KINH TỌA THIỀN TAM MUỘI
- Hán dịch:
Tam tạng Cưu Ma La Thập Ðời Diêu Tần
- Việt dịch:
Thích Nguyên Xuân
(Chùa Thiên Phú - Nha Trang.)
---o0o---
Quyển thượng
Khó gặp đạo sư dạy
Nghe rồi vui càng khó
Ðiều Bồ tát thích nghe
Phàm phu nghe lại chán.
Chúng sanh thật đáng thương
Rơi đường hiểm già chết
Nô lệ cho ái ân
Chốn sợ, ngu không sợ.
Thế giới lớn hoặc nhỏ
Không có pháp thường còn
Tất cả không bền chắc
Tạm hiện như điện chớp.
Thân này thuộc già chết
Chỗ các bệnh quy tụ
Da mỏng che bất tịnh
Ngu muội bị nó lừa
Ngươi thường bị giặc già
Nuốt mất tuổi thanh xuân
Như tràng hoa khô héo
Úa tàn, hết xinh tươi
Công đức vua Ðảnh Sanh
Ngồi chung tòa Ðế Thích
Phước báo thật rộng lớn
Ngày nay có còn đâu?
Vua ấy trong trời, người
Ðủ năm dục hơn hết
Khi chết rất khổ đau
Do đó nên tỉnh ngộ.
Các dục ban đầu vui
Về sau thành khổ lớn
Như (kẻ) oán, lúc đầu thân
Sau gây họa diệt tộc.
Thân là vật không sạch
Chín lỗ thường rỉ nhơ
Cũng như mụt Na-lợi
Không có thuốc trị lành.
Xương như xe quá yếu
Thức chuyển, gân mạch buộc
Ngươi cho là xe tốt
Yêu chuộng không xấu hổ
Nơi chất chứa thây chết
Vất bỏ đầy gò nỗng
Khi sống thì cưng chiều
Chết rồi liền vứt bỏ.
Phải thường nghĩ như vậy
Một lòng quán, chớ loạn
Phá si, đuổi tối tăm
Cầm đuốc tuệ sáng soi
Nếu lìa bốn niệm chỉ
Ác nào tâm chẳng làm
Như voi không móc sắt
Nên chẳng chịu chăn dắt
Ngày nay làm việc này
Ngày mai làm việc nọ
Ham vui không thấy khổ
Bất chợt thần chết đến
Hối hả làm việc mình
Việc người cũng không xong
Thần chết chẳng chờ đợi
Khi đến không phương thoát.
Như nai vì khát nước
Nên tìm đến dòng suối
Thợ săn không lòng thương
Giết chết khi đang uống.
Người si cũng như vậy
Chăm lo làm các việc
Chết đến không hẹn trước
Ai sẽ giúp được ngươi?
Lòng người mong giàu sang
Năm dục lòng chưa thỏa
Các vị vua nước lớn
Ðâu thoát khỏi họa này.
Tiên nhơn giỏi chú thuật
Nào thoát khỏi tử sanh
Voi vô thường dẫm đạp
Kiến, đỉa nát với đất
Ðâu có chừa một ai.
Chư Phật chánh chơn giác
Vượt ngoài dòng sanh tử
Lại cũng chẳng thường còn.
Vì vậy nên phải biết
Những điều ông yêu thích
Phải nên sớm lìa bỏ
Một lòng cầu Niết-bàn
Sau khi bỏ thân này
Ai chứng biết được ta?
Lại được gặp pháp bảo
Và người chẳng gặp pháp
Lâu sau Phật xuất hiện
Phá trừ hết tối tăm
Phóng ra các ánh sáng
Dạy nhơn đạo, phi đạo
Ta từ chốn nào đến?
Rồi sẽ sanh về đâu?
Nơi đâu được giải thoát?
Nghi này ai rõ biết?
Phật, đấng Nhất thiết trí
Lâu lắm mới ra đời
Nhất tâm không phóng dật
Phá nghi kiết của ngươi
Ngài không thích lợi lộc
Và đắm tâm tệ ác
Ngươi hãy vì chúng sanh
Mà cầu pháp chân thật.
Ai biết được khi chết
Sẽ sanh cảnh giới nào?
Như đèn treo trước gió
Ðâu biết lúc nào tắt.
Ðến đạo pháp không khó
Ðại thánh đã chỉ dạy
Giảng trí và Trí xứ
Hai pháp không nương ngoài.
Nếu ngươi không phóng dật
Một lòng thường hành đạo
Không lâu được Niết-bàn
Vui niềm vui bậc nhất
Bậc trí gần người thiện
Hết lòng kính Phật pháp
Nhàm chán thân nhơ nhớp
Lìa khổ, được giải thoát.
Tịnh tu nơi vắng vẻ
Ngồi kiết già trong rừng
Kiểm tâm không phóng dật
Tỉnh thức biết các duyên
Nếu chẳng chán các hữu
Ngủ mê không tự tỉnh
Không nghĩ đời vô thường
Ðáng sợ mà không sợ.
Phiền não sâu không đáy
Biển sanh tử không bờ
Thuyền vượt khổ chưa đóng
Sao an nhiên ngủ nghỉ?
Do đó phải giác ngộ
Chớ để ngủ che tâm
Ðối bốn việc dâng cúng
Biết lượng, biết vừa đủ.
Nỗi sợ lớn chưa khỏi
Phải chuyên cần tinh tấn
Các khổ khi ập đến
Hối hận không thể kịp.
Mặc y ngồi dưới cây
Như pháp mà thọ thực
Chớ vì tham vị ngon
Mà dẫn đến tự hoại.
Ăn rồi biết mùi vị
Ngon dở đồng như nhau
Ưa ngon sanh buồn khổ
Vậy chớ sanh ưa thích.
Sinh hoạt trong thế giới
Ngon dở đều nếm hết
Thọ hưởng đủ mọi thứ
Nên phải tự chế phục
Nếu sanh vào súc sanh
Nhai cỏ đủ mùi vị
Ðịa ngục nuốt hòn sắt
Sắt đốt nóng hừng hực
Trong loài quỷ Bệ Lệ
Máu mủ, phân tiểu sôi
Dải đàm, các bất tịnh
Lấy đó làm thượng vị
Hoặc ở trên cõi trời
Xem cung điện bảy báu
Ăn toàn vị tô-đà
Thiên nữ làm vui lòng
Trong loài người giàu sang
Các món ngon đủ vị
Ðều đã từng trải qua
Sao nay lại ưa thích?
Qua lại trong thế giới
Chán ngán việc khổ vui
Tuy chưa đắc Niết-bàn
Nhưng phải cầu lợi ấy.
Người học thiền mới đến chỗ
thầy, thầy nên hỏi:
“Ngươi trì giới thanh
tịnh chăng? Không phạm trọng tội tà ác chăng?”.
Nếu đáp:
“Giới luật của năm chúng giữ
trong sạch, không phạm trọng tội tà ác”, thì sau đó mới dạy đạo pháp.
Nếu đáp: “Phá giới”, thì thầy nên hỏi lại:
“Ngươi phá giới nào?”
Nếu đáp: “Trọng giới”,
thì thầy dạy:
“Như người bị cắt tai,
mũi, không cần phải soi gương, ngươi hãy về đi, siêng năng tụng kinh và
làm điều phước thiện, có thể gieo nhân duyên đạo pháp cho đời sau, đời này
xem như đã bỏ. Giống như cây khô, dù tưới nước chăm sóc cũng không sanh
hoa lá và quả được”.
Nếu phá các giới khác thì
khi ấy thầy nên dạy như pháp sám hối. Nếu sám hối đã thanh tịnh, như thầy
đắc được thiên nhãn hoặc tha tâm trí thì theo bệnh của họ mà thuyết pháp,
đưa đến chí đạo. Bằng như chưa thông đạt thì nên xem tướng hoặc hỏi người
ấy:
“Trong ba độc, ngươi nặng
về thứ nào? Dâm dục nhiều chăng? Sân hận nhiều chăng? Ngu si nhiều
chăng?”.
Thế nào gọi là xem tướng?
