Không kiêu mạn, ba pháp lợi tự hiển hiện, bốn là
dạy người pháp lành không cầu danh lợi, ấy gọi là bốn điều.
Thiện nam tử! Lại có bốn pháp lành khai pháp khí
những gì là bốn? Một là thủ hộ chính pháp, hai là tự ích trí
tuệ cũng ích cho tiền nhân, ba là thường hành pháp thiện nhân,
bốn là chỉ dạy cho người cấu, tịnh, thanh, bạch, đó gọi là bốn.
Thiện nam tử! Lại có bốn pháp được nhân lực
trước, chẳng mất căn lành, những gì là bốn? Một là thấy
người ta thiếu chẳng cho đó là ngu, hai là đối với người hay
sân nộ thường tu tâm từ, ba là thường nói các nhân duyên, bốn
là thường niệm Vô thượng Bồ đề, đó gọi là bốn.
Thiện nam tử! Lại có bốn pháp chẳng do người dạy
mà hay tự hành sáu ba la mật! Những gì là bốn? Một là thường
dùng pháp thí, thí đạo cho người, hai là không nói tội hủy giới
cấm của người, ba là khéo biết nhiếp pháp giáo hóa chúng sinh,
bốn là hiểu suốt pháp sâu, đó gọi là bốn.
Thiện nam tử! Lại có bốn pháp hay xả thiền định
hiện sinh cõi dục! Những gì là bốn? Một là tâm ấy nhu hòa, hai
là hay được sức các căn lành, ba là chẳng bỏ tất cả chúng
sinh, bốn là thường hay tu sức trí tuệ phương tiện, đó gọi là
bốn.
Thiện nam tử! Lại có bốn pháp ở Phật pháp được
không thoái chuyển! Những gì là bốn? Một là khỏi chịu vô lượng
sinh tử, hai là thường hay cúng dàng vô lượng chư Phật, ba là tu
hành vô lượng tâm từ, bốn là tín giải vô lượng Phật tuệ,
đó gọi là bốn.
Thiện nam tử! Lại có bốn pháp không đoạn Phật
tính! Những gì là bốn? Một là vì chúng sinh không lui bản nguyện,
hai là chịu hạnh tín thí, ba là đại dục tinh tiến, bốn là thường
hay thân tâm hành Phật đạo, đó gọi là bốn.
Bồ Tát Ma ha tát du hành ba cõi, hành mọi hạnh lợi
ích chúng sinh, thường tu đạo xuất thế, không đoạn Phật tính.
Khi nói bốn pháp Đại thừa bốn vạn người trời,
đều phát tâm Bồ đề, hai muôn năm ngàn người được Vô sinh
pháp nhẫn, bốn vạn tám ngàn Bồ Tát được đạt pháp giới nhẫn
thiện Phật tuệ.
Khi bấy giờ Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát Ma
ha tát rằng: "Ngươi nên thụ trì kinh này!".
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: "Lạy
đức Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì và phụng trì thế nào?".
Phật dạy rằng: "Kinh này tên là Đại Thông
Phương Quảng, hay phá cảnh giới ma, hoại quân ngoại đạo, tiêu trừ
phiền não, giải thoát năm dục, tà kiến trói buộc, phá ngục ba
cõi, buông các sinh tử, hướng về nhà Niết bàn, khô héo lâu
được nhuần ích, là chủng tử chính nhân, mưa nhân duyên lớn, mưa
pháp lục độ, làm cho mầm hoa Tam thừa chúng sinh được chồi nảy
tươi tốt, thành tựu nhất thừa Bồ đề cực quả. Thiện nam tử!
Ngươi hỏi tên kinh, ta nói như thế, ngươi nên thụ trì!".
Khi đó Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng:
"Lạy đức Thế Tôn! Con từ đời quá khứ ở nơi vô lượng
chư Phật, vô lượng hội xứ, trong vô lượng chúng, nghe thấy thảy
pháp, thấy thảy sự, thấy thảy tướng, thấy thảy thừa, chưa từng
được nghe pháp hiếm có, sự hiếm có, tướng hiếm có, Đại
thừa hiếm có này, con xin thụ trì, khiến không đoạn tuyệt.
Lạy đức Thế Tôn! Như Lai thường trụ Pháp, Tăng
bất diệt, chúng sinh trong ba cõi tự sinh tự diệt, không thấy Như Lai
cùng với Pháp, Tăng, nói rằng diệt độ. Chúng con ngày nay nhờ oai
thần của Phật du hành ba cõi, thuận theo thời nghi giả nói diệt
độ. Lạy đức Thế Tôn! Chúng con cùng với tám muôn cửu viễn
Tuệ pháp thân Đại sĩ lưu thông kinh này, khiến cho pháp giới chúng
sinh thụ trì đọc tụng, tu hành đúng thuyết, một thời thành Phật,
không dám phóng xả. Lạy đức Thế Tôn! Thiện nam tử! Thiện nữ
nhân! Sau khi Phật diệt độ ở trong đời ác, nếu có ai thụ trì
đọc tụng biên viết kinh này thì được bao nhiêu phúc?".
