cho việc in ra
quyển thượng đó là Thiền uyển tập anh, bởi vì Thiền viết: “Kịp đến nước ta
thì xưa có Thiền uyển làm lục, Tập anh làm tên, ghi lấy cao tăng thạc đức
của ba triều trình sơ nét chính”. Do thế, mặc dù truyền bản đời Nguyễn
ngày nay xuất hiện dưới tên Đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục, hay
Đại nam thiền uyển truyền đăng, hay Thiền uyển Truyền đăng lục, ta biết
chắc chắn là tự nguyên ủy nó vẫn có tên Thiền uyển tập anh.
Về truyền bản
đời Lê I và Lê II, trong bảy lần nó nhắc tới tên sách ở những tờ 1a1, 4a1,
26a1, 44a1, 61a1, 71b1, và 72b11 thì sáu lần là đã có tên Thiền uyển tập
anh. Chỉ trừ một lần ở tờ 4a1, nó thêm hai chữ “ngữ lục” ở sau thành Thiền
uyển tập anh ngữ lục. Bản chất của Thiền uyển tập anh, tuy có chứa đựng
ngữ lục, nhưng không phải là một tác phẩm thuần túy thuộc loại ngữ lục.
Thực tế mà nói, nó có những truyện không chứa đựng một ngữ lục nào hết.
Truyện Pháp Thuận, truyện Ma Ha thuộc dòng thiền Pháp Vân là những thí dụ.
Có lẽ vì nhận ra sự trạng đó, nên người hiệu đính và viết tựa cho bản in
năm 1715 đã không ngần ngại nêu ngay cái tên Thiền uyển tập anh, mà giải
thích ý nghĩa và đã không một lời đề cập xa gần gì tới ngữ lục cả. Hơn
nữa, cứ vào số lần xuất hiện của nó thì Thiền uyển tập anh chắc chắn là
tên của tác phẩm từ nguyên ủy, nhất là khi ta biết chúng là khởi đầu cho
những quyển khác nhau theo truyền bản sáu quyển. Chúng tôi vì vậy nghĩ
rằng chữ “ngữ lục” là một thêm thắt vào thời Lê dưới ảnh hưởng của quan
niệm, theo đó thì mỗi khi nói đến tác phẩm của các vị thiền sư, người ta
phải đề cập tới ngữ lục. Và tên nguyên ủy của tác phẩm chúng ta nghiên cứu
đây là Thiền uyển tập anh.
Tên đó từ thế
kỷ thứ XV đã được Nguyễn Văn Chất (1422-?) dẫn ra trong phần Tục tập của
Việt điện u linh tập tờ 42, mà sau này một “Nho sĩ họ Đoàn” thuộc thế kỷ
thứ XVI đã sao lại vào trong quyển thứ ba của Lĩnh nam chích quái truyện
tờ 115. Qua thế kỷ thứ XVIII, ngoài bản in năm 1715, Lê Quý Đôn là người
sử dụng nhiều nhất Thiền uyển tập anh và đã gọi nó bằng chính cái tên đó
trong Đại việt thông sử cũng như trong Kiến văn tiểu lục 4 tờ 12b8. Đến
Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, phần Văn tịch chí chỉ
ghi lại Thiền uyển tập thôi, trong khi “bản gỗ cũ của chùa Tiêu Sơn” cũng
như Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5a4 đều chép tên Thiền uyển tập
anh lục. Cái tên Thiền uyển tập anh có một lai lịch xa xưa và thống nhất
như thế. Do đó, chúng tôi đề nghị chúng ta gọi tên tác phẩm mang những đề
danh khác nhau trên bằng cái tên Thiền uyển tập anh thống nhất vừa nêu.
III. VẤN ĐỀ
SOẠN NIÊN VÀ TÁC GIẢ
Kể từ ngày Lê
Quí Đôn ghi Thiền uyển tập anh vào bản thư tịch đầu tiên của nước ta hiện
còn trong Đại việt thông sử 3 và nói: “Nó do người đời Trần soạn, chép
chuyện các cao tăng từ cuối đời Đường qua Đinh, Lê, Lý, Trần”, vấn đề soạn
niên và tác giả của nó vẫn chưa được giải quyết một cách ổn thỏa. Phan Huy
Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí 45 thì chỉ bằng lòng chép lại
những gì Đôn đã viết. Đến khi Trần Văn Giáp phát hiện ra và giới thiệu
nghiên cứu nó, ông đã tiến thêm một bước tới việc đề nghị năm soạn, nhưng
với những lý cứ hết sức yếu kém, dẫn đến tình trạng là đề nghị ấy dù đúng
đắn, đã bị Gaspardone nghi ngờ và bác bỏ. Thực tế, đề nghị của Trần Văn
Giáp gồm hai bước. Bước thứ nhất, đề nghị Thiền uyển tập anh là một tác
phẩm đời Trần, một điều ai cũng biết từ thời Lê Quí Đôn, nhưng chưa được
chứng minh. Ở bước này, ông chỉ trưng được hai chứng cớ duy nhất, đó là:
1- Niên đại các vị Sư trong Thiền uyển tập anh không sống quá năm 1228, và
2- Họ của viên sứ nhà Tống, Lý Giác bị đổi thành Nguyễn trong truyện
Khuông Việt.
Bây giờ chứng
cớ thứ nhất, Gaspardone đã dựa vào ghi chú trên của Lê Quí Đôn, theo đấy,
Thiền uyển tập anh chép chuyện các cao tăng cho đến Lý, Trần, mà ông hiểu
là phải bao gồm cả truyện của những cao tăng đời Trần nữa, để vạch ra
rằng, có thể tự nguyên ủy Thiền uyển tập anh có một quyển về các vị thiền
sư đời Trần, nhưng “hình như bị Phúc Điền loại khỏi Thiền uyển tập anh”.