- Tướng người nhiều dâm
dục là người mau lẹ, nhiều thê thiếp, nói nhiều và có lòng tin nhiều, nhan
sắc vui vẻ, lời nói hòa nhã, dễ hiểu; ít sân hận, cũng ít buồn phiền, có
nhiều khả năng kỹ thuật, thích học hỏi, nhiều hiểu biết, ưa thích văn
chương, rất khéo biện luận, hay quán xét lòng người, có nhiều lo sợ, ở
trong phòng riêng thích mặc áo mỏng, thèm muốn nữ sắc, tham đắm đồ nằm, ưa
trang điểm hương hoa; tâm rất nhu hòa, có lòng thương người, nói lời tốt
đẹp, thích làm việc phước thiện, ý ưa muốn sanh lên cõi trời, ở trong
chúng không có các nạn; phân biệt người xấu đẹp, ưa tín nhiệm phụ nữ, lửa
dục nung nấu, lòng nhiều thay đổi, hối hận, ưa tự trang sức, thích xem
tranh vẽ nhiều màu. Ðối vật của mình thì tham tiếc, lại mong cầu tài vật
của người, ưa kết bạn thân, không thích ở một mình, đắm trước chỗ ở, chạy
theo dòng thế tục, vừa kinh vừa sợ, chí như khỉ vượn, hiểu biết cạn cợt,
làm việc lại không suy nghĩ, ý chí yếu kém, hành động theo sở thích, dở
khóc dở cười. Thân thể mềm yếu, không kham khổ lạnh nóng; dễ mừng, dễ lo,
gặp việc không thể đè nén, được ít vui nhiều, mất ít sầu lớn, tự bày ra
rồi tự che dấu. Thân thể ấm, mồ hôi hôi, da mỏng, tóc mềm, mặt nhiều vết
nhăn, nhiều điểm trắng, cắt móng tay, cạo râu, chà răng trắng. Ði ra ngoài
thích mặc đồ thật sạch. Học hành không chuyên cần, thích dạo vườn rừng,
nhiều tình cảm, nhiều mong cầu, chấp thường kiến. Hay gần gũi các bậc có
đức, vồn vã thăm hỏi, ưa theo lời người, gượng vui, chịu nhục, nghe việc
nhanh hiểu, sự việc đã làm phân biệt rõ tốt xấu. Thương người nghèo khổ,
tự đại, háo thắng, chẳng chịu người lấn hiếp. Thích làm việc bố thí, tiếp
dẫn người hiền, được đồ ăn uống ngon không ăn một mình, không để ý việc
nhỏ nhặt, chí để ở việc to tát. Mắt đắm sắc dục, sự nghiệp không thành,
không lo xa. Biết được phong tục tốt đẹp ở đời, quan sát nhan sắc, dò biết
mặt trái lòng người, nói lời hoa mỹ, kết bạn không bền. Tóc thưa, ít ngủ
nghỉ, đi đứng nằm ngồi bộ tịch đàng hoàng. Có tài vật liền đem cứu trợ,
sau lại hối tiếc. Ưa thích điều nghĩa, gấp làm cho được nhưng lại mau
quên, bám chấp hành động, khó tự sửa đổi, khó lìa được dục, gây tội nhỏ
nhặt....
Các loại tướng trạng như
thế là tướng dâm dục.
Tướng người sân hận:
người nhiều ưu sầu, hung bạo, ôm lòng phẫn hận, thân miệng thô xẳng, nhẫn
chịu các khổ, gặp việc không nhịn được, nhiều sầu, ít vui. Có thể làm việc
đại ác, không có lòng thương người, ưa tranh cãi, nhan sắc tiều tụy, mắt
trợn mày nhăn, khó nói, khó vui, khó làm việc, khó thành công. Mình như
ghẻ lở, lại ưa nói lỗi của người; lý luận cứng cỏi, không thể bẻ dẹp, khó
làm lay chuyển, khó thân thiện, khó cản ngăn, ôm lòng độc khó vứt bỏ, bị
trách không quên. Nhiều khả năng khéo léo, siêng năng, làm việc nhanh
chóng, ôm kỳ vọng không nói, ý sâu khó biết. Thọ ân liền đáp ân. Lại có
khả năng thuyết phục được nhiều người tuân theo, không thể phá hoại. Việc
làm thường được trọn vẹn, người khác khó can thiệp, không ngại khó khăn.
Giống như sư tử, rất khó khuất phục. Khi đã quyết định, theo kế hoạch hành
động, không bao giờ nghĩ lại, nhớ nghĩ khó quên. Nhiều lo nghĩ tư duy, ôn
tập nhớ kỹ. Hay bố thí, chẳng màng lợi nhỏ, làm thầy rất khôn ngoan. Lìa
dục, ở một mình, ít sự dâm dục, thường nghĩ đến sự thành công. Chấp trước
đoạn kiến. Mắt không ưa liếc ngó, lời nói ngay thẳng, biện minh sự việc rõ
ràng, ít có bạn thân. Làm việc hay chấp chặt, nhớ dai không quên. Có nhiều
sức mạnh, vai ngực nở đẹp, tráng rộng tóc bằng. Tâm cứng rắn, khó điều
phục. Mau được mà khó quên. Có thể tự lìa dục, hay gây tội nặng...
Các loại tướng như vậy là
tướng sân hận.
Tướng người ngu si: Người
nhiều nghi ngờ, nhiều hối hận, lười biếng, không nhận thức, tự mãn, khó
khuất phục, kiêu mạn, khó dạy bảo. Việc đáng tin chẳng tin, việc không
đáng tin lại tin. Không biết chỗ đáng tôn kính, nơi nào cũng tin theo, có
nhiều thầy. Ðường đột, thô tháo, không biết xấu hổ, hành động không suy
nghĩ, thường trái với lời dạy. Chẳng biết chọn bạn, không biết tự trang
sức. Ưa thích thầy hay đạo lạ, chẳng phân biệt được tốt xấu. Khó ghi nhớ,
dễ quên, căn tánh tối tăm, biếng nhác, chê bai người bố thí, không có lòng
thương xót. Phá hoại chiếc cầu chánh pháp, gặp việc mờ mịt không biết. Lúc
giận tối mắt, không có trí tuệ, nhiều mong cầu hy vọng, đa nghi, ít lòng
tin, ganh ghét người tốt. Cho rằng: không có quả báo tội phước, chẳng phân
biệt được lời thiện, không biết điều lỗi, chẳng nghe lời khuyên bảo. Xa
lìa người thân, oán ghét họ, không biết lễ phép, ưa nói lời ác. Móng tay,
râu tóc để dài, răng áo nhơ nhớp, bị người sai khiến. Chỗ đáng sợ lại
không sợ, việc vui thì lo buồn, việc lo buồn lại vui, chỗ ưu buồn lại cười
cợt, chỗ vui vẻ lại ưu buồn. Ðợi kéo mới chịu đi, hay nhẫn các khổ, không
phân biệt mùi vị, khó lìa dục, gây tội sâu nặng...
Các loại tướng như vậy là tướng
người ngu si. Nếu người nhiều dâm dục, dùng pháp quán bất tịnh để
chữa trị.
Người nhiều sân hận, lấy
pháp quán Từ Bi để chữa trị.
Người nhiều ngu si, tư
duy pháp quán nhân duyên để chữa trị.
Nếu người nhiều lo nghĩ,
tu pháp quán hơi thở để chữa trị.
Nếu người tham, sân, si
đồng nhau, dùng pháp môn niệm Phật để chữa trị.
Như vậy, có bao nhiêu thứ
bệnh thì có bấy nhiêu pháp để chữa trị.
I. PHÁP MÔN TRỊ THAM
DỤC:
Người nhiều dâm dục nên
tu tập pháp quán bất tịnh, từ chân đến tóc toàn vật không sạch: lông, tóc,
móng, răng, da mỏng, da dày, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, gan, phổi,
tim, thận, lá lách, dạ dày, ruột già, ruột non, phân, nước tiểu, nước mũi,
nước miếng, mồ hôi, nước mắt, cức ráy, đất, óc, bọng đái, mật, đàm, bầy
nhầy, mỡ, mỡ sa, màng óc...
Như vậy, trong thân toàn
vật không sạch.
Lại quán bất tịnh theo
thứ lớp: quán thây chết máu ứ bầm xanh, sình trướng, thối rửa vỡ ra, máu
mủ chảy ràng rụa, hôi thối, trùng thú ăn còn xương, phân tán, thiêu rụi.
Ðó là pháp quán bất tịnh.
Người nhiều dâm dục, yêu
mến bảy thứ:
1- Yêu sắc đẹp.
2- Yêu dáng điệu đoan
chánh.
3- Yêu dung mạo.
4- Yêu thích âm thanh.
5- Yêu mềm mại, trơn
láng.
6- Yêu con người (chúng
sanh)
7- Yêu thích tất cả.
- Yêu sắc đẹp nên tu tập
pháp quán thây chết bầm xanh, những màu sắc vàng đỏ bất tịnh cũng như vậy.
- Nếu yêu dáng điệu đoan
chánh nên tu tập pháp quán thây chết sình trương, nứt rã.
- Nếu yêu mến dung mạo
nên quán thây mới chết, máu chảy ràng rụa, xương cốt rục rã.
- Nếu yêu thích âm thanh,
nên tập pháp quán khi người sắp chết cổ họng bị nghẹt.
- Nếu yêu thích trơn láng
nên quán bộ xương và người bệnh khô gầy.
- Nếu yêu thân người nên
tập quán sáu thứ bất tịnh (trong chín thứ bất tịnh).
- Nếu yêu tất cả nên tu
tập toàn bộ pháp quán bất tịnh, hoặc lúc thì quán các thứ này, khi lại
quán các thứ khác, đều là pháp quán bất tịnh.
Hỏi: Nếu thân bất tịnh
như thây chết thối rửa, do đâu sanh lòng yêu mến? Nếu cho thân là trong
sạch thì thân dù thối lầy cũng vẫn yêu. Bằng như không yêu thân thối rửa
thì thân thanh tịnh cũng không yêu.
Ðáp: Vì hai thân là một
vậy. Nếu cầu hai thân thật thanh tịnh đều không thể có. Tâm người mê lầm
vì điên đảo che phủ, nên thân bất tịnh cho là thanh tịnh. Nếu phá dẹp tâm
điên đảo liền được pháp quán thật tướng. Khi ấy, biết thân là bất tịnh, hư
dối không thật.
