PHÂN BIỆT KINH
Dịch giả: Thích
Thiện Trì
---o0o---
ÐẠI HỒI HƯỚNG KINH
(Bản chữ Hán thất dịch danh, Ðại Tạng
quyển 33, Kinh Tập bộ tứ, số 825, trang 827)
Như thật tôi nghe
một thuở nọ Phật cùng tám ngàn vị Tỳ kheo vân tập ở vườn cây của Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc và Thái tử Kỳ Ðà (*) tại nước Xá vệ. Lúc bấy giờ cả đại
chúng lớp lớp trước sau quây quần quanh Thế Tôn, nghe Thế Tôn thuyết pháp.
Trong khi đó có một vị Bồ Tát hiệu Minh Thiên ở giữa pháp hội từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch vai áo bên phải, quỳ gối bên phải sát đất, cung kính chắp
tay bạch Phật rằng;
Kính bạch Thế Tôn! Con có một điều muốn
thưa hỏi, mong Thế Tôn từ bi chỉ dạy.
Phật bảo Bồ Tát Minh Thiên rằng:
Thiện nam tử! Có điều chi ông cứ hỏi, chớ
có nghi ngại Như Lai sẽ tuỳ tiện mà giải đáp.
Bồ Tát Minh Thiên liền bạch Phật:
Bồ Tát làm cách nào chỉ tu chút ít pháp
lành mà được phước quả lớn và nếu làm nhiều việc công đức thì được phước
quả vô lượng ?
Phật đáp: Hay thay! Hay thay! Này Minh
Thiên, ông đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, gieo trồng rất nhiều công
đức, gần gũi các bậc thiện tri thức, và đã vì chúng sanh ưa tu phước đức
mà hỏi lên những điều sâu xa như thế. Vậy ông hảy lắng nghe, lắng nghe, và
khéo suy nghĩ kỹ.
Bồ Tát Minh Thiên bạch Phật rằng: Kính bạch
Thế Tôn con xin thọ giáo.
Phật bảo: Minh Thiên! Ðối với chư Phật quá
khứ, hiện tại và vị lai, các đại Bồ Tát nên tu hạnh từ về thân, tu hạnh từ
về miệng, tu hạnh từ về ý, chuyên tâm niệm các công đức mà chư Phật từng
làm.
Lại nữa, này Minh Thiên ! Bồ Tát cần nên
đi đến các chùa, tháp, tôn miếu, những nơi có thờ Phật, để lễ bái cúng
dường, đi quanh bên phải, quì gối chắp tay, dâng hoa, đốt hương, treo
tràng phan, bảo cái, trổi nhạc cung kính cúng dường. Dùng âm thanh vi diệu
ca tụng những câu kinh kệ nghĩa lý thậm thâm. Tán dương công đức chư Phật.
Tuỳ hỷ khuyến khích, ca ngợi các thiện.
Minh Thiên ! Thế nào là Bồ Tát đoái với chư
Phật quá khứ, hiện tại, vị lai tu hạnh từ về thân, tu hạnh từ về miệng, tu
hạnh từ về ý và niệm công đức của chư Phật?
Thiện nam tử! Bồ Tát nên nghĩ rằng: Như
Lai là bậc Vô Thượng, là bậc Tối Tôn, là bậc Tối Thắng, là bậc Sư tử Vương
dũng mãnh không sợ sệt. Tự cứu độ mình, cứu độ mọi loài, tự mình an vui,
đem an vui cho kẻ khác, tự mình diệt trừ khổ não, diệt trừ khổ não cho kẻ
khác, thuyết pháp chơn đế, giáo hoá chúng sanh, giới đức thanh tịnh đầy đũ
hoàn toàn, năng lực biện tài không hề sợ sệt. Vĩnh viễn dứt trừ tập khí
chướng ngại. Tự tại vô ngại trước mọi hoàn cảnh và mọi sự vật không ai
sánh bằng, Chuyên tâm niệm công đức của chư Phật như vậy, rồi quì xuống
đất dâng hoa hương, tràng phan bảo cái, trổi nhạc cúng dường. Ðó là Bồ Tát
tu hạnh từ về thân.
Dùng âm thanh vi diệu ca tụng những câu
kinh kệ nghĩa lý thậm thâm. Tán thán vô lượng công đức của Như Lai. Ðó là
Bồ Tát tu hạnh từ về miệng. Với căn lành tu niệm nơi thân khẩu nói trên
mà hết lòng chí thành cung kính. Ðó là Bồ Tát tu hạnh từ về ý.