Phật nói: "Thiện nam tử! Nếu người nào đem
trân bảo đầy ba ngàn đại thiên thế giới, dùng để bố thí,
chẳng bằng người được nghe tên kinh này, phúc đó còn thắng hơn
trên, việc đó để lại, nếu người nào lấy mười ngàn thế
giới, trong đó đầy trân bảo, đem dùng bố thí, chẳng bằng có
người, nhiếp trì kinh này, phúc đó còn nhiều hơn kia, việc đó
để lại, nếu người nào lấy mười phương thế giới, trong ấy
đầy trân bảo, đem dùng bố thí, chẳng bằng có người biên viết
kinh điển Đại Thừa Phương Quảng cho đến một chữ một câu, hoặc
là một bài kệ, phúc đó còn nhiều hơn kia, việc đó để lại, tuy
thí vô lượng quốc trân bảo, chẳng bằng chí tâm đọc tụng bài
kệ, việc đó để lại, tuy thí trong mười ngàn thế giới đầy mạng
chúng sinh, chẳng bằng chí tâm giải nghĩa một câu, vì người nói
nghĩa một bài kệ, phúc ấy còn hơn kia, là vì lẽ sao? Bố thí tiền
của thức ăn là thế gian bố thí, nuôi sống tính mạng, không ra
khỏi thế gian, bố thí pháp Đại thừa để nuôi lớn đạo căn Bồ
đề cho chúng sinh, hay nối tam thừa trí tuệ thường mạng. Thiện nam
tử! Đọc trì kinh này, vốn là kẻ ác, nay là người lành; tuy là
kẻ khổ, nay là người vui; vốn là triền phọc, nay là người giải
thoát; tuy là người chưa được độ, nay là người được độ; tuy
là kẻ vô trí, nay là bậc luận sư; vốn là kẻ hữu lậu, nay là
người vô lậu; tuy là kẻ phàm hạnh, nay là người thánh hạnh;
vốn là kẻ mất đạo, nay là người nhập thánh đạo. Thân tuy phàm
phu, đọc trì kinh này, trí đồng thánh tuệ, căn bản tuy phiền não,
đọc trì kinh này được cộng đồng Niết bàn với chư Phật Như Lai.
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: "Lạy
đức Thế Tôn! Như lời Phật nói đây, vốn là phạm hạnh, nay là
thánh hạnh, vốn là phiền não, đọc trì kinh này, cộng đồng Niết
bàn, với chư Phật Như Lai, phá giới, ngũ nghịch, phỉ báng chính
pháp, đọc trì kinh này, đoạn trừ phiền não, cùng được Niết
bàn, nghĩa ấy tuy rõ, cúi xin Thế Tôn, vì con diễn nói?".
Phật dạy rằng: "Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử!
Ngươi nay hỏi hay! Ta sẽ đáp hay! Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh
bởi chẳng được gặp Phật, cho nên tà kiến, phạm giới, phỉ báng
chính pháp, nếu Phật ở đời thì không phạm giới và phỉ báng
chính pháp, là vì lẽ gì? Cũng ví như ông Trưởng giả chỉ có một
con, nặng lòng yêu dấu, khi cha còn ở nhà, ngày đêm dạy bảo,
việc ấy việc khác thuận theo; người con hiếu thuận ấy, là nhờ cha
dạy bảo, nên không có trái phạm, khi cha đi xa, không có hẹn thời
trở lại, người con quên mất, phạm nhiều tội lỗi, bởi không
biết thời nào trở lại, nên tưởng là đã chết, bi thương kêu
khóc! Lại tựa như khởi nghịch sầu não mất tâm, quên lời cha dạy
xưa, giống như bất thuận, nói như báng pháp. Một thời gian lâu
người cha ở phương xa lại trở về, đứa con vui mừng nhớ lời
cha dạy trước, giữ gìn không trái phạm, bởi được thấy cha, tin
rằng cha mình chưa chết, thì không thể cho rằng đứa con đọa tội
nghịch, giữ lời giáo sắc của cha, thuận theo mà làm, chẳng phải
là phỉ báng.
Thiện nam tử! Ông trưởng giả tức là Như Lai, đứa
con tức là tất cả chúng sinh, khiến ấy, tức là giáo giới, đi xa
tức là đi giáo hóa phương khác, không thấy cha tức là cho đã
chết, sầu não tức là che tối, chẳng giữ tức là phạm giới,
nói diệt tức là tội nghịch, vì mê lý tức là tội phỉ báng,
đức Như Lai Thế Tôn du hóa nơi khác trở về, chúng sinh nhìn thấy
bèn sinh lòng tin, biết rằng Phật chưa diệt, Phật vì chúng sinh thuyết
pháp đem lại bổn tâm, chẳng thể gọi rằng phạm giới, bởi chẳng
biết diệt, nên chẳng thể cho rằng đọa tội nghịch, thuận giáo,
người hành theo đúng lý được giải ngộ, nên không thể cho rằng
báng pháp.
