PHÂN BIỆT KINH
Dịch giả: Thích
Thiện Trì
---o0o---
PHÂN BIỆT KINH
(Bản chữ Hán của Tam Tạng Pháp-sư Trúc-Pháp-Hộ, Ðại Tạng
quyển 14 Kinh Tập bộ 1).
Như thật tôi
nghe một thuở nọ Phật ở vườn cây của Trưởng giả Cấp-Cô-Ðộc và Thái-tử
Kỳ-Ðà tại nước Xá-Vệ(*). Trong một buổi sớm mai, ánh bình minh trải vàng
trên muôn ngàn hoa lá, Ðức Phật với lớp y vàng đoan nghiêm tĩnh toạ. Ngài
bảo A-Nan:
Này ông A-Nan: Ông hãy nói với các Tỳ-kheo
yên lặng lắng nghe. Ta sẽ nói cho các ông biết về sự thọ khổ của cõi nhơn
sanh.
A Nan liền rời chỗ ngồi đứng dậy sửa chiếc
y rồi lạy Phật mà thưa rằng:
Bạch Thế-Tôn, chúng con rất mong được nghe
Thế-Tôn dạy cho điều đó.
Phật dạy: Người đời có sáu điều ác tự lừa
gạt và tự gây tổn hại: Mắt bị hình sắc lừa gạt, tai bị âm thanh lừa gạt ,
mũi bị mùi thơm lừa gạt, ý bị tư tưởng tà vạy lừa gạt. Ðó là sáu thứ
thường xuyên làm cho người đời phải sa vào các đường ác, chịu khổ triền
miên, khó mong giải thoát. Những người có trí mới nhận thức được.
Lại nữa, có ba điều người đời ưa làm nên họ
phải chịu quả báo trong ba đường khổ: Một là thân ưa sát hại, trộm cắp và
dâm dục. Hai là miệng ưa nói lời xuyên tạc, chửi mắng độc ác, dối trá lừa
gạt và nói thêu dệt. Ba là ý ưa nghĩ chuyện tham lam, giận hờn, si mê. Vì
ba điều đó mà đoạ vào ba đường khổ: Ðịa-ngục, Ngạ-quỷ, Súc-sanh. Chỉ người
có trí mới nhận thức được.
Lại nữa, có sáu điều người đời thường mê
đắm, nên bị sa vào mười tám cảnh khổ: Mắt mê đắm theo hình sắc, tai mê đắm
theo âm thanh, mũi mê đắm theo mùi thơm, thân mê đắm theo những thứ gây
cảm xúc mát mịn êm dịu, ý mê đắm theo tư tưởng cuồng loạn sai lầm. Ðó là
những điều thường xuyên gây tổn hại, thế mà họ vẫn thường xuyên chấp nhận,
cho nên bị rơi vào mười tám cảnh Ðịa-ngục, chịu sự thống khổ mãi mãi,
không lúc nào mong thoát khỏi!
A-Nan thưa Phật: Nếu như những người nào
có thờ Phật và thọ giới thì có thể thoát được cảnh khổ ấy chăng?
Phật đáp: Nếu như những người có thờ Phật
và thọ giới thì được phước đức vô lượng, không thể nào hình dung được.
Nhưng ngược lại cũng có những người thờ Phật mà sa vào chỗ cực cùng tội
lỗi.
A-Nan bạch Phật: Thờ Phật và thọ giới sẽ
được phước đức vô lượng. Vậy thì tại sao có kẻ mắc phải tội lỗi nặng? Con
mong được Phật dạy cho điều đó.
Phật đáp: A-Nan! Người mà thờ Phật, phụng
trì kinh giới, tinh tấn tu niệm, không hề trật phạm thì được phước đức vô
lượng, không thể tỷ dụ được. Nhưng cũng có người thờ Phật, thọ giới mà
không giữ gìn thanh tịnh, không lo tinh tấn tư duy thiền định, mà chỉ mượn
danh thờ Phật, rồi chuyên làm những sự tà vạy tham cầu không nhàm, không
có tâm niệm biết đủ, không có ý nghĩ chế ngự, dâm dật sắc dục, ưa thích ca
múa, tham đắm rượu thịt, buông lung phóng đãng, thì làm sao tránh khỏi tội
lỗi khó lường của họ? Vì lẽ đó, họ đoïa mãi ba đường , chịu nhiều thống
khổ, khó được giải thoát:
Phật dạy: có ba hạng người thờ Phật:
Một là đệ tử của Ma thờ Phật.
Hai là hàng Nhơn Thiên thờ Phật.
Ba là đệ tử của Phật thờ Phật.
