Từ chỗ này cho đến “toại
bất đắc thực” là Phát khởi tự, có thể cho người biết tại sao Ðức Phật
thuyết bộ kinh này. Ma Ha Mục Kiền Liên là Phạn ngữ, Tàu dịch là Ðại
Thái Thúc Thị, là họ của Tôn giả. Do vì tổ tiên của Ngài trên núi tu
hành, chỉ haùi các loại đậu nuôi sống, “Thúc” là tên chung các loại đậu,
vì thế lấy đó làm họ. Tên của Tôn giả là Ni Câu Luật Ðà, là tên của một
loại cây, vì cha mẹ của Ngài cầu khẩn với thần cây này mà sinh ra Ngài,
vì thế laáy tên cây đặt tên cho Ngài. Mục Liên thuộc chủng tộc Bà la môn,
là bạn thân của Xá Lợi Phất. Một ngày kia Xá Lợi Phất đi trên đường gặp
Tỳ kheo Mã Thắng, nghe Ngài Mã Thắng nói :
Chư pháp tùng duyên sanh,
Duyên tạ pháp hoàn diệt.
Ngã sư Thích Ca văn,
Thường tác như thị thuyết.
Dịch :
Các pháp do duyên sanh,
Duyên hết pháp hoàn diệt.
Thầy tôi Phật Thích Ca,
Thường thường thuyết như
thế.
Vì thế Xá Lợi Phất trở về
nói cho Mục Liên nghe, hai người cùng nhau thương lượng, đồng thời phát
tâm, đem theo hai trăm năm mươi đồ đệ theo Phật xuất gia, làm vị Tỳ kheo.
Sau khi nghe Ðức Phật thuyết pháp, y pháp tu hành, chứng đắc quả A la
hán. Sau khi chứng quả đắc được lục thông, lục thông là :
1. Thiên nhãn thông : Dù
núi cao biển cả cũng không ngăn cản được tầm mắt, xa đến đâu cũng có thể
nhìn thấy.
2. Thiên nhĩ thông : Thính
giác cũng không bị chướng ngại, xa đến đâu cũng có thể nghe được.
3. Tha tâm thông : Những
việc suy nghĩ trong tâm người khác đều có thể biết.
4. Túc mạng thông : Có thể
biết được những việc quá khứ.
5. Thần túc thông : Muốn đi
đâu thì đi đó.
6. Lậu tận thông : Không
đến tam giới hữu lậu thọ sanh. Thần thông này nhất định chứng đến tứ quả
mới có.
Sáu loại này đều không có
chướng ngại, nên gọi là thông.
Nguyên văn :
Dục độ phụ mẫu, báo
nhũ bộ chi ân.
Dịch :
Cù lao dốc báo ơn
sanh,
Nguyền đưa phụ mẫu
thoát vành trầm luân.
Giảng :
Tôn giả Mục Liên tha thiết
mong muốn báo ân cha mẹ, vừa đắc được lục thông bèn muốn cứu độ cha mẹ,
báo ân nuôi nấng dưỡng dục. Nhũ bộ là mẹ cho bú mớm. Không những là bú
mớm mà còn giặt rửa các đồ nhơ bẩn, đói no ấm lạnh,
y phục bốn thời, đều nhẫn nại lo lắng vô cùng châu đáo, từng chút từng
chút dưỡng dục cho đến khi trưởng thành. AÂn đức cha mẹ lớn hơn núi cao,
sâu hơn biển rộng, làm con cần phải biết ân báo ân :
Công Cha như núi Thái sơn,
Nghĩa Mẹ như nước
trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ Mẹ kính Cha,
Cho tròn chữ hiếu
mới là đạo con.
Nguyên văn :
Tức dĩ đạo nhãn, quán thị
thế gian
Dịch :
Nhãn quan vận dụng
phép thần,
Thế gian khắp cõi
kiếm tầm luống công.
Giảng :
“Ðạo nhãn” là thiên nhãn. Thiên nhãn nhân đắc đạo mà được. “Thế gian” là
chỉ tam giới : dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Tôn giả Muïc Liên trên
dưới khắp nơi kiếm tìm, nhìn thấy cha được sanh thiên, đang hưởng phước
ở cõi trời, tức sanh nơi cõi vui, không nên quấy rầy.
Nguyên văn :
Kiến kỳ vong mẫu sanh ngạ
quỉ trung, bất kiến ẩm thực, bì cốt liên lập.
Dịch :
Nào hay ngạ quỷ mắc
vòng,
Thấy ra vong mẫu
lao lung đọa đày.
Da khô bọc lấy
xương gầy,
Tuyệt nhiên cơm
nước hình hài ốm o.