Minh Thiên ! Ấy là Bồ Tát đối với chư Phật
quá khứ , hiện tại, vị lai, chánh niệm tu tập hạnh từ về thân miệng ý.
Phật lại bảo Bồ Tát Minh Thiên rằng:
Lại nữa, Bồ Tát đối với chúng sanh quá khứ
, hiện tại, vị lai cũng nên tu hạnh từ về thân, tu hạnh từ về miệng, tu
hạnh từ về ý, quan niệm bình đẳng đối với chúng sanh.
Minh Thiên ! thế nào là Bồ Tát đối với
chúng sanh trong ba thì gian nên tu hạnh từ về thân, miệng, ý và quan niêm
bình đẳng.
Như vầy, Minh Thiên ! Bồ Tát không sát hại
chúng sanh, không trộm cắp của kẻ khác, không tà dâm, không nói dối, không
nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói hung dữ, không tham lam, không
giận hờn, không si mê tà kiến.
Thế nào là Bồ Tát không hại chúng sanh ?
Ðối với tất cả chúng sanh, từ bi thương xót
và sanh lòng hổ thẹn, đau đớn trước hành động giết hại, vất bỏ cả dao gậy,
những khí cụ đánh đập, đâm chém, bắn giết.
Không trộm cắp nghĩa là thấy của rơi giữa
phố chợ, xóm làng, ngoài đường, bất hoặc ở nơi nào không người, nếu không
phải vật của mình thì không bao giờ lượm. Vật gì của ai, không cho thì
không lấy.
Không tà dâm (là nói với Bồ Tát tại gia,
nếu Bồ Tát xuất gia là đoạn dâm) nghĩa là nam nữ đã có chồng vợ thì không
được ngoại tình, cả với những người còn lệ thuộc gia đình nếu chưa có lễ
nghi hợp thức thì không được xâm phạm, cho chí nếu người khác phái cầm đưa
vật gì thì cũng không nên móng dục tình.
Không nói dối nghĩa là luôn luôn nói ngay
thực , không khi nào chuyện có nói không chuyện không nói có, khi đối với
hương lân làng xã hoặc đứng trứơc quan chức, pháp toà đối chứng việc gì,
nên chơn thành khai nói đúng với sự thật, dù phải chịu chết cũng đành, chứ
không nói dối.
Không nói thêu dệt nghĩa là nói đúng lúc,
nói chơn thật, biết rõ nghĩa lý mới nói, vì lợi ích kẻ khác mà nói, lòng
nghĩ sao miệng nói vậy, không nói sai khác, không nói thêm bớt.
Không nói hai lưỡi nghĩa là đối giữa người
này, người kia, bên này bên nọ nên luôn luôn mong hoà hợp lẫn nhau, không
đem chuyện người này xuyên tạc người nọ, không gây sự nghi ngờ xích mích
giữa hai bên.
Không nói hung dữ nghĩa là luôn luôn lấy
lời ôn hoà nhỏ nhẹ tỏ bày, dẩn dắt cho người, niềm nỡ chào hỏi, hoàn toàn
không bao giờ dùng những lời đắng cay, độc ác chưởi rủa tác hại chúng sanh
Không tham lam nghĩa là đối với tài lợi của
kẽ khác không móng ý tham muốn, thấy người đến xin, tâm không lẫn tiếc.
Không giận hờn nghĩa là đối với tất cả
chúng sanh, dứt trừ những điều sân hận bực tức, nên khởi tâm niệm từ bi
thương sót, tâm niệm đem lại sự lợi ích, tâm niệm đem lại sự an vui cho
chúng sanh, khéo léo tuỳ thuận nhiếp hoá tất cả.
Không tà kiến nghĩa là phải biết nhận thức
đúng: Cuộc sống cần có sự bố thí, có sự cứu tế, có sự giáo dục hướng dẫn,
có đạo cha mẹ, có đời này đời sau, có khổ có vui, có mọi hành động và quả
báo của thế gian, có các bậc A la hán tu đạo xuất thế tự thân chứng quả,
đã dứt sanh tử, đã thành tựu tịnh hạnh, đã hoàn tất mọi việc làm, tự biết
không còn thọ thân đời sau nữa.
Minh Thiên nên biết rằng: không sát hại,
không trộm cắp, không tà dâm là tu hạnh từ về thân. Không nói dối, không
thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói hung dữ là Bồ Tát tu hạnh từ về
miệng. Không tham lam, không giận hờn, không si mê tà kiến là Bồ Tát tu
hạnh từ về ý. Thế là Bồ Tát quan niệm bình đẳng đối với tất cả chúng sanh.