Lại nữa, thây chết không còn hơi ấm; mạng
sống, thần thức và các căn đã bế tắt. Người nhận biết kỹ thì tâm không còn
mến tiếc. Thân có hơi ấm, mạng sống, thần thức và các căn đầy đủ nên tâm
điên đảo mê lầm, sanh say đắm.
Lại nữa, khi tâm yêu đắm sắc thân, cho đó là
sạch. Tâm yêu dứt thì liền biết thân là không sạch.
Nếu thân thật sạch thì phải thường sạch,
nhưng đây chẳng phải như thế. Như chó ăn phân, cho là sạch; người thấy,
cho đó là rất dơ. Trong và ngoài thân, không một chỗ nào sạch, bằng như
chấp đắm bề ngoài thân thì chẳng qua nó chỉ là một lớp da mỏng bao bọc.
Nắm da cắt một miếng bằng miếng xoài thì bao thứ dơ nhớp hiện bày, huống
nữa bên trong thân chứa ba mươi sáu thứ nhơ uế!
Suy cho cùng, thân là tập
hợp bao thứ bất tịnh. Thân do tinh cha huyết mẹ hợp thành, lại thường chảy
ra đồ bất tịnh; y phục, giường nệm cũng dơ uế, hôi thối, huống là chỗ chứa
thây chết. Vì thế nên biết, thân người dù sống hay chết, bên trong và
ngoài đều là bất tịnh.
Người tu tịnh quán có ba
bậc: mới tập, đã tập, đã tập lâu.
Người mới tập nên dạy:
tưởng lột hết da, bỏ hết những thứ bất tịnh, chỉ còn bộ xương màu đỏ, tập
trung vào quán tưởng, không cho khởi nghĩ gì khác. Có nghĩ khác, liền
nhiếp niệm kéo về.
Nếu người đã tập nên dạy:
tưởng lột hết da thịt, quán bộ xương đầu, không nghĩ gì khác. Có nghĩ gì
khác, liền nhiếp niệm kéo về.
Nếu người đã tập lâu nên
dạy: tưởng lột hết da thịt, buộc ý vào một trong năm chỗ: đỉnh đầu, trán,
giữa chặn mày, chót mũi, quả tim. Buộc ý vào năm chỗ ấy, quán xương, không
nghĩ gì khác. Nghĩ khác, liền nhiếp trở về. Thường quán xét tâm, nó chạy
đi liền kéo trở lại. Nếu tâm mệt mỏi thì tự xả duyên ngoài, trụ ở sở
duyên.
Thí như con khỉ bị cột ở
trụ cây, vọt nhảy mệt rồi nằm yên bên trụ. Sở duyên như trụ cây, niệm như
dây buộc, tâm dụ như con khỉ. Lại giống như người mẹ chăm giữ con còn bú,
không để nó rơi té. Hành giả quán sát tâm cũng như vậy, dần dần chế phục
được tâm, bắt nó trụ một chỗ. Nếu tâm trụ được lâu, đó là hợp pháp thiền,
bằng như đắc thiền định thì hiện ba tướng:
- Một là thân thể nhẹ
nhàng, mềm dịu, vui vẻ, xương trắng phát ra ánh sáng trắng như ngọc kha,
tâm được dừng lặng. Ðó là tịnh quán. Khi ấy được tâm trong sắc giới.
Ðó là người mới học pháp
thiền, được tâm sắc giới.
Tâm hợp với pháp thiền
tức là pháp sắc giới.
Tâm được pháp này, thân
tuy ở dục giới nhưng tứ đại rất điều hòa, an lạc, hình sắc trong sạch, mềm
dịu, tươi nhuận. Ðó là tướng vui vẻ.
- Hai là hành giả nội
quán tướng xương trắng phát ra ánh sáng màu trắng trong sạch, chiếu tỏa
khắp.
- Ba là tâm trụ một chỗ,
gọi là tịnh quán. Bỏ thịt quán xương nên gọi là tịnh quán.
Ba tướng trên đều tự
biết, người khác chẳng thấy biết.
Ba bậc tu tập ở trên là:
1- Bậc mới tu tập, trước
chưa phát tâm.
2- Bậc đã tu hành ba bốn
năm.
3- Bậc tu tập lâu khoảng
một trăm năm.
II. PHÁP MÔN TRỊ SÂN
HẬN:
Nếu người nhiều sân hận nên học
pháp môn ba thứ từ tâm:
- Nếu người mới tu
tập, nên dạy: hướng tâm từ đến người thân thương mến.
Thế nào là hướng tâm từ
đến người thân và nguyện cho họ được vui? - Hành giả nếu được các thứ thân
tâm vui thích, như khi lạnh được mặc ấm, khi nóng được mát mẻ, đói khát
được ăn uống, nghèo cùng được giàu sang, làm mệt được nghỉ ngơi.... Những
thứ vui như vậy đều nguyện cho người thân mến được hưởng. An trú vào tâm
Từ một cách chuyên nhất, nếu nghĩ các duyên khác liền thu nhiếp trở về.
- Nếu người đã tu tập
thì nên dạy: hướng tâm từ đến người không thân sơ.
Thế nào là hướng tâm từ
đến người không thân sơ, nguyện cho họ được vui? - Hành giả nếu được các
thứ thân tâm vui thích thì nguyện cho người thân và người không thân cùng
chung hưởng. An trú vào tâm từ một cách chuyên nhất, nếu nghĩ các duyên
khác liền thu nhiếp trở về.
- Nếu là người tu tập
đã lâu thì nên dạy: hướng tâm từ đến người thù ghét.
Thế nào là hướng tâm từ
đến người thù ghét, nguyện cho họ được vui? - Hành giả nếu được các thứ
thân tâm vui thích thì nguyện cho người mà mình thù ghét được chung hưởng,
sự hưởng này đồng với người thân của mình, cùng được như nhau. Tâm ấy rộng
lớn thanh tịnh. Xem người thân kẻ oán đều bình đẳng, làm cho tất cả chúng
sanh trong vô lượng thế giới đều được an vui, khắp cả mười phương cùng một
tâm bình đẳng, rộng lớn, thanh tịnh. Xem chúng sanh trong cả mười phương
như thân mình, thấy họ rõ ràng trước mắt, cùng thọ hưởng khoái lạc. Khi
ấy, liền đắc Từ tâm Tam muội.
Hỏi rằng: Người thương mến nguyện cho họ được vui, còn
người thù ghét, hung ác tại sao thương xót, lại nguyện cho họ được vui?
Ðáp:
- Nên ban vui cho họ. Vì
sao? - Người ấy còn nhiều đức tánh tốt, là nhân của pháp thanh tịnh. Tại
sao nay ta vì cái thù nhỏ mà quên bao đức tánh tốt của họ?
Lại suy nghĩ: “Người ấy ở
trong đời quá khứ biết đâu là người thân của ta, nay đâu vì chút sân hận
mà sanh thù ghét họ? Ta phải nhịn họ, đó là việc thiện lợi của ta”.
Lại tự nghĩ: “Ta thực
hành các việc nhân đức gồm hoằng truyền sức từ bi vô lượng, không để diệt
mất”.
Kế đến lại nghĩ: “Nếu
không có người oán hận thì không do đâu mà sanh lòng nhẫn. Sanh nhẫn là do
kẻ oán, nên kẻ oán là thân thuộc của ta. Hơn nữa, quả báo của sân hận là
tối trọng, trong các điều ác, nó là hơn hết. Do sân mới hại người, độc sân
rất khó kềm chế. Tuy muốn đốt người, kỳ thật lại tự thiêu mình”. Nên tự
suy nghĩ: “Ngoài mặc áo pháp, bên trong thực hành hạnh nhẫn, gọi là Sa môn
thì đâu vì lời nói xấu liền đổi sắc mặt, rồi buông lung theo tâm tệ ác”.
Lại nghĩ: “Thân năm ấm
này là rừng khổ, là nơi chịu những điều tai ác, nên khi khổ não tai ác đến
thì đâu thể tránh được? Như gai nhọn đâm vào thân, khổ đau vô cùng. Các
thứ thù oán rất nhiều, không thể diệt hết, phải tự bảo vệ bằng cách mang
giày nhẫn nhục”.
Ðức Thế tôn dạy:
- Người lấy sân trả sân
Sân trở lại hại mình
Kẻ sân, mình không trả
Hay phá vỡ đại quân
Có thể không sân hận
Là pháp bậc đại nhân
Kẻ tiểu nhân sân hận
Như núi khó lay động
Sân là thứ độc dữ
Sức tàn hại rất mạnh
Không làm hại được người
Trở lại tự hại mình
Sân là bóng tối lớn
Có mắt mà không thấy
Sân hận là bụi nhơ
Làm nhiễm tâm trong sạch
Như vậy tâm sân hận
Nên cấp tốc trừ bỏ
Rắn độc ở trong nhà
Nhông diệt ắt hại người
Tâm sân hận như thế
Nhiều không thể nói hết
Thường tập tâm từ bi
Dập tắt lửa sân hận.
Ðó là pháp môn từ bi tam muội.
III. PHÁP MÔN TRỊ NGU
SI:
Nếu người nhiều ngu si
nên học pháp môn ba thứ tư duy: người mới tập, người đang tập, người tập
đã lâu.
- Nếu người mới tập thì
nên dạy:
“Sanh duyên lão tử, vô
minh duyên hành”. Suy nghĩ như vậy, không nghĩ việc khác, nếu có nghĩ khác
liền thu nhiếp trở về.