Giảng :
Khi nhìn thấy mẫu thân thì than ôi ! Mẹ sanh trong ngạ quỷ, đói muốn ăn,
nhưng không nhìn thấy đồ ăn thức uống. Tại sao không nhìn thấy đồ ăn
thức uống ? Ðó là do ác nghiệp quá khứ của mình chiêu cảm, dù cho nhìn
thấy đồ ăn thức uống, thì đồ ăn thức uống cũng biến thành than lửa, vì
thế không theå ăn uống được. Vì không thể ăn uống được nên da bọc lấy
xương, ốm o gầy mòn như que củi, hình dung vô cùng xấu xa.
Nguyên văn :
Mục Liên bi ai, tức dĩ bát
thạnh phạn, vãng hướng kỳ mẫu.
Dịch :
Mục Liên buồn bã âu
lo,
Bát cơm dâng mẹ
mong cho đỡ lòng.
Giảng :
Tôn giả Mục Liên nhìn thấy cảnh đó làm sao không buồn thương bi ai được
? Vì thế lập tức lấy bát của mình đựng đầy bát cơm dâng cho Mẹ. Ở đây có
thể đưa ra thắc mắc : Tôn giả Mục Liên đã đắc được lục thông, chẳng lẽ
Ngài vẫn không biết nghiệp chướng của ngạ quỷ sao ? Trả lời vấn đề này
có ba cách :
1. Theo thế tình, Mục Kiền Liên tha thiết báo ân, nhìn thấy mẹ đang chịu
cảnh đau khổ như thế, lòng nóng như lửa, tình cảm mẹ con không phải là
thứ tình cảm tầm thường có thể sánh được, nhất là người con hiếu, đã
nhìn thấy cảnh như thế, nên bất chấp tất cả lập tức mang đầy bát cơm
dâng lên cho Mẹ, đó là thường tình của con người, lý nên như thế.
2. Lấy sự cảnh tỉnh người : Tôn giả Mục Kiền Liên là bậc Thánh Tăng đã
chứng quả đắc lục thông, Ngài biết người thường đều cho rằng không nhìn
thấy thì cho rằng không có. Tình cảnh của mẹ, Mục Liên không phải nằm
mộng, cũng không phải huyễn tưởng, mà do chứng quả đắc thần thông mà
thấy được, là việc xác thực, lấy việc này để cảnh tỉnh người đời, không
nên tạo nghiệp ác, để tránh cái khổ treo ngược.
3. Bài xích tiểu thừa : Tứ quả A la hán là bậc Thánh nhân đã ra khỏi tam
giới, đã đắc thần thông đối với phàm phu mà nói là một việc phi thường,
nhưng vẫn không phải là quả vị cứu cánh. Thiên nhãn tuy thông suốt,
không có chướng ngại, nhưng không bằng pháp nhãn có thể chiếu kiến tất
cả các pháp, lại không bằng Phật nhãn như trăm ngàn mặt trời có thể phổ
chiếu khắp mọi nơi.
Tóm lại, Tôn giả Mục Liên dù có biết nghiệp chươùng của ngạ quỷ, không
thể thọ thực, mà vẫn dâng bát cơm cho mẹ, đó là việc nên làm.
Nguyên văn :
Mẫu đắc bát phạn, tiện dĩ
tả thủ chướng bát, hữu thủ sủy thực, thực vị nhập khẩu, hóa thành hỏa
thán, toại bất đắc thực.
Dịch :
Mẹ vừa tiếp bát cơm
xong,
Tay lo che đậy, tay
hòng bốc ăn.
Than ôi ! Nghiệp
quả tiền căn,
Cơm đưa tới miệng,
lửa bừng cháy cao.
Giảng :
Mẹ Tôn giả nhìn thấy con mình đem đến bát cơm, vội vàng lập tức lấy tay
trái che bát, tay phải bốc cơm ăn. Không ngờ cơm chưa đưa vào miệng, đã
hóa thành than lửa, không thể ăn được. Ðó là nghiệp chướng hiện tiền. Do
vì quá khứ nghiệp nặng, tập quán cũ khó sửa đổi, chỉ nhìn thấy hành động
của bà thì có thể nhìn ra được : “Tay trái che bát” là sợ người khác
cướp giựt của mình, “tay phải bóc ăn” là chỉ biết có mình, không biết
người khác, hành động đó là do quá khứ quen thói tham lam bỏn xẻn. Nếu
thay bằng một hành động khác, nhìn thấy con đem lại bát cơm, bụng mình
rất đói, nghĩ đến các ngạ quỷ khác cũng đói như mình, đem bát cơm này
cho ngạ quỷ khác ăn trước, hoặc là chia một phần cho các ngạ quỷ khác,
như thế trước vì người sau vì mình, biến bỏn xẻn tham lam thành bố thí,
thì cơm sẽ không hóa thành than lửa. Mọi người đều được ăn thì hay biết
bao nhiêu ! Nhưng tâm không theo ý mình, đến lúc đó hành động tự nhiên
sẽ biểu lộ ra, lực lượng naøo cũng không ngăn cản được, đó là nghiệp
chướng. Ðến đây toàn bộ Tự phần đã giảng xong, dưới giảng về Chánh tông
phần là trung tâm của bộ kinh, là chỗ quan trọng nhất.