Thiện nam tử! Người đọc trì kinh này tức hay tiêu
trừ tội trọng các phiền não từ vô lượng kiếp sinh tử. Nghe
tên kinh này, tức là được nghe tên Phật, được thấy kinh này
tức là được thấy Phật, trì kinh này tức là trì thân Phật,
hành kinh này tức là hành Phật sự, thuyết kinh này tức là
thuyết Phật sự, giải kinh này tức là giải nghĩa Phật, nếu hành
Phật sự khéo giải nghĩa Phật, con người như thế, vĩnh viễn không
còn phiền não, là vì sao? Vì được gặp kinh, đoạn trừ phiền não.
Thiện nam tử! Bằng tám muôn kiếp, dùng làm một
ngày, lấy ba mươi ngày làm một tháng, mười hai tháng làm một
năm, đem số năm ấy, qua trăm ngàn ức kiếp được gặp một đức
Phật, lại qua số đó được gặp một đức Phật, được gặp kinh
này lại hơn số nói trên, được gặp kinh này, tức là được
gặp mười phương ba đời chư Phật, vì thế người có trí hãy nên
thụ trì, đọc tụng, biên viết và giải thuyết, hay trừ được
trọng tội tà kiến vô minh phiền não kết lậu, trụ nơi phúc điền,
và hay trừ được vô lượng cúng dàng của thế gian.
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: "Lạy
đức Thế Tôn! Ngài Bích Chi Phật còn chẳng hay tiêu được cúng
dàng của thế gian phương chi kẻ phàm phu có thể tiêu được cúng
dàng?".
Phật nói: "Thiện nam tử! Bích Chi Phật không tiêu
được cúng dàng lẽ đó không phải, tuy không hay thuyết pháp độ
nhân, nhưng nhập thiền tam muội, từ tam muội trở dậy, khởi đại
thần thông độ cho tất cả chúng sinh là tiêu được cúng
dàng!".
Khi bấy giờ Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật
rằng: "Lạy đức Thế Tôn! Trong kinh có nói: kẻ tà kiến phá
giới không được cùng ở một quốc độ, uống chung một nước
sông, thuyết giới, Bồ Tát, sám hối, tự tứ, người đó đã lui
mất thánh đạo, không được đứng vào số trong Tăng chúng, tại
sao lại nói, được tiêu cúng dàng? Nếu tiêu được cúng dàng,
tức là cùng với chư Phật, đồng hưởng ngôi Ứng Cúng, hơn ngôi
La Hán và Bích Chi Phật, cúi xin đức Thế Tôn phân biệt nói rõ
cho? Con nghe rồi, con lại vì chúng sinh giải thuyết như lời Phật dạy,
khiến họ được giải thoát?
Phật bảo ngài Hư Không Tạng Bồ Tát rằng: Hay thay! Hay
thay! Thiện nam tử! Ngươi hôm nay đầy đủ lòng từ bi, thương xót
chúng sinh, mà hỏi việc này, vậy hãy nghe cho kỹ, nghe cho kỹ, và suy
xét nhớ lấy cho khéo, ta sẽ vì ngươi phân biệt giải thuyết! Thiện
nam tử! Cảnh giới của kinh này, không phải các vị Thanh Văn, Duyên
Giác có thể biết và cũng không phải cảnh giới suy nghĩ của các
ma, ngoại đạo, phàm phu, duy Phật có thể biết, ngươi cũng được
đạt. Thiện nam tử! Ta thường hành đạo Bồ Tát, thuyết bố thí,
hành bố thí, không quan sát tốt xấu, thành tựu ruộng phúc, mà
nói rằng: bố thí cho loài súc sinh, được trăm phúc báo, bố thí
cho kẻ xiển đề, được ngàn phúc báo. Thiện nam tử! Kẻ đoạn
thiện căn, chết đọa vào hạng xiển đề, kẻ không thẹn hổ, chết
đọa vào hạng súc sinh, súc sinh, xiển đề quả báo thục, thì có
thể nhận cúng dàng, cho người trồng ruộng phúc, phương chi người
đó, là nghĩa như thế, kinh Đại Thừa Đại Thông Phương Quảng có
oai đức lớn không thể nghĩ bàn, hay khiến người phá giới, ngũ
nghịch, phỉ báng chính pháp, tà kiến phiền não, được trừ diệt
hết, năng thụ cúng dàng.
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: "Lạy
đức Thế Tôn! Chư Phật Như Lai bất khả tư nghị, kinh Đại Thông
Phương Quảng, có lực oai thần cũng bất khả tư nghị, người thụ
trì kinh công đức cũng bất khả tư nghị".