Sao gọi là đệ tử của Ma thờ Phật?
Phật đáp: Tuy rằng thọ giới theo Phật,
nhưng tâm niệm của họ ưa làm những việc tà vạy: Bói xâm, giải trừ, cúng tế
cầu đảo, đồng bóng mê hoặc, tin có Quỷ Thần gần gũi trong nhà, không tin
theo những điều chơn chánh, không biết quả báo tội phước. Chỉ mượn danh
nghĩa thờ Phật mà thường theo những kẻ tà ác, chết đoïa địa ngục không kịp
trở tay, phải chịu khổ lâu lắm mới có ngày thoát ra, mà làm bà con với
boïn ma, siểm nịnh yêu quái, thật rất khó cứu độ. Hạng người này do dư
phước đời trước, nên tạm thời được gặp Chánh đạo mà tâm ý vẫn mù mờ, không
hiểu được túc phước. Rồi lại phải đi theo nẻo tà kiến mà bị sa đoạ không
biết bao giờ cùng! Ấy là đệ tử của Ma thờ Phật. Sao gọi là hàng Nhơn Thiên
thờ Phật?
Người thọ trì đủ năm giới cấm, tu
mười pháp lành(1), dầu đến chết cũng không dám huỷ
phạm, biết tin tội phước, làm phải gặp phải, sau khi mạng chung liền sanh
lên cõi trời. Ấy gọi là hàng Nhơn Thiên thờ Phật.
Sao gọi là đệ tử của Phật thờ Phật?
Là những người biết phụng trì chánh giới,
học rộng kinh luật, trao dồi trí tuệ, biết rõ ba cõi là trường thống khổ,
tâm không ưa đắm, muốn cầu giải thoát, tu hành theo những pháp môn như:
Tứ-đẳng(2), Lục-độ(3). Thương xót chúng sanh, muốn tế độ khắp tất cả,
không tham tiếc thân mạng, biết chết đời này sanh lại đời khác, cầu làm
việc phước mãi mãi, không bao giờ làm theo những điều mê tín, Ấy là đệ tử
của Phật thờ Phật.
Phật dạy: Sau khi Ta nhập Niết-bàn độ một
ngàn năm sẽ có ma giáo nổi lên, thời thế yêu ác, quốc gia không được toàn
quyền tự chủ, nhân dân không được an cư lạc nghiệp, tai nạn chiến tranh
sát hại tàn bạo, ngoại xâm nội loạn dồn dập, quốc gia không có phép tắc kỷ
cương, xã hội đảo lộn. Lúc đó là thời tượng pháp.
A-Nan thưa Phật: Sao gọi là tượng pháp?
Phật đáp: trong thời đó có nhiều Tỳ-kheo
không phụng trì đúng theo Chánh-pháp. Trái lại họ còn sống với vợ con,
không tâm hổ thẹn, chỉ lo nghề nghiệp sanh sống, không có học thức, không
lo tu thiền, ưa thích ăn mặc theo kiểu thế tục, trên dưới lộn xộn, giả dối
lẫn nhau, bác bỏ những điều căn bản chính yếu trong sự nghiệp giáo hoá hộ
đời, đắm theo sắc dục, không sợ tội lỗi. Khi có người hiểu biết Chánh-pháp
vì muốn dùng lời trung thực chỉ bày giáo pháp chơn chánh thì họ lại sanh
tâm xấu ác, oán ghét, muốn tìm mọi cách chỉ trích phá hoại, phỉ báng, cho
rằng người ấy là kẻ thiếu sự hiểu biết. Vì vậy cho nên Chánh-pháp giảm
dần.
A-Nan thưa Phật: Khi đó có người nào phụng
trì Chánh-pháp hay chăng?
Phật đáp: Vẫn có nhiều người thờ Phật, và
nhiều người xuất gia. Nhưng không mấy ai giữ đúng
giới luật. Không sống với tinh thần lục hoà. Những người
tinh thông nghĩa lý thì lại rất ít. Phần nhiều là những người kém hiểu
biết!
A-Nan thưa rằng: Vậy thì ngay trong khi đó,
nước nào ác nhất, đến nỗi ít thấy được những người tin tưởng tu hành đúng
theo lời Phật?
Phật đáp: Ở cõi Chơn-Ðơn sẽ có hàng ngàn
Tỳ-kheo ngay trong Tăng đoàn mà làm bạn với ma. Trong số ấy chỉ có một vài
vị là người thông minh hiểu biết và chính là đệ tử của Phật. Ðến nỗi ít có
người được sanh lên cõi Trời Lục-Dục. Những kẻ sa vào cõi ma thì lại rất
nhiều!