Nguyên văn :
Mục Liên đại khiếu, bi hiệu
đề khaáp, trì hoàn bạch Phật, cụ trần như thử.
Phật ngôn : Nhữ mẫu tội căn
thâm kiết.
Dịch :
Mẹ không dùng được
nghẹn ngào,
Mục Liên than khóc
kêu gào thảm thương.
Trở về bạch Phật tỏ
tường,
Cầu phương giải
thoát khỏi đường ngục lao.
Phật rằng : tội
chướng thâm sâu,
Mẹ ngươi tạo kết từ
lâu dẫy tràn.
Giảng :
Ðức Phật nghe Mục Liên nói xong, bèn bảo Mục Liên rằng :
- Mẹ của ông gốc rễ tội chướng rất sâu dài.
Do vì gốc rễ sâu dài nên trên rễ lại sanh rễ, rễ và rễ đan kết lại với
nhau. Tại sao rễ này vừa sâu vừa dài, lại kết vào một chỗ ? Vì thời gian
lâu dài, đời đời kiếp kiếp thân khẩu tạo nghiệp. Ðó chính là “tội”. Ý
thức là nhân tạo nghiệp, đó chính là “căn”. Thời gian càng lâu tạo
nghiệp càng nhiều, đó là “sâu”. Tạo nghiệp nhiều rồi, tập tánh khó sửa,
đó chính là “kết”. Phật nói câu đó là có căn cứ, từ biểu hiện của mẹ
Ngài “tay lo che đậy tay hòng bốc ăn”, thì có thể đoán định ác
tập tham lam bỏn xẻn của bà khó sửa đổi, vì thế nói “tội căn thâm kết”.
Nguyên văn :
Phi nhữ nhất nhơn lực sở
nại hà !
Dịch :
Một ngươi khó được
cứu an.
Giảng :
Tôn giả Mục Kiền Liên là bậc thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Ðức
Phật. Tuy thần thông của Ngài rất lớn, nhưng không thể cứu được định
nghiệp của mẹ, đó chính là định nghiệp không thể chuyển, thần thông lớn
cũng cứu không được. Mỗi người đều có định nghiệp của mình, không ai
thay thế được cho ai, dù cho mẹ con thân nhất, cũng không thể thay thế
được, vì thế Ðức Phật nói : “Một ngươi khó được cứu an”. Tôn giả
Mục Liên đã chứng đắc Thánh quả A la hán, chẳng lẽ không có sức oai thần
cứu mẹ hay sao ? Nên biết A la hán thuộc về tiểu thừa, chỉ có thể tự lợi,
mà không có sức lợi tha, vì thế không thể cứu mẹ được.
Nguyên văn :
Nhữ tuy hiếu thuận, thanh
động thiên địa, thiên thần, địa kỳ, tà ma, ngoại đạo, đạo sĩ, tứ thiên
vương thần, diệc bất năng nại hà !
Dịch :
Dầu ngươi hiếu
thuận tiếng vang ai bì.
Ðộng tâm thần thánh,
địa kỳ,
Tà ma, ngoại đạo,
bốn vì thiên vương.
Cùng là đạo sĩ tứ
phương,
Cũng không cứu nỗi
nghiệp ương nặng phần.
Giảng :
Phật nói :
- Với sức một mình ông không thể cứu được mẹ. Tuy lòng hiếu ông rất tha
thiết, khóc vô cùng thương tâm, tiếng kêu rất lớn, có thể kinh thiên
động địa. Nhưng dù có cảm động đến thiên thần địa kỳ cũng không thể cứu
được.
“Tà ma” là không phải đi trên con đường chánh, Phạn ngữ là “Ma la”, Tàu
dịch là “phá hoại”. Tà ma thì chuyên môn phá hoại việc lành. “Ngoại đạo”
là ngoài tâm cầu pháp, là một đạo khác. Ðạo sĩ là người tu đạo, ở Trung
Quốc chỉ cho Ðạo giáo. Tứ thiên vương thần là tứ đại thiên vương : Trì
Quốc Thiên vương ở phương Ðông, Tăng Trưởng Thiên vương ở phương Nam,
Quảng Mục Thiên vương ở phương Tây, Ða Văn Thiên vương ở phương Bắc. Bốn
vị thiên vương này trấn giữ cửa núi. Những thần ma ngoại đạo này, tuy số
lượng không ít, nhưng cũng không thể làm gì được. Vậy thì sức một người
yếu kém không thể cứu độ, rất nhiều lực lượng tập trung tại một chỗ tại
sao cũng không thể cứu được ? Vì những thần ma này không thể cứu được
bản thân mình, làm gì có thể cứu được người khác ? Vì thế đều không thể
cứu được. Phật trước đem những lực lượng này so sánh, sau đó mới giảng
ra lực lượng có thể cứu độ.