- Nếu người đang tu tập,
nên dạy:
“Hành duyên thức, thức
duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu”. Suy nghĩ như vậy, không
nghĩ gì khác, nghĩ các việc khác liền thu nhiếp trở về.
- Nếu người đã tập lâu
thì nên dạy: “Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc,
danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái,
ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử”. Suy nghĩ
như vậy, không cho nghĩ gì khác. Nghĩ các việc khác liền thu nhiếp trở về.
Tất cả người trí là minh.
Tất cả người ngu là vô minh. Trong đó thế nào là vô minh? - Vô minh là
không biết tất cả. Vô minh ở đây là hay tạo có đời sau, việc có cho là
không, việc không cho là có, bỏ các pháp thiện, làm theo pháp ác. Phá
tướng chân thật, chấp các thứ giả dối. Như trong phẩm Vô minh tướng nói:
Không rõ pháp lợi ích
Không biết hành đạo đức
Nên gây nhân kiết sử
Lửa do cọ xát có
Pháp ác mà tâm thích
Rời xa mọi pháp lành
Giặc cướp trí chúng sanh
Suốt quá khứ vị lai
Tưởng thường, lạc, ngã, tịnh
Chấp đắm thân năm ấm
Pháp khổ - tập - tận - đạo
Lại cũng không thể biết
Ðường hiểm nhiều khổ não
Người mù đi vào trong
Vì phiền não nghiệp nhóm
Vì nghiệp khổ xoay vần
Không nên lấy, lại lấy
Nên lấy, lại vứt đi
Theo tối vào đường hiểm
Dẫm phải gốc té nhào
Có mắt mà chẳng thấy
Dụ đó cũng như vậy
Vì nhân duyên đã diệt
Trí sáng như mặt trời.
Như thế lược nói vô minh cho đến lão
tử cũng lại như vậy.
Hỏi:
“Lý nhân duyên trong Phật pháp sâu xa
thì làm sao người nhiều ngu si có thể quán nhân duyên?”.
Ðáp:
“Người ngu si có hai hạng:
- Hạng như trâu dê.
- Hạng thứ hai đủ các loại tà kiến,
là hạng người ngu si mê lầm, ám tế, tà kiến”.
Ðức Phật vì hạng người này nên dạy
pháp quán nhân duyên thực tập chánh định.
IV. PHÁP MÔN TRỊ LO NGHĨ:
Nếu người nhiều lo nghĩ phải tu tập
pháp môn A-na-ban-na tam muội.
Có ba hạng người học: người mới thực
tập, người đã thực tập, người thực tập đã lâu.
Nếu người mới thực tập thì nên dạy:
nhất tâm đếm hơi thở ra vào, hoặc dài hoặc ngắn, đếm từ một đến mười.
Nếu người đã thực tập thì nên dạy:
đếm số hơi thở từ một đến mười theo hơi thở ra vào, niệm cùng hơi thở,
dừng tâm một chỗ.
Nếu người đã thực tập lâu nên dạy:
sổ, tùy, chỉ, quán, chuyển quán, thanh tịnh.
A-na-ban-na tam muội có sáu môn, chia
thành mười sáu phần.
Thế nào là nhất tâm đếm hơi thở vào?
- Hơi thở vào đến cùng, đếm một. Hơi
thở ra đến cùng, đếm hai. Nếu thở chưa hết hơi mà đếm là sai. Nếu đếm từ
hai đến chín mà lẫn lộn thì phải đếm lại từ đầu là một. Ví như nhà toán
học tính một cộng một là hai, hai cộng hai là bốn, ba lần ba là chín....
không sai một mảy.
Hỏi:
- Tại sao phải đếm?
Ðáp:
- Vì dễ đắc pháp quán vô thường, cũng
dứt các suy nghĩ nên được nhất tâm. Thân tâm sanh diệt vô thường, tương tợ
liên tục khó thấy, nhờ hơi thở vào ra mà sanh diệt vô thường dễ biết, dễ
thấy. Lại nữa, tâm buộc tại số đếm, dứt các suy tư, đó là: suy tư về dục,
suy tư về nóng giận, suy tư về buồn phiền, suy tư về thân quyến, xóm làng,
suy tư về cõi nước, suy tư về bất tử.
Người muốn cầu tịnh tâm để vào chánh
đạo, trước hết phải trừ bỏ ba thứ suy tư thô, sau trừ ba thứ suy tư tế.
Trừ hết sáu thứ suy tư này sẽ được tất cả pháp thanh tịnh. Ví như người
đãi vàng, trước lựa bỏ sỏi lớn, sau mới lần lượt loại bỏ sạn, cát nhỏ rồi
mới được vàng.
Hỏi:
- Thế nào là bệnh thô? Thế nào là
bệnh tế?
Ðáp:
- Suy tư tham dục, nóng giận, não hại
là ba thứ bệnh thô.
- Suy tư về thân thuộc, cõi nước, bất
tử là ba thứ bệnh tế.
Trừ hết những thứ suy tư này thì sẽ
được tất cả pháp thanh tịnh.
Hỏi:
- Người chưa đắc đạo, kiết sử chưa
đoạn, sáu thứ suy tư mạnh mẽ từ tâm khởi lọan thì làm sao trừ được?
Ðáp:
- Tâm chán thế gian, tu chánh quán
thì có thể chặn mà chưa thể nhổ tận gốc. Sau khi đắc đạo vô lậu mới nhổ
tận gốc kiết sử.
Thế nào là chánh quán?
- Thấy người đa dục cầu dục khổ
Ðược rồi giữ gìn, càng khổ thêm
Khi mất, buồn rầu là khổ lớn
Khi tâm được dục, không hết khổ
Dục là vô thường, khổ, rỗng không
Nhóm họp đủ cả, biết nên bỏ
Ví như rắn độc vào trong nhà
Không gấp diệt trừ, hại ắt đến.
Bất định, không thật, không giá trị
Cầu mong những thứ vui điên đảo
Bậc A-la-hán sáu thần thông
Dạy bảo đệ tử cảnh giác dục
Ông không phá giới, giới thanh tịnh
Không cùng người nữ ở chung nhà
Rắn độc tham dục đầy nhà tâm
Vui ái buộc ràng chẳng lìa nhau
Ðã biết giới thân không thể phá
Tâm ông cùng lửa dục ở chung
Ông là người xuất gia cầu đạo
Cớ sao buông lung tâm như vậy!
Cha mẹ sanh ra, nuôi lớn ông
Thân thuộc yêu thương cùng tác thành
Họ đều rơi lệ quyến luyến ông
Ông đành lìa xa không đoái tưởng
Mà tâm luôn luôn nghĩ đến dục
Vui đùa cùng dục, tâm không chán
Thường thích ở chung cùng lửa dục
Vui vẻ thích thú, không tạm lìa.
Như vậy là các cách quở trách tham
dục và các pháp chánh quán trừ tham dục.
Hỏi:
- Làm thế nào để diệt sự nóng giận?
Ðáp:
- Trụ thai, xuất thai luôn bị khổ
Chúng sanh như vậy chớ giận, hại!
Nóng giận khởi lên, từ bi diệt
Từ bi - sân hận, chẳng hiệp nhất.
Ông niệm từ bi, sân hận diệt
Ví như sáng tối không cùng chỗ
Nếu trì tịnh giới mà nóng giận
Người ấy tự mình phá pháp lợi.
Ví như đàn voi vào nước tắm
Lại lấy đất bùn trây khắp thân
Tất cả đều bị già - bệnh - chết
Mọi thứ đánh đập trăm ngàn khổ
Vì sao người hiền thương chúng sanh
Ta lại tăng thêm sự sân hận?
Nếu sanh sân hận muốn hại người
Chưa hại được người, tự đốt ta
Nên thường thực hành hạnh từ bi
Trong không sanh niệm sân não hại
Người nào thường nhớ hành pháp thiện
Tâm ấy thường làm điều Phật nghĩ
Vì vậy không nên nghĩ bất thiện
Thường nghĩ pháp lành, tâm vui vẻ
Nay vui, đời sau cũng được vui
Ðắc đạo thường vui là Niết-bàn
Nếu tâm ôm ấp việc bất thiện
Tự mình mất lợi, hại kẻ khác
Gọi là mình người đều mất thiện
Người có tịnh tâm cũng chìm mất
Ví như đạo nhơn ở chỗ vắng
Giơ tay khóc lớn: “Giặc cướp tôi ”.
Có người hỏi:
- Ai cướp ông?
Ðáp:
- Giặc cướp của cải tôi không sợ. Tôi
không chứa của cải, cầu lợi ở đời thì giặc của cải nào hại được tôi? Tôi
tu tập thiện căn, các pháp bảo, giặc “giác quán” đến phá hoại lợi ích của
tôi, giặc cướp của cải thì có thể tránh, có nhiều nơi để giấu còn giặc
cướp pháp lành thì không có chỗ trốn.
Như vậy là các cách quở trách nóng
giận và các pháp chánh quán trừ nóng giận.
Hỏi:
- Làm thế nào để trừ não hại?
Ðáp:
- Ðáp rằng chúng sanh trăm ngàn loại
Các bệnh thay nhau đến bức não
Giặc chết thường rình muốn giết hại
Tự chìm đắm trong vô lượng khổ
Tại sao lại não hại người hiền?