Phật nói: "Phải rồi! Phải rồi! Ngươi nói rất
đúng, được bất khả tư nghị, vô biên công đức".
Khi bấy giờ đức Thế Tôn, bảo Ngài Hư Không Tạng
Bồ Tát Ma ha tát rằng: "Thiện nam tử! Ta nhớ thuở xưa đời
quá khứ có kiếp gọi là Thanh tịnh, ta ở kiếp đó cúng dàng chín
mươi hai ức na do tha đức Phật, bởi hành pháp Tiểu thừa có rất
nhiều tội lỗi, phạm giới vô lượng, nên không thấy các đức
Như Lai thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến kiếp gọi là Nhạo Kiến,
ta ở kiếp đó, cúng dàng bốn mươi hai ức chư Phật Như Lai, cũng
không thấy các đức Như Lai ấy thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy,
đến một kiếp tên là Phạm A?, ta ở kiếp đó, cúng dàng hai mươi
hai ức chư Phật Như Lai, cũng không thấy các đức Như Lai ấy thụ
ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Tâm Hỷ, ta ở
kiếp đó cúng dàng, tám mươi tư ngàn chư Phật Như Lai, cũng không
thấy các đức Như Lai ấy thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến một
kiếp tên là Cứu Khổ, nước tên là Trang Nghiêm, đức Phật hiệu
là Đại Thí Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri đầy đủ mười hiệu
ta ở kiếp đó cúng dàng bốn mươi ức đức Phật, được nghe kinh
này, dứt hết phiền não, tự mình chưa được thấy, khi đó ta đem
tất cả các món cúng dàng mà dâng chư Phật, cũng không thấy các
đức Như Lai ấy thụ ký cho ta. Thiện nam tử! Thuở xưa ta ở trong
từng đó kiếp, cúng dàng nhần ấy chư Phật Như Lai, tôn trọng tán
thán, được trừ phiền não, oai nghi cấm giới, đầy đủ hạnh Thanh
Văn, tu phạm hạnh trong sạch, học hạnh bố thí, giữ giới tất cả
và hạnh đầu đà, xa lìa kiêu mạn, sân huệ, ngu si, nhẫn nhục từ
tâm, nghe như thế nào nói như thế ấy, chăm chỉ tinh siêng, tất cả
chỗ được nghe, nhận giữ không quên, ở nơi xa vắng, vào các
phép thiền định, khi ra thiền định, tùy nơi tuệ văn, đọc tụng suy
xét, cũng không thấy các đức Như Lai thụ ký cho ta, là vì lẽ sao?
Là vì thụ cấm giới hủy phạm rất nhiều, bởi đắm sâu pháp Thanh
Văn, hạnh Nhị Thừa, vì không được nghe kinh Đại thừa Phương
Quảng, bởi nghĩa đó các vị Bồ Tát Ma ha tát, nên xa lìa hạnh Nhị
thừa, tu tập kinh điển Đại thừa Phương Quảng thời được thụ
ký, dầu ta lấy một kiếp, dầu dứt một kiếp, mà nói danh hiệu
Phật, cũng không thể hết được.
Thiện nam tử! Qua thời đó về sau, ta được gặp
đức Phật Định Quang, Ngài vì vô lượng đại chúng nói kinh Đại
thừa Đại Thông Phương Quảng, ta khi đó được nghe được thấy
đức Phật, Ngài nói kinh này, ta thụ trì đọc tụng suy xét nghĩa
lý, liền đắc pháp vô sinh nhẫn, ngay thời đó đức Định Quang Như
Lai thụ ký cho ta, Ngài nói: "Đời sau ngươi được làm Phật
hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, đủ mười
hiệu. Bởi vậy Thiện nam tử nên thụ trì kinh này, chóng chứng
ngôi Phật quả, phương chi tiêu cúng dàng của trời, người. Thiện
nam tử! Thế cho nên kinh điển Đại thừa là kho tàng báu có lực
bố thí không thể nghĩ bàn; huệ thí, cho kẻ phá giới, bần cùng,
theo phép này như châu báu.