Nguyên văn :
Ðương tu thập phương chúng
Tăng oai thần chi lực, nãi đắc giải thoát.
Dịch :
Ngươi mong cứu mẹ
khỏi căn,
Phải nhờ Taêng
chúng hiệp thần độ an.
Giảng :
Thập phương chúng Tăng chính là lực lượng năng cứu, là lực lượng cần
thiết cần phải có. “Thập phương” là Ðông, Tây, Nam, Bắc, Ðông Nam, Ðông
Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, trên, dưới ; chúng Tăng là người tu hành dụng
công đoạn trừ phiền não liễu thoát sanh tử. Như thế nào là Tăng ? Người
thường chỉ biết Tăng là Hòa thượng, không hiểu “Tăng” có ý nghĩa gì,
thậm chí đối với ngoại đạo cũng xưng hô là “Tăng lưõ”, đó thật là vàng
thau lẫn lộn, vì thế chúng ta không thể không phân biệt một chút : Trên
ba người mới có thể gọi là Tăng. Tăng già là tiếng Phạn, Tàu dịch là hòa
hợp chúng, có sự hòa hợp và lý hòa hợp. Trước giaûng về sự hòa hợp, sự
hòa hợp có sáu loại :
1. Thân hòa đồng trụ, sống tập thể cùng nhau lo lắng giúp đỡ.
2. Khẩu hòa vô tránh : mười phương Tăng chúng từ năm sông bốn biển, vân
tập một chỗ, không tranh cãi lẫn nhau.
3. Ý hòa đồng duyệt : về tư tưởng đôi bên không có ngăn cách, tâm tình
vui vẻ.
4. Giới hòa đồng tu : mọi người đều thọ tam đàn đại giới, sách tấn lẫn
nhau, cùng giữ giới luật.
5. Kiến hòa đồng giải : Kiến giải cần phải nhất trí, phải chánh tri
chánh kiến.
6. Lợi hòa đồng quân : làm việc tuy không giống nhau, như vị thứ không
có cao thấp, lợi dưỡng không có khác nhau, tất cả đều bình đẳng.
Sáu loại hòa hợp này gọi là sự hòa hợp.
Như thế nào gọi là lý hòa hợp ? Tức là đồng liễu thoát sanh tử, cùng
chứng Niết bàn, cùng chứng trạch diệt vô vi. Sự hòa hợp đã có thể gọi là
thanh tịnh Tăng, gọi là Tăng bảo, có thể khiến cho chánh pháp cửu truï.
Tại sao chúng Tăng có uy thần lực ? Vì sau khi Phật diệt độ, mạng mạch
Phật pháp toàn nương vào Tăng truyền, chúng Tăng có sáu loại hòa hợp, vì
thế sức oai thần rất lớn. Nay đã hiểu ý nghĩa một mình Ngài Mục Liên
khoâng thể cứu độ được Mẹ, thần ma nhiều người cũng không thể cứu, cần
phải nhờ vào sức uy thần của chúng Tăng mười phương, mới có thể khiến
cho Mẹ của Ngài thoát khỏi cái khổ treo ngược. Vì mẹ của Ngài “tội căn
thâm keát”, chỉ có nương vào sức của chúng Tăng, mới có thể nhổ được cội
gốc tội lỗi, mở nút tội chướng, vì thế nói “nãi đắc giải thoát (mới được
giải thoát)”
Nguyên văn :
Ngô kim đương vi nhữ thuyết
cứu tế chi pháp, linh nhứt thiết nạn giai ly ưu khổ, tội chướng tiêu trừ.
Dịch :
Nay ta nói pháp cứu
nàn,
Tiêu ma tai ách,
giải tan khổ sầu.
Giảng :
Trên đã nói về người không thể cứu, và người có thể cứu, nhưng cách cứu
như thế nào vẫn chưa nói đến, vì thế nay Ðức Phật nói : “Nay ta nói
pháp cứu nàn”. Pháp này khi nói ra có thể khiến cho tất cả những
người đang đau khổ, đang gặp phải tai nạn đều có thể thoát ly khổ nạn.
“Nhất thiết” bao gồm rất rộng lớn, không những là mẹ của Ngài Mục Liên,
phàm là tất cả chúng sanh trong ba đường ác đều bao gồm trong đó. “Ưu”
là ưu sầu, thuộc về cái khổ tư tưởng. “Khổ” là đau khổ, thuộc về cái khổ
đau thân thể. Tất cả những ưu sầu đau khổ của thân tâm đều có thể xa lìa.