Chê bai mưu hại không từ mẫn
Chưa tổn thương người, tự mang họa
Người đời gây hại có thể tha
Việc đó với đời là nhân ác
Cũng không tự nói ta tu thiện
Người xuất gia cầu đạo thanh tịnh
Mà sanh nóng giận, tâm ganh ghét
Trời tạnh trong mây phóng lửa độc
Nên biết ác đây tội rất nặng
Người ở thanh vắng khởi ganh ghét
Có La-hán chứng tha tâm trí
Dạy quở trách rằng: Ngươi sao dại!
Ganh ghét tự phá cội côngđức
Nếu cầu cúng dường nên tu tập
Dùng các công đức trang nghiêm thân
Nếu không trì giới, thiền, đa văn
Dối mặc y nhuộm hoại pháp thân
Ðúng kẻ xin ăn người tệ ác
Sao cầu cúng dường để lợi thân
Ðói khát, nóng lạnh trăm ngàn khổ
Chúng sanh thường bị các khổ này
Thân tâm khổ sở không cùng tận
Tại sao người hiền thêm não hại?
Ví như ung nhọt dùng kim chích
Như người tù đang bị tra khảo
Khổ sở trói thân phiền não nhóm
Sao từ bi, lại làm khổ thêm?!
Như vậy là các cách quở
trách não hại và các pháp chánh quán trừ não hại.
Hỏi:
- Làm sao để trừ suy tư
về thân thuộc?
Ðáp:
- Nên nghĩ thế này: Trong
thế giới sanh tử, do duyên lôi kéo thì đâu là thân, đâu là không thân?
Chỉ vì ngu si nên sanh tâm sai lầm, chấp là thân thuộc của ta. Ðời quá khứ
chẳng phải là thân thuộc, cho là thân thuộc. Ðời vị lai chẳng phải là thân
thuộc, cho là thân thuộc. Ðời hiện tại là thân thuộc nhưng quá khứ chẳng
phải là thân thuộc.
Ví như đàn chim tối về
cùng đậu trên một cây, sáng ra theo duyên mà mỗi con bay mỗi phương. Dòng
họ thân thuộc cũng lại như vậy, sanh trong thế giới tâm mỗi người khác
nhau, nhân duyên hội hợp thành người thân, nhân duyên tan rã thành kẻ sơ,
không có nhân duyên quả báo cố định gần gũi nhau mãi.
Ví như cát khô do tay nắm
chắc nên cát hợp thành khối. Do nắm nên hiệp, do thả nên tan. Cha mẹ nuôi
con đến già sẽ được báo đáp. Con nhờ cha mẹ bảo bọc nuôi dưỡng nên phải
báo đáp lại. Nếu thuận ý cha mẹ là thân, nếu trái ý cha mẹ là giặc. Có
người thân không thể làm lợi ích, trái lại còn gây hại. Có người không
thân không gây hại mà lại giúp ích. Người do nhân duyên mà sanh ái, cũng
do nhân duyên ái mà chia lìa.
Ví như họa sĩ vẽ hình
người nữ rồi tự thương nhớ, ở đây cũng như vậy, tự sanh lòng đắm trước vật
bên ngoài. Trong đời quá khứ, ông có quê hương thân thuộc, đời nay ông
phải làm sao? Ông đâu thể làm lợi ích cho người thân trong quá khứ. Người
thân trong quá khứ cũng đâu giúp ích được ông. Cả hai đều không giúp ích
được nhau, dù là thân hay chẳng phải thân cũng chỉ là nghĩ suông thôi.
Trong thế giới vô biên vô
định, không thiết nghĩ ai là thân, ai là không thân.
Như vị La-hán dạy đệ tử
mới xuất gia còn quyến luyến người thân: “Như người hèn mửa thức ăn rồi
muốn ăn lại, ông cũng như vậy. Ông đã được xuất gia, vì sao lại còn lưu
luyến dục? Cạo tóc, nhuộm y là tướng giải thoát, ông yêu mến thân thuộc
quê hương, không được giải thoát, còn bị ái buộc. Ba cõi vô thường, lưu
chuyển không dừng, hoặc người thân, hoặc chẳng phải người thân, tuy nay là
người thân thuộc nhưng, về sau ắt phải diệt”.
Như vậy, chúng sanh trong
mười phương lưu chuyển xoay vần, quê hương thân thuộc vô định thì đâu
chẳng phải là quê hương thân thuộc của ta? Người khi sắp chết, không tâm
không thức, đôi mắt đứng tròng, khí dừng, mạng dứt, như rơi hầm tối. Khi
ấy quê hương thân thuộc đâu còn!
Nếu khi mới sanh, đời
trước không thân, nay gượng hòa hợp làm thân, hoặc khi sắp chết, người
thân lại thành không thân. Tư duy như thế không nên quyến luyến thân
thuộc.
Như đứa trẻ chết cùng lúc
cha mẹ ba loài đều khóc lóc cuồng loạn: cha mẹ vợ con cõi trời, cha mẹ cõi
người, cha mẹ loài rồng cũng khóc cuồng loạn.
Như vậy, các pháp chánh
quán trừ suy tư về thân thuộc.
Hỏi:
- Làm thế nào để trừ suy
tư về cõi nước?
Ðáp:
- Hành giả nếu suy tư về
cõi nước phồn vinh, an ổn, vui vẻ, có nhiều người tốt, nên thường bị sự
suy tư trên ràng buộc, lôi kéo thì cần phải bỏ đi suy tư lỗi lầm như thế.
Nếu là người trí thì không nên đắm trước. Vì sao vậy? - Vì cõi nước bị
thiêu đốt bởi các lỗi lầm nên thời tiết thay đổi, thêm sự đói khát nên
thân thể mỏi mệt.
Tất cả cõi nước vô
thường, không an ổn. Lại nữa, khổ già bệnh chết không nước nào mà không
có. Thân ở nơi này cũng khổ, đến được nơi khác thân cũng khổ. Ði khắp cả
cõi nước không nơi nào mà không khổ.
Giả như cõi nước an ổn,
phồn thịnh, vui vẻ mà còn có phiền não, do tâm sanh tai họa đau khổ thì đó
chẳng phải là cõi nước tốt. Nếu có thể trừ đi những thứ xấu xa trong cõi
nước, làm mỏng bớt kiết sử, tâm không còn khổ não, thì đó là cõi nước tốt.
Tất cả chúng sanh có hai
loại khổ: khổ thân và khổ tâm nên thường bị khổ não, không có cõi nước nào
mà không có hai thứ khổ này.
Lại nữa, có cõi nước rất
lạnh, có cõi nước rất nóng, có cõi nước đói khát, có cõi nước nhiều bệnh,
có cõi nước nhiều giặc, có cõi nước không có pháp luật.
Như vậy, đối với các thứ
xấu ác của cõi nước, tâm không nên đắm trước. Như vậy là chánh quán trừ sự
suy tư về cõi nước.
Hỏi:
- Làm thế nào để trừ sự
suy tư về bất tử?
Ðáp:
- Nên dạy hành giả: hoặc
sanh trong nhà giàu sang, hoặc con dòng họ tài năng, có thế lực hơn
người... tất cả đừng nghĩ nhớ. Vì sao vậy? - Vì khi thần chết đến thì
không lựa già, trẻ, sang, hèn, tài năng, thế lực....
Thân này là nơi hợp các
duyên sầu khổ. Ai thấy mình còn trẻ, sống lâu, cho là được an ổn thì đó là
kẻ ngu si. Vì sao? - Vì ưu sầu khổ não nương vào tứ đại này, tứ đại tạo
nên hình thể như bốn con rắn độc chống trái lẫn nhau, thì làm sao được yên
ổn!
Hơi thở ra không thể tin
trở vào. Lại như người khi ngủ mà nghĩ chắc chắn thức dậy đều là việc khó
tin. Từ khi vào thai cho đến lúc già, cái chết thường đến, cái chết luôn
tìm đến mà cứ nói là không chết thì làm sao có thể tin?
Giống như giặc giết hại,
rút dao, giương cung, tìm người để giết, không lòng thương xót. Cuộc sống
của người ở đời, sức mạnh sự chết là hơn hết, không có gì thắng được sức
mạnh của sự chết. Dù người tài giỏi nhất trong đời quá khứ cũng không
thoát được cái chết. Bậc đại trí trong đời hiện tại cũng không thể thắng
nó, không thể dùng lời nhỏ nhẹ van xin được. Chẳng thể dùng lời khéo léo
đánh lừa được, hòng thoát khỏi nó; cũng không thể trì giới tinh tấn mà từ
khước được cái chết.
Do đó nên biết, mạng
người tạm bợ không thể trông cậy. Chớ có tin rằng ta sẽ sống lâu. Bọn giặc
chết thường dẫn người đi, không đợi đến già rồi mới giết.
Như A-la-hán dạy các đệ
tử bị sự não hại của các suy tư rằng: - Vì sao ông không biết ông đã nhàm
chán thế gian vào đạo, mà còn suy nghĩ như thế?