Thiện nam tử! Đại thừa như biển lớn, Tiểu thừa
như vết chân, Đại thừa như núi Tu Di, Tiểu thừa như tổ kiến,
Đại thừa như nhật nguyệt, Tiểu thừa như ánh lòe, thừa này là
Đại thừa, không thể nghĩ bàn, dung nạp tất cả chúng sinh, cũng như
hư không, trong tất cả mọi thừa, thừa này là bậc nhất, Đại
thừa này (là vô thượng thừa), Tiểu thừa có hạn lượng, không
hay độ tất cả, duy có Vô thượng thừa, độ hết thảy chúng sinh,
nếu hành theo vô lượng hư không Đại thừa này, hư không không
có lượng, cũng không có hình sắc, Đại thừa cũng như thế, vô
lượng, vô chướng ngại, tất cả chúng sinh nhờ ở Đại thừa,
hãy quan sát tướng của thừa này, quảng bác dung nạp rất nhiều,
trong vô lượng kiếp nói công đức của Đại thừa và hành theo
của thừa này không thể cùng tận được, tất cả trong các thừa,
Đại thừa này tối thắng, chí tâm thụ Đại thừa, được tới
cây Bồ đề, không ràng buộc, không chướng ngại, vô thượng
thừa này, thắng tất cả hạ liệt thừa, ngồi dưới cây đạo, quan
sát mười hai duyên, thương xót chúng sinh nên thuyết kinh Đại
thừa, mười phương các chúng sinh, nếu tu theo Đại thừa này, cũng
không tăng giảm, dung thụ như hư không, Đại thừa chẳng nghĩ bàn,
thần thông đại trí tuệ, ấy thế các chúng sinh, nên huân tu tập,
tất cả chúng cõi trời, thiên ma và ngoại đạo, muốn trừ phiền
não buộc, hãy quy y Đại thừa, đầy đủ sáu thần thông, ba minh, ba
đạt môn, có thể dẹp ma và ngoại đạo, cùng các bọn tà kiến,
Đại thừa tối thiết yếu, hay phá các phiền não, đầy đủ mọi
căn lành, cho nên lực Đại thừa, kỳ thực khó nghĩ bàn, tất cả
thế gian pháp, cùng với pháp xuất thế, pháp hữu học, vô học,
nhiếp ở trong Đại thừa. Nếu có chúng sanh hành đạo ác, và thân
gần kẻ tà kiến, ác trí thức, nên phải tránh xa ngay, quay lại quy
Đại thừa. Nếu người chẳng ham cầu học Đại thừa, chẳng có thể
phá được phiền não, muốn cầu giải thoát, hãy học Đại thừa.
Nếu có đại nhân giải đại sự, nghe nói Đại thừa tâm hoan hỷ!
Nên biết đó tức là người Đại thừa, được tâm vắng lặng
đủ thần thông, đều bởi Đại thừa tự trang nghiêm. Nếu có
người nào hành đại hạnh, đó là không đoạn giống Tam bảo. Nếu
có người nào hướng theo pháp Đại thừa, người đó liền
được vô lượng phúc, hay tới mười phương các thế giới, cúng
dàng mười phương vô lượng Phật, như thế kinh Đại thừa Phương
Quảng thế gian các thừa không thắng nổi, đầy đủ oai đức phá
sinh tử, cho nên Đại thừa khó nghĩ bàn, được sắc lực, được
tự tại, đầy đủ thành tựu pháp thân thường. Nếu ai nương theo
Đại thừa này, người đó được hưởng vô thượng lạc, xả
mình đem bố thí, tu đạo từ bi, cho nên được vô thượng thừa,
trì giới tinh tiến tu phạm hạnh, hay dùng thần thông che nhật nguyệt,
đều bởi tu hạnh Đại thừa đã từ lâu, nên tự tâm cần tu
thường tinh tiến, người đó được Đại thừa. Nếu phải vô
lượng khổ não báo, tu theo Đại thừa được trừ diệt hết, nếu
hay an trụ điển Đại thừa, được hưởng khoái lạc như chư Phật,
đầy đủ chính niệm thường tinh tiến, được tứ như ý thần thông
lực, nương theo chính pháp và chân nghĩa, giai do từ lâu tu kinh Đại
thừa, đầy đủ mười lực vô sở úy, ba mươi hai tướng đẹp
rất trang nghiêm, kim cương tam muội nhất thiết trí, giai do từ lâu tu
Đại thừa.
Thiện nam tử! Nếu người nào trì kinh Đại thừa
này, từ một chữ, một câu, cho đến một bài kệ, được thoát
hết các khổ nạn, trọn không đọa ác đạo, được đến chốn an
lạc, ở đời ác sau này, nếu ai được bản kinh này, ta đều thụ
ký cho, chắc chắn thành Phật đạo. Nếu trì kinh này, Phật thường
gần người đó, người đó thường gần Phật, người đó hộ
Phật pháp, chư Phật hộ người đó, được đại thần thông tuệ,
hay chuyển đại pháp luân, độ các thú sinh tử, hay phá hoại ma
quân, ta ở chỗ đức Phật Định Quang, nghe kinh phương tiện này, trụ
nhẫn được thụ ký, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Sau khi ta diệt độ,
nếu ai học kinh này, ta thụ ký cho người đó, người ở đời vị
lai, hay hiểu được nghĩa kinh, vì những người ngu mà nói, Phật tuy
chẳng ở đời, chẳng đoạn ngôi Tam bảo, cũng như Phật hiện tại,
vì sao? Vì ta từ vô lượng Phật, thụ trì kinh điển này, ở trong
đời mạt kiếp, vì người mà diễn thuyết, ấy là được ba mươi
hai tướng.