Nguyên văn :
Phật cáo Mục Liên : Thập
phương chúng Tăng, thất nguyệt thập ngũ nhật, Tăng Tự tứ thời.
Dịch :
Ngày Rằm tháng bảy
từ lâu,
Ngày Tăng Tự tứ đâu
đâu qui hồi.
Giảng :
Ðây là thời gian và người của pháp cứu tế. Người là thập phương Tăng
chúng, thời gian là ngày 15 tháng 7. Tại sao chỉ có lúc này ? Vì ngày
này là ngày Tăng Tự tứ, từ ngày 15 tháng 4 đến ngày 15 tháng 7 gọi là
thời gian “kiết hạ an cư”, dụng công tu học, không được đi các nơi, phải
vân tập tại một chỗ tu học, cùng nhau thúc liễm thân tâm trau giồi giới
định huệ.
Thời gian ba tháng viên mãn, đến ngày 15 tháng 7 gọi là ngày giải hạ Tự
tứ. Trong ngày này cùng nhau kiểm thảo giúp đỡ. Như biết mình phạm giới,
chủ động sám hối ; nếu phạm giới mà không biết, thì tự nguyện để cho tùy
ý người khác cử tội ra. Bất luận là thấy phạm giới, hay là nghe phạm
giơùi, hoặc là không có thấy không có nghe, nhưng trong tâm nghi ngờ
người nào đó phạm giới (đó gọi là kiến văn nghi), đều có thể tùy ý cử
tội ra. Nếu thừa nhận có phạm giới thì trước mặt chúng Tăng như pháp sám
hối. Tự giác hoặc không tự giác sám hối như thế rồi thì được giới thể
thanh tịnh, trở thành thanh tịnh Tăng.
Qua ngày này thì có thể khắp nơi tham học hành đạo. Ðây là mười phương
Tăng chúng, trải qua ba tháng an cư kiết hạ, và trong ngày 15 tháng 7
giải hạ Tự tứ, thông qua sám hối, trở thành người thanh tịnh. Phật trước
quy định người và thời gian, sau đó nói rõ cụ thể phương pháp cứu tế.
Nguyên văn :
Ðương vị thất thế phụ mẫu,
cập hiện tại phụ mẫu ách nạn trung giả.
Dịch :
Vì cha, vì mẹ bảy
đời,
Vì cha, vì mẹ hiện
thời nạn tai.
Giảng :
Hai chữ “đương vị” là nói rõ cách báo ân có nặng nhẹ, nhanh, chậm, như
cha của Ngài Mục Kiền Liên đang hưởng phước trên cõi trời, thì có thể
chậm, mẹ Ngài thì đang chịu khổ trong đường ngạ quỷ, thì nên nhanh gấp.
Cho nên “đương vị” này chính là nên giải cứu những người đang gặp cảnh
khổ ách, hoặc là cha mẹ đang trong cảnh nạn tai. Thất thế phụ maãu là
cha mẹ bảy đời quá khứ, cha mẹ hiện đời không chỉ là đã qua đời mà còn
bao gồm những người đang sống, bất luận là khỏe mạnh hay mang bệnh, cùng
với những người tâm buồn thân khổ, phàm là những người đang chịu cảnh
ách nạn bị khổ đau, đều bao gồm ở trong, phạm vi này rất rộng.
Nguyên văn :
Cụ phạn bách vị, ngũ quả,
cấp quán bồn khí, hương du, đính chúc, sàng phu ngọa cụ, tận thế cam mỹ,
dĩ trước bồn trung, cúng dưỡng thập phương đaïi đức chúng Tăng.
Dịch :
Thức ăn trăm món
thanh trai,
Trái cây năm thứ,
sắm bày lễ nghi.
Cùng là hương, nến,
trầm, kỳ,
Giường nằm, chiếu
lót, bát, y, thau, bồn.
Phải là thức quý,
vật ngon,
Hồng trần tuyệt
phẩm lòng son, tâm vàng.
Sắp vào trong tiệc
Vu lan,
Cúng dường Tăng
chúng mười phương hội về.