Có người chưa sanh ra đã
chết, có người chết trong khi sanh, có người chết trong lúc còn bú, có
người chết sau khi hết bú, có người chết lúc còn bé, có người chết trong
thời trai tráng, có người chết lúc tuổi già... trong mọi lúc đều có sự
chết. Ví như cây vừa có hoa, hoa liền rụng, hoặc thành trái mới rụng, hoặc
chưa chín đã rụng. Do đó nên biết, cần nỗ lực tinh tấn để cầu đạo an ổn.
Cùng ở với giặc có sức
mạnh lớn không thể tin. Giặc này như cọp, rất khéo giấu mình. Như vậy giặc
chết thường tìm người giết. Mọi vật trong thế giới rỗng không như bọt
nước. Tại sao nói đợi thời cơ đến rồi mới vào đạo? Ai có thể bảo chứng
chắc chắn rằng ông sống đến già để được hành đạo?
Ví như cây to cheo leo
bên bờ vực, bên trên thì gặp cuồng phong, bên dưới thì bị lũ lớn xoi lỡ,
bày cả rễ, ai mà tin cây này tồn tại lâu dài? Mạng người cũng vậy, còn nhỏ
cũng không thể tin. Cha như lúa giống, mẹ như ruộng tốt, nhân duyên tội
phước đời trước như mưa thấm nhuần. Chúng sanh như cây lúa, chết sống như
cắt gặt.
Những bậc thiên tử, nhơn
vương trí đức..., như thiên vương giúp chư thiên đánh phá quân A-tu-luân,
họ đều hưởng những thú vui cao tột tốt đẹp, nhưng rồi lại rơi vào tối tăm.
Vì vậy, chớ nên tin vào mạng sống mà nói rằng: “Ngày nay ta làm việc này,
ngày mai ta sẽ làm việc ấy”.
Như vậy là pháp chánh
quán trừ suy tư về bất tử.
Như thế, trước trừ suy
nghĩ thô, sau đó trừ suy nghĩ tế. Khi tâm thanh tịnh liền được chánh đạo,
tất cả kiết sử đều đoạn tận, từ đây được chỗ an ổn. Ðó là quả xuất gia.
Tâm được tự tại, ba
nghiệp thanh tịnh hơn hết, không còn thọ thai, đọc các kinh và nghe nhiều,
khi ấy được quả báo. Khi được như vậy thì hoàn toàn phá hết ma quân, liền
được tôn xưng là bậc dõng mãnh đệ nhất. Còn bỏ phiền não ở trong thế giới
mà đi thì không gọi là mạnh, nhưng có thể phá giặc phiền não, trừ lửa tam
độc để được mát mẻ, vui vẻ, thanh tịnh, gối cao đầu an ổn trong rừng
Niết-bàn, cùng với các thứ gió mát thiền định, ngũ căn, ngũ lực, thất giác
từ bốn hướng thổi đến và nghĩ đến chúng sanh chìm đắm trong biển tam độc,
có cái đức diệu lực như vậy mới gọi là mạnh.
Như vậy, người tán tâm
nên niệm A-na-ban-na và học sáu pháp để đoạn trừ các suy nghĩ. Vì vậy nên
niệm sổ tức.
Hỏi:
- Trong bốn pháp quán
như: pháp quán bất tịnh, niệm Phật,... cũng đoạn trừ được suy nghĩ, thì vì
sao chỉ nói về sổ tức?
Ðáp:
- Do các pháp quán khác
chậm rãi nên khó mất, còn pháp sổ tức nhanh chóng nên dễ chuyển. Ví như
thả trâu, bởi trâu khó mất nên sự coi giữ dễ lơ là. Còn thả khỉ dễ mất nên
phải coi giữ cẩn thận. Ðây cũng như vậy, tâm đếm số hơi thở, đếm không để
chút thời gian nghĩ việc khác, phút chốc nghĩ việc khác thì liền quên số
đếm. Vì vậy nên ban đầu muốn đoạn trừ suy nghĩ thì phải tu sổ tức.
Ðã đắc pháp sổ tức nên
thực hành tùy tức để đoạn trừ suy nghĩ. Tâm nương theo hơi thở vào đến
cùng, đừng đếm một. Hơi thở ra, tâm nương theo đến cùng, chớ đếm hai. Ví
như chủ nợ đến đòi người mắc nợ, theo sát chẳng rời. Tư duy như thế, hơi
thở vào, hơi thở ra lại có sự khác nhau, khi ấy biết được hơi thở vào
khác, hơi thở ra khác. Vì sao vậy? - Vì hơi thở vào lạnh, hơi thở ra ấm.
Hỏi:
- Hơi thở vào - ra chỉ là
một hơi thở. Vì sao? - Vì ra rồi lại trở vào. Ví như nước ngậm thì ấm, nhổ
ra thì lạnh. Nước lạnh trở nên ấm, nước ấm trở lại lạnh?
Ðáp:
- Không phải vậy. Do nội
tâm động nên có hơi thở ra, ra rồi liền mất, mũi miệng dẫn từ bên ngoài
thì có hơi thở vào, vào rồi liền diệt, cũng không có sắp ra, không có sắp
vào.
Lại nữa, tuỳ theo hạng
tuổi: trẻ, lớn, già. Người trẻ thì hơi thở vô dài, thanh niên hơi thở ra
vào bằng nhau, người già hơi thở ra dài. Vì vậy, chẳng phải là một hơi
thở.
Lại nữa, từ rốn hơi thở
phát ra dường như tương tục, hơi ra đến bên ngoài mũi miệng, ra rồi liền
mất. Ví như hơi trong quả bóng, khi mở ra liền mất. Nếu dùng duyên của
mũi, miệng dẫn gió vào, từ đó nhân duyên mới phát sanh.
Ví như cái quạt, do các
duyên hợp lại thì có gió. Khi ấy biết do nhân duyên của hơi thở ra vào mà
có sự hư dối không thật, sanh diệt là vô thường.
Tư duy như vậy, hơi thở
ra từ nhân duyên của mũi miệng dẫn dắt, hơi thở vào do nhân duyên tâm động
mà phát sanh. Người mê không biết, cho đó là hơi thở của mình. Hơi thở là
gió, cùng gió bên ngoài không khác.
Ðất - nước - lửa - không
cũng lại như vậy. Do nhân duyên của năm đại hòa hợp nên thức sanh. Thức
cũng như vậy, chẳng phải của ta. Năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới cũng
như thế. Biết như vậy, theo hơi thở vào ra gọi là tùy.
Ðã được pháp tùy rồi, nên
thực hành pháp chỉ.
Pháp chỉ: sổ và
tùy tâm rất an trú, nên dừng ý nơi lỗ mũi để niệm hơi thở ra vào.
Hỏi:
- Vì sao phải chỉ?
Vì đoạn trừ các suy nghĩ để tâm không còn tán loạn. Nhưng khi đếm và nương
hơi thở thì nhiều căng thẳng, tâm không định. Chỉ thì tâm an nhàn,
ít căng thẳng, trụ tâm một chỗ, ghi nhận hơi thở ra vào. Ví như người giữ
cửa, đứng ở gần cửa xem xét người ra vào, tâm chỉ cũng vậy, biết
hơi thở khi ra từ rốn lên tim, ngực, cổ họng, miệng, mũi; khi hơi thở vào
thì từ miệng, mũi, cổ họng, tim đến rốn. Cột tâm một chỗ như vậy gọi là
chỉ.
Lại nữa, trong pháp
chỉ, tâm dừng lại để quán sát. Khi hơi thở vào, năm ấm sanh diệt khác,
khi hơi thở ra năm ấm sanh diệt khác. Như thế, tâm loạn liền diệt trừ,
nhất tâm tư duy làm cho pháp quán tăng trưởng, thì đó gọi là pháp quán.
Bỏ việc trụ tâm ở lỗ
mũi, lìa pháp quán thô. Ðã lìa pháp quán thô thì biết hơi thở là vô
thường, đây gọi là chuyển quán. Quán ngũ ấm vô thường cũng niệm hơi thở ra
vào sanh diệt vô thường. Thấy hơi thở ban đầu không từ đâu đến, kế đến
quán hơi thở sau cũng không có dấu vết, do nhân duyên hợp nên hiện hữu, vì
nhơn duyên tan rã nên không còn. Ðó là pháp chuyển quán.
Trừ diệt ngũ cái và các
phiền não, tuy trước được chỉ quán mà phiền não chưa sạch, tâm còn tạp
loạn. Nay pháp tịnh này làm tâm được thanh tịnh. Lại nữa, pháp quán trước
là dị học, giống như hành pháp niệm hơi thở ra vào. Nay hành pháp vô lậu
giống như hành pháp thiện hữu lậu, gọi đó là thanh tịnh.
Lại nữa, pháp quán đầu là
một phần trong thân niệm chỉ, dần dần toàn thân niệm chỉ, kế đến hành
thống và tâm niệm chỉ. Vì trong đó chưa thanh tịnh, còn xa đạo vô lậu nên
nay trong pháp niệm chỉ, phải quán mười sáu hành trạng, niệm hơi thở ra
vào để đắc pháp noãn, pháp đảnh, pháp nhẫn, pháp thế đệ nhất, pháp khổ,
pháp nhẫn, cho đến vô học tận trí, mới gọi là thanh tịnh.