Khi bấy giờ Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật
rằng: "Lạy đức Thế Tôn! Tất cả các đức Phật đều nói ba
mươi hai tướng, nay Phật cũng nói ba mươi hai tướng, vậy nhân
nghiệp gì mà được thành tựu, cúi xin đức Thế Tôn chỉ bảo
cho?".
Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát rằng: "Thiện
nam tử! Như Lai thành tựu vô lượng công đức, cho nên được
thành ba mươi hai tướng, dầu ta nói đến cùng kiếp cũng không hết,
nay sẽ ta vì ngươi nói lược qua mà thôi: Như Lai chí tâm hộ trì
tịnh giới nên được tướng lòng bàn chân bằng, tu hết thảy hạnh
huệ thí, nên được tướng lòng bàn chân có ngàn vòng xoáy,
chẳng lừa dối tất cả chúng sinh nên được tướng gót chân đầy
đặn, hộ chính pháp nên được tướng ngón tay thon dài, không phá
hoại người, nên được tướng tay chân có màng lưới giao tiếp,
dùng mắt nhiệm mầu dâng thí nên được tướng tay chân mềm mại,
đem món ăn trong sạch bố thí nên được bảy xứ đầy đặn, ham vui
nghe pháp nên được tướng vế tròn trặn như con hươu, che giấu tội
lỗi người nên được tướng mã âm tàng, tu pháp thập thiện nên
được tướng trên thân mình như sư tử vương, thường đem thiện
pháp giáo hóa chúng sinh nên được tướng khuyến cốt bình mãn,
cứu giúp người khỏi sợ hãi nên được tướng cánh tay khuỷu
tay tròn trặn, thấy người kiến tạo ngôi Tam bảo vui mừng giúp
đỡ nên được tướng tay dài chấm gối, thường tu muôn pháp
lành nên được tướng thân thanh tịnh, thường cho thuốc người có
bệnh nên được tướng ăn vật gì đến cố tất hiện, thường
phát trang nghiêm tu thiện pháp nên được tướng hàm sư tử, đối
với tất cả chúng sinh một lòng bình đẳng nên được tướng bốn
mươi hai cái răng, vui hòa hợp không tranh kiện nên được tướng
răng kín, đem trân bảo bố thí nên được tướng răng bằng, thân,
miệng, ý trong sạch nên được tướng hai răng bạch, giữ miệng
bốn điều lỗi nên được tướng lưỡi rộng dài, thành tựu vô
lượng công đức nên được tướng vị trung thành thượng vị,
thường đem lời dịu dàng nói với chúng sinh nên được tướng
phạm âm, tu tập từ tâm nên được tướng mắt nhỏ dài, chí tâm
cầu đạo Vô thượng Bồ đề nên được tướng lông mi như ngưu
vương, khen ngợi công đức của người nên được tướng bạch
hào, cung kính cúng dàng cha mẹ, Hòa thượng, A Xà Lê sư nên
được tướng nhục kế, ham thuyết pháp Đại thừa nên được
tướng thân mềm mại, vui mừng giải tọa cụ nên được tướng kim
quang minh, xa lìa việc xúm nhau nói chuyện thế gian nên được tướng
mỗi mỗi chân lông sinh sắc xanh, vui chịu lời dạy răng của bạn
lành Sư trưởng nên được tướng lông trên mình nhỏ mướt,
chẳng đem việc ác gán cho chúng sinh nên được tướng tóc sắc
tinh, thường khuyên chúng sinh tu tam muội nên được tướng viên
mãn như Ni câu đà, sinh xứ nào cũng ham vui tạo tượng Phật nên
được tướng sức như đại lực sĩ.
Thiện nam tử! Bồ Tát Ma ha tát thành tựu vô lượng
công đức nên được ba mươi hai tướng như vậy.
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: "Lạy
đức Thế Tôn! Con quán các pháp đều không có tướng mạo, lại
quán Như Lai cũng chẳng phải hạnh đó, sao Phật lại nói tu rộng mọi
hạnh? Con quán chư Phật Pháp Tăng, khổ, tập, diệt, đạo, ngũ ấm,
lục nhập, thập bát giới, mười hai nhân duyên, các ba la mật, nội
ngoại nhân quả, không, vô, tướng, nguyện, chẳng thấy sinh ra, chẳng
thấy diệt mất, như dối, như hóa, như bóng, như vang, như trăng dưới
nước, như lông rùa, như sừng thỏ, như hoa trong hư không, như thạch
nữ có con, như mặc áo bóng cỡi nhiều chim trắng, như có, như
không, và lấy có không, chẳng có chẳng không, chẳng thường,
chẳng đoạn, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng trong chẳng ngoài, chẳng
kiến, chẳng thức, do như hư không, tại sao Ngài nói ta tu các pháp?