Giảng :
Ðây chính là phương pháp thiết cúng “Vu lan bồn”, chuẩn bị cơm là đồ ăn
chính, trăm vị là đồ ăn phụ. “Bách vị” là nói đồ
ăn có đủ thứ mùi vị ; ngũ quả là các thứ trái cây. “Cấp
quán bồn khí” là các dụng
cụ đựng nước và đựng thức ăn ; “hương du, đính chúc” là các lễ phẩm cúng
dường ; sàng phu ngọa cụ là các thứ giường nằm, chiếu lót đơn giản, đó
là các thứ chuẩn bị cúng dường trong lễ Vu lan bồn, cùng với các thứ sau
ngày an cư kiết hạ sử dụng trong hằng ngày. “Tận thế cam mỹ” là chỉ các
đồ ăn ngon ngọt đã nói ở trên, đem hết sức mình làm các thứ ăn ngon ơû
thế gian, có thể làm được bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, có thể làm ngon
bao nhiêu thì làm ngon bấy nhiêu, quý nhất là phải có lòng thành tâm.
Ðựng các thứ ăn ngon ngọt này trong bồn (chén bát) cúng dường mười
phương đaïi đức Tăng chúng. Chúng Tăng xưng là đại đức là chỉ chúng Tăng
sau ngày giải hạ Tự tứ được thanh tịnh giới, hoặc đã chứng đắc chánh quả
có vô lượng công đức đáng gọi là phước điền của thế gian. Dưới đây sẽ
giảng công đức của chúng Tăng.
Nguyên văn :
Ðương thử chi nhật, nhứt
thiết Thánh chúng, hoặc tại sơn gian thiền định, hoặc đắc tứ đạo quả,
hoặc tại thọ hạ kinh hành.
Dịch :
Thánh Tăng ngày ấy
tựu tề,
Nào người ẩn náu
sơn khê định thiền.
Nào người tứ quả
hiện tiền,
Nào người thọ hạ
cần chuyên kinh hành.
Giảng :
Ðó là ngày 15 tháng 7, tất cả Tăng chúng tu Thánh hạnh chứng chánh quả,
có người trong núi tu thiền định, có người đắc được tứ quả, (tứ quả là
sơ quả Tu đà hoàn, là kiến đạo vị ; nhị quả Tư đà hàm ; tam quả A na hàm
là tu đạo vị ; tứ quả A la hán là vô học đạo vị. Do tu pháp tứ đế chứng
bốn quả đạo vị này). Lại có các vị dưới gốc cây kinh hành, hoặc tham
thiền, hoặc niệm Phật, hoặc tu chỉ quán. Ðây là nói tất cả Tăng chúng
trong ngày Tự tứ đều đang dụng công tu đạo.
Nguyên văn :
Hoặc lục thông tự tại giáo
hóa Thanh văn, Duyên giác, hoặc thập địa Bồ Tát đại nhơn, quyền hiện Tỳ
kheo tại đại chúng trung, giai đồng nhất tâm thọ bát hòa la phạn, cụ
thanh tịnh giới, Thánh chúng chi đạo, kỳ đức uông dương.
Dịch :
Nào người giáo hóa
môn sinh,
Lục thông chứng đắc,
phép linh cao vời.
Nào người Bồ tát
nhiều đời,
Kiếp này quyền hiện
làm Thầy Tỳ kheo.
Ở trong đại chúng
đông nhiều,
Nhứt tâm thọ bát,
giới điều tịnh thanh.
Các vì Thánh chúng
hạnh lành,
Ðạo cao, đức rộng,
nhơn sanh kính nhường.
Giảng :
Ngoài các bậc Thánh chúng đã nói ở trên, lại còn có các vị đã đắc được
lục thông, lục thông trước đó đã giảng qua, vì đã đắc được lục thông nên
có thể vô ngại tự tại, có thể giúp đỡ đồng đạo, đệ tử cùng với các hàng
hậu tấn tu Tứ đế, Mười hai nhân duyên, nên nói giáo hóa Thanh văn Duyên
giác. Có Bồ tát đã chứng đắc thập địa quả vị ([i]).
Chứng đắc quả vị này có thể phá từng phần vô minh, chứng từng phần pháp
thân, vì theá gọi là “đại nhân”. Vì để giáo hóa chúng sanh, các Ngài có
thể phân thân ứng hiện, trong đại chúng thị hiện Tỳ kheo. Như Ngài Phổ
Hiền, Văn Thù thị hiện Hàn Sơn, Thập Ðắc ([ii]),
Bồ tát Di Lặc thị hiện Hòa thượng Bố Ðại ([iii]).
Tỳ kheo là trụ trì Tăng bảo, trách nhiệm của các Ngài là hoằng dương
Phật pháp, giáo hóa chúng sanh.
Tất cả các bậc Thánh chúng trước ngày này, ở các nơi “an cư”, hôm nay
vân tập một chỗ, thắng hội khó gặp, “Tự tưù” đã xong, cử hành pháp hội
“Vu lan bồn”, đều nhất tâm thọ bát. “Nhất tâm” là cùng sanh tâm thương
xót cứu cái khổ treo ngược. Mọi người đều cùng một tâm này, đối với đồ
ăn thức uống bất luận ngon dở đều vô trước vaø vô tham. Bát hòa la là
Phạn ngữ, tàu dịch là “Tự tứ thực”. Tất cả Thánh chúng thọ “Vu lan bồn”
này đều là các bậc thanh tịnh Tăng, đạo cao đức trọng, đầy đủ Tam học
giới định huệ, đạo đức của các Ngài mênh mông như biển lớn vậy.