Minh Thiên! Bồ Tát tu hạnh từ về thân, tu
hạnh từ về miệng , tu hạnh từ về ý đối với chư phật quá khứ, hiện tại và
vị lai, cũng như tu hạnh từ về thân, tu hạnh từ về miệng, tu hạnh từ về
ýđối với tất cả chúng sanh quá khứ. Hiện tại và vị lai được những phươc
báo công đức gì đều đem công đức đó hồi hướng cho tất cả chúng sanh đồng
thành Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Minh Thiên ! khi Bồ Tát thành tựu vô lượng
công đức như vậy thì hãy đem công đức ấy hồi hướng vô lượng trí tuệ. Lại
cùng tất cả chúng sanh hồi hướng về quả vị Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Công đức này có ba thứ:
-
Quá khứ không
-
Hiện tại không
-
Vị lai không
Không có người hồi hướng.
Không có pháp hồi hướng.
Khôngcó nơi hồi hướng.
Bồ Tát nên hồi hướng như vậy. Khi hồi hướng
như vậy, ba chỗ đều thanh tịnh. Ðem công đức thanh tịnh đó cho tất cả
chúng sanh đồng hồi hướng về quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Người
hồi hướng như vậy, không có phàm phu và pháp phàm phu, cũng không có tín
hành, không có pháp hành, không có bát nhẫn (1), không có Hướng Tu Ðà
Hoàn, Quả Tu Ðà Hoàn, không có Hướng Tư Ðà Hàm, Quả Tư Ðà Hàm, không có
Hướng A Na Hàm, Quả A Na Hàm, không có Hướng A La Hán, Quả A La Hán, không
có Hướng Bích Chi phật, Quả Bích Chi phật. Cũng không có Hướng Phật và Quả
Phật.
Tại sao thế? – Vì pháp tánh không vướng
mắc, không sanh, không trú, không diệt.
Thế nên Bồ Tát đem ba thứ công đức thanh
tịnh của ba cách hồi hướng này cho tất cả chúng sanh, đồng hồi hướng về
quả vị Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bồ Tát hồi hướng như vậy, lại nguyện rằng:
“Nếu tôi sanh ra chỗ nào, đều thường gặp Phật, đạt dược pháp chánh định
thậm thâm, thấy được vô lượng Phật, thành tựu sự hiểu biết sâu rộng, trí
tuệ thanh tịnh, thề không bỏ chúng sanh “.
Khi Phật nói pháp này, có trăm ngàn vị
Thiên Nhơn đều nguyện vãng sanh về cõi Phật A Súc.
Bấy giờ Phật bảo Tôn giả A Nan: “Khi ta vừa
nói pháp thậm thâm này, thì có trăm ngàn Thiên Nhơn đều nguyện vãng sanh
về cõi nước Phật A Súc. Rồi từ một cõi Phật này đến một cõii Phật khác
cúng dường chư Phật, nghe pháp, được pháp tổng trì, ghi nhận tu hành đúng
như Chánh pháp. Tất cả những vị ấy đều sẽ thành tựu trí tuệ không thể nghĩ
bàn, và sẽ được làm Phật ở cõi Ngũ trược, đều đồng một danh hiệu, gọi là
Cam Lồ Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Khi thọ ký cho các vị Trời ấy, có trăm ngàn
chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bấy giờ Thích Ðề Hoàn Nhơn bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn! Theo nghĩa Phật nói thì con
biết rằng như vậy là đạt được công đức rộng lớn, là công đức vô lượng là
công đức vô biên!”.
Phật bảo: “Kiều Thi Ca! pháp này hoàn toàn
thanh tịnh”.
Kiều Thi Ca thưa: “ Bạch Thế Tôn, kinh này
tên gì và phải phụng trì như thế nào?”
Phật đáp: “Thích Ðề Hoàn Nhơn Kiều Thi Ca !
Kinh này tên là Ðại Hồi Hướng, cũng gọi là Thậm Thâm Pháp Tánh Hồi Hướng.
Các ông nên đúng như vậy mà phụng trì.
Kiều Thi Ca, nếu có thiện nam tử, thiện nữ
nhơn nào tu học theo pháp hồi hướng này thì nên biết rằng người ấy chắc
chắn đạt được Vô sanh Pháp nhẫn, có thể độ tất cả chúng sanh chưa được độ,
đem lại cho vô lượng chúng sanh sự an lạc!”
Khi nghe Phật thuyết pháp này, các Tỳ kheo,
Ðế thích, Phạm Thiên, Trời, Người, A Tu La v.v.. đều vui vẻ phụng hành.