Con quán Như Lai cũng chẳng phải chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu, cũng
chẳng phải nhãn sắc, chẳng phải sắc tướng hành, chẳng phải tai,
chẳng phải thanh, chẳng phải thanh tướng hành, chẳng phải mũi, chẳng
phải hương, chẳng phải mũi hương tướng hành, chẳng phải lưỡi
chẳng phải mùi tướng hành, chẳng phải thân, chẳng phải xúc
tướng hành, chẳng phải ý, chẳng phải pháp, chẳng phải ý pháp
tướng hành, chẳng phải thức, chẳng phải sắc, chẳng phải thức
sắc tướng hành, chẳng phải sắc, chẳng phải khổ, chẳng phải sắc
khổ tướng hành, chẳng phải ta, chẳng phải nguyện, chẳng phải hành,
chẳng phải ấm, chẳng thực, chẳng hư, chẳng tụ, chẳng tán, chẳng
ra, chẳng vào, thụ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế, không đi,
không lại, không có trụ xứ, không có tâm ý và ý thức, không
có nghiệp thân, miệng, ý, chẳng một, chẳng hai, không có quá khứ,
hiện tại, vị lai, chẳng cấu, chẳng tịnh, không có ta và chúng sinh,
thọ mạng, sĩ phu, chẳng thường, chẳng đoạn, không sinh, không diệt,
không tu, không hành, không xả, không thụ, rốt ráo thường trụ, sao
Phật lại nói rộng tu mọi hạnh?
Khi bấy giờ đức Phật khen Ngài Hư Không Tạng Bồ
Tát Ma ha tát rằng: "Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ngươi ở
thời quá khứ từng đã cúng dàng vô lượng chư Phật, đã thấu
hiểu lâu nghĩa không của Đại thừa vô thượng, suốt biết muôn
pháp đều quy không tịch, cũng như Phật rốt ráo thường trụ. Thiện
nam tử! Ví như hạt châu lưu ly quý báu, tuy ở trong bùn trải qua
ngàn năm, tính nó vốn trong sạch, ra khỏi bùn vẫn còn bản chất.
Các người nay cũng như thế, thấu rõ pháp tướng tính vốn thanh
tịnh, các ngươi tuy ở nơi ba cõi trong đám bùn lầy năm món ô
trược giúp Phật để hoàng dương giáo hóa, cũng không bị bùn làm
ô uế, bởi không bị ô uế nên hỏi ta nghĩa đó. Thiện nam tử!
Hãy để ý nghe, ta nói cho biết! Tất cả muôn pháp, thực ra không
có tướng mạo, có văn tự nên nói có pháp, trong pháp không có
văn tự, trong văn tự không có pháp, vì lưu bá nên nói có văn
tự, trong văn tự cũng không có Bồ đề; trong Bồ đề cũng không
có văn tự, đệ nhất nghĩa đế, tuy không có văn tự, trong đạo
thế tục nói có văn tự, chúng sinh, Phật tính, Vô thượng Bồ đề
chẳng lìa văn tự. Thiện nam tử! Thực ra nói cho đúng, Như Lai vô
tận vô sinh, chẳng tu, chẳng hành, lìa các sự tu hành thì không
nhập chính vị, cũng chẳng thoái chuyển, nhất sinh, chẳng sinh cõi
trời Đâu Suất Đà, chẳng từ đó mà hạ sinh nhân gian, chẳng ở
đời, chẳng ở thai, tất cả các phát tâm không trụ trược, cũng
chẳng nói ta đã qua khỏi sinh già bệnh chết, cũng chẳng nói trong
bốn phương, mỗi phương đi bảy bước, cũng chẳng tự nói: Ta là
bậc Vô thượng Tôn ở thế gian, chẳng ở trong cung, vui cùng thế
nữ, chẳng tập những việc kỹ nhạc của thế gian, cũng chẳng học
bàn mã giáo lực, muốn độ chúng sinh thị hiện lão nhân, vì hoại
tham thân, thị hiện bệnh khổ, vì hoại tham thọ, thị hiện tử tướng,
vì hoại tham dục và ngã, ngã sở, thị hiện Sa môn, vì khiến chúng
sinh chẳng cầu thân Phạm Thiên, Đế Thích, cần cầu pháp xuất thế
vô thượng, vượt ra cung thành thị hiện xuất ly ba cõi ràng buộc,
và thị hiện chẳng phải quả tiền hậu, thị hiện không sân ái, ấy
cho nên ba mươi hai tướng trang nghiêm cho thân. Vì chỉ cho chúng sinh
ruộng phúc tốt lành, cắt bỏ chu la phóng xả anh lạc, cho ngựa trở
về, phóng siển đà la, thị hiện xa lìa tất cả phiền não, hiện cắt
bỏ râu tóc, thị hiện tham trược tất cả mọi pháp, thụ trì áo cà