Nguyên văn :
Kỳ hữu cúng dưỡng thử đẳng
Tự tứ Tăng giả, hiện thế phụ mẫu, lục thân quyến thuộc, đắc xuất tam đồ
chi khổ, ứng thời giải thoát, y thực tự nhiên.
Dịch :
Những ai phát
nguyện cúng dường,
Chứ Tăng Tự tứ mười
phương hội này.
Thì cha mẹ khuất
đời nay,
Cùng hàng quyến
thuộc thoát ngay tam đồ.
Ðược phần vui sướng
khỏi lo,
Tự nhiên y thực sẵn
kho vô lường.
Giảng :
Ðây là nói về những người con hiếu thảo, vì để báo ân cha mẹ, phát tâm
cúng dường các bậc đại đức cao Tăng, khiến cho cha mẹ đã qua đời cùng
với lục thân quyến thuộc đều được an lạc giải thoát. (Lục thân thì có
lục thân của cha : chú bác, anh, em trai, chị, em gái ; lục thân của
mẹ : cậu, dì, anh, anh, trai, chị, em gái. Quyến thuộc bao gồm rất
rộng, có ông bà nội, ông bà ngoại, vợ chồng, cô thím, thân thích bên
thông gia). “Tam đồ” là địa ngục ngạ quỷ súc sanh, ba đường này đều
chịu cái khổ đồ thán, vì thế gọi là tam đồ. Khi
cúng Phật cập Tăng, thì cha mẹ đã quá vãng và lục thân quyến thuộc đều
được giải thoát, có đồ ăn thức uống, y phục tự nhiên đầy đủ an vui.
Nguyên văn :
Nhược phụ mẫu hiện tại
giả, phước lạc bách niên.
Dịch :
Mẹ cha hiện tại
kiện khương,
Thọ lên trăm tuổi,
lòng thường vui yên.
Giảng :
Cha mẹ qua đời có thể lìa khổ được vui, còn cha mẹ hiện tiền, do lễ
“Vu lan bồn”, cũng được tăng phước tăng thọ, phước lạc trăm năm.
Nguyên văn :
Nhược thất thế phụ mẫu
sanh Thiên, tự tại hóa sanh, nhập thiên hoa quang.
Dịch :
Mẹ cha thất thế
sanh thiên,
Hóa sanh tự tại,
nhập miền hoa quang.
Giảng :
Không những coù thể báo đáp ân cha mẹ một đời, mà còn có thể khiến cho
cha mẹ quá khứ bảy đời được sanh thiên, không chịu cái khổ bào thai,
tự tại hóa sanh vào cung trời, hưởng thọ sự vui trên cõi trời. Như thế
không những độ được cha mẹ mà còn có thể độ được lục thân, không những
cứu được khổ ngã quỷ, mà còn có thể cứu được cái khổ tam đồ ; không
những siêu độ người chết, mà còn có thể lợi ích cha mẹ hiện tại. Ðây
thật là một việc làm maø được nhiều lợi ích, công đức vô lượng vô biên.
Nguyên văn :
Thời Phật sắc thập phương
chúng Tăng, giai tiên vị thí chủ gia chú nguyện, thất thế phụ mẫu,
hành thiền định ý, nhiên hậu thọ thực.
Dịch :
Bấy giờ lời Phật
truyền ban,
Mười phương Tăng
chúng, các hàng dạy qua.
Trước nên chú
nguyện đồng hòa,
Cầu cho thí chủ mẹ
cha bảy đời.
Hành thiền định ý
không lơi,
Sau rồi thọ thực,
sau rồi niệm Kinh.
Giảng :
Thời là lúc cúng dường, Phật dạy mười phương Tăng chúng trước vì các
nhà thí chủ “chú nguyện”. Thí chủ là người cúng dường. Cúng Phật cập
Tăng vốn vì báo ân cha mẹ, cho nên trước vì họ chú nguyện. “Chú” là
mật ngữ của mật tông. Dùng chú để gia trì, “nguyện” cha mẹ của thí chủ
lìa khổ được vui.