Trong mười sáu phần ấy,
phần đầu hơi thở vào có sáu hạnh A-na-ban-na, phần hơi thở ra cũng như
vậy. Nhất tâm niệm hơi thở vào ra hoặc dài hoặc ngắn. Ví như người sợ hãi,
người chạy lên núi hoặc như người mang nặng, hoặc như người thở lên...
trường hợp như vậy là hơi thở ngắn. Như người khi mệt được nghỉ ngơi vui
vẻ, lại như người được phóng thích ra khỏi tù... trường hợp như thế thì
hơi thở dài. Tất cả hơi thở đều thuộc trong hai loại thở này, hoặc dài
hoặc ngắn. Thế nên nói hơi thở dài hoặc ngắn trong đó cũng hành sáu việc
của A-na-ban-na.
Niệm các hơi thở
khắp thân cũng niệm hơi thở ra vào. Quán trong thân các hơi thở ra vào,
biết rõ các lỗ chân lông khắp trong thân cho đến ngón chân ngón tay đều
thở. Ví như nước thấm vào cát, biết hơi thở ra khắp lỗ chân lông từ chân
đến tóc. Như nước thấm qua cát. Ví như hơi vô ra đều khắp ở túi da hơi,
hơi vô ra miệng mũi cũng vậy. Thấy hơi thở lưu hành khắp toàn thân, như lỗ
của cọng sen dẫn nước, như lưới đánh cá. Tâm lại quán hơi thở vào ra chẳng
riêng mũi miệng mà tất cả trong các lỗ chân lông cửu khiếu cũng thấy hơi
thở ra vào. Thế nên biết hơi thở khắp thân, trừ các thân hành cũng niệm
hơi thở ra vào.
Người mới học quán hơi
thở, nếu thân lười biếng, mê ngủ, nặng nề thì phải trừ bỏ đi. Thân thể nhẹ
nhàng hòa dịu, thuận theo thiền định, tâm cảm nhận niềm vui, cũng niệm hơi
thở ra vào để trừ sự nặng nề của tâm lười biếng, ngủ nghỉ, được tâm nhẹ
nhàng hòa dịu, thuận theo thiền định, tâm cảm nhận niềm vui.
Lại nữa, vào trong thân
niệm chỉ rồi, kế đến hành thống niệm chỉ xong thì đắc thân niệm chỉ. Ðến
đây thật sự đắc lại thống niệm chỉ, mới cảm thọ niềm vui thật sự.
Lại nữa, đã biết thật
tướng của thân, nay muốn biết thật tướng của tâm và tâm sở pháp. Thế nên
cảm nhận niềm vui cũng niệm hơi thở ra vào, vui thích cũng niệm hơi thở ra
vào, làm pháp hỷ tăng trưởng gọi là lạc.
Lại nữa, trong tâm mới
sanh vui gọi là hỷ, sau toàn thân đều vui gọi là lạc.
Lại nữa, cảm giác vui
trong sơ thiền, nhị thiền gọi là hỷ, cảm giác vui trong tam thiền gọi là
lạc.
Thọ các tâm hành cũng
niệm hơi thở ra vào. Các tâm pháp sanh diệt, tâm pháp nhiễm, tâm pháp
không nhiễm, tâm pháp tán loạn, tâm pháp thâu nhiếp, tâm pháp chánh, tâm
pháp tà... các tướng tâm như vậy gọi là tâm hành.
Khi tâm sanh vui mừng
cũng niệm hơi thở ra vào. Sự cảm giác vui trước là tự sanh, chẳng phải do
cố tâm phát khởi mà có.
Hỏi:
- Vì sao cố tâm phát khởi
vui mừng?
Ðáp:
- Vì muốn trị hai thứ tâm
tán loạn và thâu nhiếp, phát khởi tâm như vậy được ra khỏi phiền não, cho
nên niệm pháp để tâm phát sanh vui mừng. Lại nữa, nếu tâm không vui mừng
thì gắng kích động cho nó vui mừng.
Khi tâm thâu nhiếp cũng
niệm hơi thở ra vào. Nếu tâm không an định thì dõng mãnh nhiếp phục, làm
cho nó an định. Như trong kinh nói: “Tâm định là đạo, tâm loạn chẳng phải
đạo”
Khi tâm khởi giải thoát,
cũng niệm hơi thở ra vào. Nếu ý không giải thoát thì dõng mãnh nhiếp phục,
làm cho nó giải thoát. Như con dê vào lùm cỏ gai, bị gai móc, người vì nó
gở ra lần lần. Tâm khởi sự giải thoát các kiết sử phiền não cũng như vậy.
Ðó gọi là tâm niệm chỉ khởi giải thoát.
Quán vô thường cũng niệm
hơi thở ra vào. Quán các pháp vô thường sanh diệt, rỗng không, không có
tôi ta, khi sanh các pháp rỗng không sanh, khi diệt các pháp rỗng không
diệt. Trong đó không có nam, không có nữ, không có người tạo tác, không có
kẻ thọ nhận... Gọi đó là pháp quán tùy vô thường.
Quán pháp hữu vi tan rã
cũng niệm hơi thở ra vào vô thường, gọi là xuất tán. Các pháp hữu vi hiện
hữu trong hiện tại, do nhân duyên hòa hợp từ quá khứ, do nhân duyên hủy
hoại nên tan rã. Như vậy, nương vào đó quán, gọi là quán tan rã.
Quán lìa sự trói buộc của
dục cũng niệm hơi thở ra vào. Tâm lìa các sự trói buộc là pháp đệ nhất. Ðó
gọi là pháp quán tùy ly dục.
Quán diệt tận cũng niệm
hơi thở ra vào. Các khổ của kiết sử nơi nơi đều dứt là chốn an ổn. Ðó gọi
là quán tùy diệt tận.
Quán buông bỏ cũng niệm
hơi thở ra vào. Các thứ ái nhiễm phiền não, thân, tâm, ngũ ấm và các pháp
hữu vi đều buông bỏ, là chỗ an ổn bậc nhất. Quán như thế gọi là pháp quán
tùy ý chỉ.
Ðó là mười sáu phần (pháp
quán ý chỉ)
V.- PHÁP MÔN TRỊ ÐẲNG
PHẦN:
Phần thứ năm là pháp môn
trị đẳng phần, và người phạm trọng tội cầu làm Phật.
Những người như thế nên
dạy nhất tâm niệm Phật tam muội. Niệm Phật tam muội có ba hạng: hạng mới
tập, hạng đã tập, hạng đã tập lâu.
Nếu người mới tập, nên
dẫn đến trước tượng Phật, hoặc bảo họ tự đến, xem kỹ những tướng tốt của
tượng Phật, mỗi tướng rõ ràng, nhất tâm ghi nhớ, trở về ngồi yên tĩnh,
dùng mắt tâm quán tượng Phật, không cho ý lay chuyển, cột niệm tại hình
tượng, không nghĩ việc khác, có suy nghĩ khác liền thu nhiếp về trụ ở hình
Phật. Nếu hành giả tâm không trụ thì thầy phải dạy rằng:
“Ông nên tự trách tâm: do
ngươi mà ta phải chịu tội không thể tính kể, chết sống không cùng, mọi thứ
khổ não đều đã trải qua, hoặc ở địa ngục nuốt hòn sắt nóng, uống nước đồng
sôi, hoặc trong loài súc sanh nhai cỏ ăn phân, hoặc ở ngạ quỷ chịu khổ đói
khát, hoặc trong loài người nghèo cùng, nguy khốn, hoặc ở cõi trời sầu não
vì mất ngũ dục. Bởi thường theo ngươi nên làm cho thân tam ta chịu vô
lượng khổ não như vậy. Nay ta phải chế phục ngươi, ngươi phải theo ta,
buộc ngươi một chỗ, ta quyết định không để ngươi làm ta khốn đốn nữa, lại
phải chịu mọi sự khổ độc. Ngươi thường làm khổ ta, nay ta phải làm khổ
ngươi”.
Quở trách như vậy thì tâm
hết tán loạn. Khi ấy liền được mắt tâm sáng suốt, thấy tướng tượng Phật rõ
ràng, như mắt nhìn thấy không khác, như thế tâm được trụ. Ðó là hành giả
mới tập tư duy.
Khi ấy hành giả lại nghĩ:
“Hình tướng này là ai? Là hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ở quá khứ. Như
nay ta thấy hình tượng Phật, hình Phật cũng không đến, ta cũng không đi.
Tâm tưởng như thế, thấy Phật thời quá khứ, khi mới giáng thần, chấn động
trời đất, có ba mươi hai tướng đại nhơn:
1- Lòng bàn chân bằng
phẳng.
2- Dưới bàn chân có Thiên
bức luân.
3- Ngón tay dài, đẹp.
4- Gót chân rộng.
5- Kẻ ngón tay ngón chân
đều có màng lưới mỏng.
6- Mu bàn chân cao, bằng,
đẹp.
7- Chân thon, tròn đầy
như nai chúa.
8- Ðứng thẳng, tay quá
gối.
9- Tướng mã âm tàng.
10- Thân tròn, thẳng như
cây Ni-câu-lô-đà.
11- Mỗi lỗ chân lông đều
có một sợi lông.
12- Lông hướng lên và
xoay qua phải.
13- Sắc thân thể hơn sắc
vàng ròng.
14- Hào quang tỏa quanh
thân một trượng.
15- Da mỏng, đẹp.
16- Bảy chỗ đầy đặn.
17- Dưới hai nách bằng
đẹp.
18- Thân trên như sư tử.