sa thị điều phục chúng sinh, từ nơi Uất đà gia la, tham hỏi thụ
pháp, là thị hiện phá hoại tâm tự cao, sáu năm khổ hạnh, vì
ngoại đạo, hiện thụ ăn uống, tùy pháp thế tục, hiện thụ dược
thảo, thị việc tri túc, ngồi trên đệm cỏ, tỏ sự hoại kiêu mạn,
chư Thiên, Long thần, tán thán cung kính, thị hiện quả báo công đức
trang nghiêm, hàng phục ngoại đạo, tỏ sức dũng mãnh, tay phải chỉ
xuống đất, tỏ lực tác phúc, đại địa chấn động, tỏ sự báo
ân tu vô tướng, nguyện đắc đạo Vô thượng Bồ đề, thị hiện
biết suốt các pháp tướng, quán pháp bình đẳng nên gọi là Phật,
trí tuệ Phật không ai thắng nổi, thuyết pháp thiết yếu, biết Phật
quá khứ, hiện tại, vị lai, theo nghĩa đó nên gọi là Như Lai, thấy
biết rành rành những việc ba đời, pháp lành chẳng lành, nên gọi
là Tát bà nhã, lời nói chân thật nên gọi là Thiên Nhân Sư,
nếu học giả hay tác quán như thế, gọi đó là Bồ Tát, nếu tác
quán khác chẳng thể gọi Bồ Tát, gọi là lừa dối tất cả chư
Phật.
Thiện nam tử! Tất cả chư Phật chẳng xuất, chẳng
nhập, chẳng sinh, chẳng diệt, vì độ chúng sinh xướng ngôn xuất
thế, vì độ chúng sinh, xướng ngôn diệt độ.
Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: "Lạy
đức Thế Tôn con thực biết pháp tướng lý không từ lâu, chư
Phật Như Lai không xuất hiện, không diệt một, không sinh nơi vương
cung, không tịch diệt dưới cây song thụ, tất cánh thường trụ, vì
độ chúng sinh tu các hạnh khổ, mà nhập Niết bàn thực không động
chuyển, chư Phật Như Lai, chân thực thường tồn, ứng thân ba cõi,
hiện năm chưởng pháp thân, những gì là năm:
Một là Thực tướng pháp thân,
Hai là Công đức pháp thân,
Ba là Pháp tính pháp thân,
Bốn là Ứng hóa pháp thân,
Năm là Hư không pháp thân.
Sở dĩ gọi Thực tướng pháp thân, và công đức
pháp thân là vì độ chúng sinh, ra công tích hạnh vạn thiện tròn
đầy, nên gọi là Công đức pháp thân.
Pháp tính pháp thân, nghĩa là đạt ngộ tất cả pháp
tướng, cùng tận nghĩa lý, từ cảnh mà giải tỏ nghĩa không, không
giải viên mãn, từ cảnh mà được tên nên gọi là Pháp tính
pháp thân.
Thế nào gọi là Ứng hóa pháp thân? Như Lai xuất
thế ứng đủ năm cõi thiện ác hiện hết, cứu tế cho muôn vật,
từ chỗ hóa vật được tên, nên gọi là Ứng hóa pháp thân.
Sở dĩ Hư Không pháp thân nghĩa là: Hư không vô
biên, pháp thân cũng vô biên; hư không bất khả độ lượng, pháp
thân cũng bất khả độ lượng. Thân của Như Lai cũng như cõi thái
hư, vì độ chúng sinh, ứng hiện ra thân năm phận, nên biết rằng:
Như Lai vô sinh vô diệt, các pháp cũng thế! Vì độ chúng sinh nên
Phật hiện pháp hưng.
Khi bấy giờ Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát
rằng: "Thiện nam tử! Ngươi với Như Lai cùng giải pháp tướng,
tất cả cảnh giới không chướng không ngại!
Thiện nam tử! Đời vị lai có một kiếp tên là Thanh
Tịnh, quốc tên là Khoái Lạc, nước ấy hết dùng các vị đại Bồ
Tát luận nghĩa Đại thừa, qua không nghe thấy tên nhị thừa, huống
chi là ác đạo. Ở kiếp đó ngươi được làm Phật hiệu là Thanh
Tịnh Trang Nghiêm Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri. Phương lớn các
phương khác đều tới nghe nhận kinh Đại thừa Đại Thông Phương
Quảng. Cho nên tất cả chúng sinh nếu được nghe thấy tên Bồ tát
Hư Không Tạng nên lễ bái cúng dàng sẽ được sinh sang thế giới
Khoái Lạc kia, nên biết người đó chẳng qua mười đức Phật,
khiến được thụ ký.
Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối
Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật
Quyển Trung Hết
Khể thủ Nhất tâm kính lễ.
Nguyện Sư trưởng, phụ mẫu pháp giới chúng sinh diệt tội thành
Phật.