Tại sao trước không cầu nguyện cho cha mẹ hiện đời, mà cầu nguyện cho
cha mẹ bảy đời ? Vì cha mẹ bảy đời qua đời trước, có người đang hưởng
phước an vui trên cõi trời, phước báo hết thì phải đọa lạc, khó tránh
thọ khổ, có người có thể đang ở trong ác đạo chịu khổ lâu dài, cho nên
trước cầu nguyện cho cha mẹ bảy đời lìa khỏi cảnh khổ. Cho đến cha mẹ
hiện tại cũng tự nhiên lìa xa cảnh khổ. “Hành thiền định ý” là công
phu thiền định của Hiển giáo. Thiền định là nhiếp tâm quán tưởng. Tất
cả các vị xuất gia, khi ăn cơm đều phải quán tưởng Tam đề ngũ quán :
Nhất kế công đa
thiểu lưỡng bỉ lai xứ.
Nhị thổn kỷ đức
hạnh toàn khuyết ứng cúng.
Tam phòng tâm ly
quá tham đẳng vi tâm.
Tứ chánh sự lương
dược vị liệu hình khô.
Ngũ vị hành đạo
nghiệp phương thọ thử thực.
Nguyện đoạn nhất
thiết ác.
Nguyện tu nhất
thiết thiện.
Nguyện độ nhất
thiết chúng sanh.
Dịch :
Bát cơm tín chủ
biết bao công,
Ðức hạnh đầy vơi tự
xét lòng.
Thỏa miệng thích
tình tham quấy bỏ,
Nuôi thân hành đạo
thuốc lành dùng.
Toan vun chánh pháp
cho thành tựu,
Nguyện dứt ác duyên
thoáng sạch không.
Nguyện các việc
lành làm tất cả,
Nguyện xin độ tận
chúng sanh chung.
Khi thọ lễ cúng dường “Vu lan bồn”, không những thực tồn ngũ quán, mà
còn phải “chú nguyện hành thiền”, đó là Hiển Mật song tu. Khi chú
nguyện cần phải hành thiền, khi “hành thiền” cũng cần phải “chú nguyện”.
Nguyên văn :
Sơ thọ thực thời, tiên an
tại Phật tiền, tháp tự trung Phật tiền, chúng Tăng chú nguyện cánh,
tiện tự thọ thực.
Dịch :
Trước khi thọ thực
chí thành,
Cúng dâng phẩm thực,
trai thanh Phật tiền.
Chúng Tăng chú
nguyện kiền thiền,
Xong rồi mới thọ
trai diên ngọ thời.
Giảng :
Phật bảo tối cao, vì thế đầu tiên cúng dường Ðức Phật, chú nguyện hành
thiền là Pháp bảo, mười phương Tăng chúng là Tăng bảo. Tam bảo đầy đủ,
công đức sẽ rộng lớn. Ðầy đủ thanh tịnh giới, là giới học, thiền định
là định học, chú nguyện là huệ học. Mười phương Tăng chúng đầy đủ tam
hoïc, nên sức oai thần rất lớn. Chư Tăng “chú nguyện” xong mới thọ
trai, đó không phải là tham đồ ăn ngon mỹ vị, mà vẫn là “hành thiền”,
khi thọ thực vẫn phải quán tưởng năm điều.
Nguyên văn :
Thời Mục Liên Tỳ kheo cập
đại Bồ Tát chúng, giai đại hoan hỉ, Mục Liên bi đề khấp thanh, thích
nhiên trừ diệt.
Dịch :
Mục Liên nghe dạy
mừng vui,
Và chư Bồ tát nghe
rồi hân hoan.
Mục Liên cảm thấy
nhẹ nhàng,
Khổ sầu đau đớn
tiêu tan tức thì.
Giaûng :
“Thời” là sau khi mười phương Tăng chúng đã “chú nguyện” xong, khi
đang thọ thực, đều hoan hỷ, Mục Liên cũng cảm thấy nhẹ nhàng, không
còn lo buồn nữa. Tại sao vậy ? Do vì mỗi mỗi đều ôm lòng báo ân, cùng
sanh tâm thương xót “chú nguyện hành thiền”, sở nguyện đã thành tựu,
đây là pháp hỷ, đồng thời lại biết mẹ của Mục Liên lìa khổ được vui,
vì thế pháp hỷ xen lẫn với sự hỷ.
Nguyên văn :
Thời Mục Liên mẫu, tức ư
thị nhựt, đắc thoát nhất kiếp ngạ quỉ chi khổ.
Dịch :
Liền vâng phép Phật
hành y,
Cúng dường xong, mẹ
thoát ly khổ hình.
Giảng :
“Thời” này là chỉ lúc mọi người đang hoan hỷ. Mẹ của Mục Liên trong
ngày này “được thoát cái khổ một kiếp ngạ quỷ”, kiếp là thời gian rất
dài, có thể thoát cái khổ lâu dài như thế, đây là hiển lộ ra pháp lực
bất khả tư nghì, pháp âm mới có thể tuyên dương, quả báo lập tức tiêu
diệt. Vốn là “tuyệt nhiên cơm nước hình hài ốm o”, nay có th