Chú thích:
(1)
Bát nhẫn: Là trí nhẫn được và chứng nhập lý tứ đế của cõi Dục và
hai cõi trên –Sắc và Vô sắc-Nhẫn tứ đế của cõi Dục gọi là tứ pháp nhẫn;
Khổ Pháp nhẫn, Tập Pháp nhẫn, Diệt Pháp nhẫn, Ðạo Pháp nhẫn. Nhẫn tứ đế
của cõi Sắc và Vô sắc goi là: Khổ Loại nhẫn, Tập Loại nhẫn, Diệt Loại
nhẫn, Ðạo Loại nhẫn – Loại là tợ loại, vì ở hai cõi trên sự nhẫn không
hoàn toàn giống như cõi Dục, bỡi lẽ các cõi trên tương đối ít khổ hơn. Nhờ
bát nhỗn mà đoạn được kiến hoặc ba cõi. Ðoạn được kiến hoặc rồi, quán
chiếu một cách rõ ràng thì gọi là bát trí. Bát nhẫn là Vô gián đạo, bát
trí là Giải thoát đạo. Nhẫn là nhơn của Trí, Trí là quả của Nhẫn. Hợp cả
bát trí và bát nhẫn gọi là mười sáu tâm kiến đạo.
Phụ chú:
(*) Cấp Cô Ðộc tên thật là Tu Ðạt Ða, cũng
gọi là trưởng giả Tu Ðạt. Ông thường giúp đỡ trẻ mồ côi và người già cả
không có gia đình con cái. Do đó người đời bấy giờ thường gọi là Cấp Cô
Ðộc,
Kỳ Ðà, còn gọi là Thệ Ða,(vì phiên âm tuỳ
mỗi nơi nên có hơi khác) có nghĩa là Chiến Thắng, tức Thái tử con vua Ba
Tư Nặc. Vì khi sanh Thái tử, nhằm lúc nhà vua giao chiến với ngoại quốc
được thắng trận, nên lấy đó đặt tên cho Thái tử.
Trưởng giả
Tu Ðạt lúc đầu chưa biết Phật pháp, nhơn có việc đến thành Vương Xá, gặp
Phật ông sanh lòng tín kính, mới đảnh lễ thỉnh Phật về ở nước Xá Vệ để
thuyết pháp. Phật nhận lời và phái ngài Xá Lợi Phất đến trước để tìm chỗ
thích nghi cho Tăng chúng đến ở. Trưởng giả Tu Ðạt và ngài Xá Lợi Phất đi
tìm khắp nơi trong thành Xá Vệ, chỉ có vườn cây của Thái tử Kỳ Ðà là nơi
thích hợp nhất. Trưởng giả đến hỏi Thái tử để mua khu vườn ấy mà lập tịnh
xá, Thái tử không có ý định bán vườn, nhưng trước sự khẩn khoản của Trưởng
giả, Thái tử vui miệng nói: “Trưởng giả cứ đem vàng trải đủ thì tôi sẽ
nhượng khu vườn đó cho”. Sẳn có nhiều vàng, lại nhiệt tâm vì đạo, Trưởng
giả không ngần ngại cho người mở kho chở vàng đến, lần lượt trải vàng lên
các khoảng đất trống. Ðến khi còn lại một phần đất và những chỗ có cây
chưa trải được thì Trưởng giả đứng ngẫm nghĩ. Lúc đó Thái tử mới nói với
Trưởng giả rằng: “Hay là Trưởng giả nghĩ đắc giá, thôi thì Trưởng giả cứ
đem vàng về và vườn tôi để lại cho tôi chứ không sao”. Thái tử ngạc nhiên
khi nghe Trưởng giả đáp; ‘Thưa, tôi đang tính các khoảng còn lại phải dùng
hết bao nhiêu vàng nữa, và những chỗ có cây thì phải làm sao? Chứ tôi
không nghĩ đến việc giá cã.” Thái độ cương quyết và thành thật của Trưởng
giả đã làm cho Thái tử cảm động, phát tâm cúng cả cây cối và phần đất còn
lại. Ðoạn cả hai người đồng chung kiến lập tịnh xá thỉnh Phật và chúng
tăng đến ở để thuyết pháp. Nên sau này những hội thuyết pháp tại đó đều có
ghi tên hai vị đại thí chủ ấy trong kinh.
--- o0o ---
Mục lục
Chương 1 |
Chương 2 |
Chương 3 |
Chương 4
Chương 5 |
Chương 6 |
Chương 7 |
Chương 8
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính :
Văn Hiếu
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-08-2002