19- Thân rất đẹp, ngay
ngắn.
20- Vai tròn đẹp.
21- Có bốn mươi cái răng.
22- Răng trắng, bằng
khít, chân sâu.
23- Bốn răng cửa trắng,
lớn.
24- Má vuông như má sư
tử.
25- Trong vị giác được
thượng vị.
26- Lưỡi lớn, rộng, dài
mà mỏng.
27- Tiếng Phạm âm sâu xa.
28- Âm thanh như tiếng
Ca-lăng-tần-già.
29- Mắt màu xanh biếc như
trời xanh.
30- Lông mi như trâu
chúa.
31- Trên đảnh có nhục kế.
32- Giữa chặn mày có tướng bạch hào dài, đẹp, xoắn
về bên phải.
Lại có tám mươi vẻ
đẹp:
1- Tướng vô kiến đảnh.
2- Mũi cao, thẳng, đẹp,
kín.
3- Lông mày như vầng
trăng lưỡi liềm, xanh như màu lưu ly.
4- Tai đẹp.
5- Thân như Na-la-diên.
6- Xương mắc nhau như mắc
xích.
7- Khi xoay thân như voi
chúa.
8- Khi đi, chân cách đất
bốn tấc mà vẫn in dấu.
9- Móng tay màu như đồng
đỏ, mỏng và bóng sáng.
10- Ðầu gối tròn đẹp.
11- Thân tinh khiết.
12- Thân mềm mại.
13- Thân không cong.
14- Ngón tay thon dài.
15- Ðường chỉ tay đẹp như
bức họa nhiều màu.
16- Mạch sâu không lộ.
17- Mắt cá ẩn không lồi.
18- Thân sáng, bóng láng.
19- Thân vững, không xiêu
quẹo.
20- Thân đầy đủ (tháng ba
thọ thai, tháng hai sanh).
21- Ðầy đủ dung nghi.
22- Ðứng vững chãi như
trâu chúa bất động.
23- Uy dũng trùm khắp.
24- Chúng sanh thích
chiêm ngưỡng.
25- Mặt không dài.
26- Dung mạo đoan chánh,
không có sắc xen tạp.
27- Môi đỏ như màu quả
Tần-bà.
28- Mặt tròn đầy.
29- Âm thanh vang xa.
30- Rốn tròn sâu, không
lồi.
31- Lông khắp thân đều
xoay về bên phải.
32- Chân tay đầy đặn.
33- Tay chân như ý (trong
ngoài đều nắm được).
34- Ðường chỉ tay chân
đều rõ ràng và thẳng.
35- Chỉ tay dài.
36- Chỉ tay không đứt
đoạn.
37- Tất cả chúng sanh có
ác tâm, khi thấy đều lộ vẻ vui mừng.
38- Mặt rộng, đẹp.
39- Mặt như vầng trăng.
40- Chúng sanh thấy không
kinh sợ.
41- Lỗ chân lông tỏa mùi
thơm.
42- Miệng thoảng mùi hương, người gặp, được pháp
lạc bảy ngày.
43- Dung nghi như sư tử.
44- Tiến, dừng như voi
chúa.
45- Ði như ngỗng chúa.
46- Ðầu như quả Ma-đa-la
(quả này không tròn không dài).
47- Ðầy đủ âm thanh (có
sáu mươi loại âm thanh, Phật đều biết hết).
48- Răng sắc bén.
49- (Vì chữ Hán không có
tên gọi nên không nêu).
50- Lưỡi rộng và đỏ.
51- Lưỡi mỏng.
52- Lông màu hồng, sạch
sẽ.
53- Mắt rộng, dài.
54- Khổng môn đầy, tướng
cửu khiếu đủ và đầy đặn.
55- Chân tay trắng đỏ như
màu hoa sen).
56- Bụng không lồi.
57- Bụng không lép.
58- Thân bất động.
59- Thân nặng.
60- Thân lớn.
61- Thân cao lớn.
62- Chân tay sạch, đầy
đặn.
63- Quanh thân có hào
quang lớn, khi đi ánh sáng chiếu khắp.
64- Coi chúng sanh như
nhau.
65- Giáo hóa chẳng chấp
trước, không ham đệ tử.
66- (Nói) âm thanh vừa
phải tuỳ theo từng loài chúng sanh (thích nghe).
67- Tùy theo ngôn ngữ của
chúng sanh mà thuyết pháp.
68- Lời nói không ngăn
ngại.
69- Thuyết pháp theo thứ
lớp, không gián đoạn.
70- Tướng Phật, chúng
sanh nhìn ngắm không thể biết hết.
71- Ngắm không nhàm chán.
72- Tóc dài, đẹp.
73- Tóc xoắn đẹp.
74- Tóc không rối.
75- Tóc không hư.
76- Tóc mềm mại.
77- Tóc màu xanh như ngọc
Tỳ-lưu-ly
78- Bề mặt tóc mềm.
79- Tóc không thưa.
80- Ngực có chữ Ðức ( ),
chân có chữ Kiết (). Ánh sáng chiếu suốt vô lượng thế giới.
Lúc mới sanh đi bảy bước, miệng nói lên lời quan trọng.
Xuất gia chuyên cần khổ hạnh.
Dưới cội Bồ-đề hàng phục quân
ma. Khi trời gần sáng thành bậc Ðẳng Chánh Giác, tướng ánh sáng rõ ràng
chiếu khắp mười phương. Trên không, không đâu không có chư thiên đàn ca,
rải hoa, mưa hương cúng dường.
Tất cả chúng sanh vô cùng
cung kính, một mình qua lại trong ba cõi, xoay mình như voi chúa, quán xem
đạo thọ, chuyển pháp lần đầu trời người đều ngộ. Tu đạo tự chứng đạt đến
Niết-bàn.
Thân Phật như thế, cảm
phát vô lượng. Chuyên tâm niệm Phật, không nghĩ việc khác, có nghĩ việc
khác liền thu nhiếp trở về. Như vậy thì không loạn động. Khi ấy liền được
thấy sắc thân một đức Phật, hai đức Phật, cho đến mười phương chư Phật,
trong vô lượng thế giới. Do dùng tâm tưởng nên được thấy như vậy.
Ðã thấy Phật, sau được
nghe thuyết pháp, hoặc tự thưa hỏi, được Phật, thuyết pháp trừ các nghi
ngờ. Ðã được Phật nghĩ tưởng, lại nên niệm công đức pháp thân của Phật có
vô lượng đại tuệ, trí sâu thẳm không bờ mé, đức không thể tính kể:
- Ða Ðà A Già Ðộ:
Như Lai.
- A lê: Ứng cúng.
- Tam Miệu Tam Phật Ðà:
Chánh biến tri.
- Tỳ Già Giá La Na Tam
Bát Na: Minh hạnh túc.
- Túc Già Ðà:
Thiện thệ.
- Lộ Già Bại: Thế
gian giải.
- A Nậu Ða La: Vô
thượng sĩ.
- Phú Lâu Sa Ðàm Miệu:
Ðiều ngự trượng phu.
- Xá Ða Ðề Bà Ma Nậu
Xá Nam: Thiên nhân sư.
- Phật Bà Già Bà:
Phật Thế tôn.
Bấy giờ, lại niệm thần
đức của hai, ba, bốn, năm..., cho đến vô lượng cùng tận cả hư không Phật
đều như vậy, trở lại thấy một đức Phật. Có thể quán một đức Phật hóa ra
mười phương chư Phật. Quán mười phương chư Phật hợp lại thành một đức
Phật,. Có thể quán từ một màu thành các màu: vàng, bạc, thủy tinh,... màu
ngọc lưu ly, tùy ý người thích, tất cả đều được thấy.
Khi ấy chỉ quán hai việc:
thân Phật hư không và các công đức của Phật. Lại không nghĩ việc khác thì
tâm được tự tại, ý không dong ruỗi. Khi ấy được thành tựu niệm Phật tam
muội.
Nếu tâm còn chạy theo ngũ
trần hoặc nghĩ về sáu việc (nêu ở trước) thì nên cố gắng kềm chế, dùng tâm
mạnh mẽ để điều phục nó, tư duy như vầy: “Thân người khó được, Phật pháp
khó gặp, nên mới nói các thứ ánh sáng thì mặt trời là hơn hết; các bậc trí
Phật là bậc nhất. Vì sao? - Vì Phật đối với tất cả chúng sanh thường khởi
lòng đại bi, đem đầu, mắt, tủy, não để cứu chúng sanh thì tại sao ta lại
phóng tâm, không chuyên chú niệm Phật, cố phụ ơn nặng ấy? Nếu Phật không
xuất hiện ở đời thì không có đường đến cõi người, trời và Niết-bàn. Nếu
người đem hương hoa cúng dường, lấy xương, thịt, máu, tủy để xây tháp cúng
dường thì cũng không bằng người đem pháp cúng dường để đạt đến Niết-bàn.
Tuy nhiên, hễ phụ ân Phật thì dù có niệm Phật thì cũng rỗng không, không
được gì. Vì vậy, ta cần chuyên tâm niệm Phật không xao lãng để báo ân
Ngài. Huống nữa niệm Phật được các tam muội, trí tuệ và thành Phật mà
không chuyên tâm niệm ư?”.
Vì thế hành giả thường
phải chuyên tâm làm cho ý không tán loạn thì được thấy Ph