Phật dạy: Sau khi ta nhập Niết-bàn, cũng có
nhiều kẻ học ở bên ngoài đền cầu đạo ta. Nếu người nào muốn tiếp độ họ thì
cần phải dè dặt. Sau ba tháng, nếu biết ý chí của họ có thể tu lập theo
hạnh thanh-tịnh, thân tâm rỗng lặng, ít lòng ham
muốn, không làm những điều gì sai quấy, ô nhiễm, thì mới có thể chính
thức chấp nhận. Trước hết là truyền cho họ giới thập thiện. Sau ba năm,
nếu xét thấy họ tu tập đúng được với chánh đạo, không phạm những tội ác
nào, nhiên hậu mới được tiếp tục cho thọ hai trăm năm mươi giới pháp. Nếu
biết tinh tấn tu lập, hoàn toàn đến mục đích giải thoát, nhất định người
ấy sau sẽ gặp Phật Di-Lặc và được độ thoát.
A-Nan thưa Phật: Như lời Phật dạy con xin
hoàn toàn vâng thọ và nói lại cho người sau biết rõ. Ðể sự nghiệp hoằng
pháp của Phật sau này khỏi bị sai lầm tuyệt diệt.
Phật dạy: Này A-Nan! Việc ông vâng thọ,
trước sau như một, quán thống tất cả. Ông đã hết lòng tin tưởng và lo hộ
trì Phật pháp. Ta cũng đã chứng minh cho ông điều đó.
A-Nan thưa Phật: Sau này những người tin
tưởng, muốn tu hành đúng theo chánh pháp, hết lòng mong muốn cầu xa lìa
thế tục, xuất-gia học đạo, nếu không được bậc minh sư trao truyền giới
pháp, mà có người viết chép giới, luật trao cho thì họ có thể được độ và
làm Phật sự được hay không?
Phật dạy: A-Nan, hoàn toàn phải là người
biết giới cấm và biết đạo lý mới có thể trao truyền giới pháp. Nhưng không
thể trao truyền qua văn tự mà cho là đúng pháp được. Tại sao như vậy? Bởi
vì Phật là bậc Ðại trí cả trên trời dưới trời, là Bậc Ðại độ cả trên trời
dưới trời, là bậc Ðại minh cả trên trời dưới trời, Không nên vọng truyền
làm mất tôn chỉ, mà cần phải hiểu rõ giới pháp, luật cấm, lão luyện mọi
sự, mới có thể truyền giới cho người sau. Nếu không thông hiểu những việc
cốt yếu trong kinh pháp và oai nghi giới cấm, mà truyền giới pháp cho
người ta là trái lời Phật dạy, thiếu sự thành kính và mất lòng tin đối với
mọi người. Chẳng những đã không ích lợi gì cho cả người truyền lẫn người
thọ, mà lại còn mắc phải tội lỗi không nhỏ. Vậy nên các ông cần phải suy
xét cho rõ.
A-Nan thưa Phật: Ðời sau, như có những
người chí tâm chí ý, vì chán nỗi thống khổ của cảnh thế gian, muốn cầu
được độ thoát, nếu gặp đời không có Phật thì phải làm sao để tế độ họ?
Phật dạy: A-Nan, hãy dẫn họ đến chỗ vị minh
sư am hiển giới pháp, chỉ vẽ cho họ tập theo những việc cốt yếu về các oai
nghi giới cấm. Nếu như xét thấy người có thể độ thì sẽ độ cho họ. Bằng như
tự mình không hiểu rõ giới pháp mà truyền cho người, thì cả hai đều mê
lầm, sai đạo, lộn xộn vô cùng, còn nương vào đâu mà được độ thoát!
Phật dạy: Sau này có những Tỳ-kheo, bản
thân không được thanh tịnh, nuôi dưỡng vợ con, thân thì hành động phi
pháp, phá giới, ô nhiễm, mà ý lại tham phước mà mong an lạc, thì khó nỗi
thoát khỏi quả báo tội ác! Những hạng người như thế thật đáng thương xót!
A-Nan thưa Phật: Sau này những người đã có
nhơn duyên xuất gia tu học, như vậy là đều đã được nhờ oai thần của Phật,
thì lẽ ra cũng đều được giải thoát, tại sao có kẻ không tin lời minh giáo
của Phật, mà lại trái phạm giới luật, để rồi phải chịu không biết bao
nhiêu thống khổ trong vô số kiếp? Phật dạy: Do bởi đời trước, khi bị đoạ
trong cảnh thống khổ, vì quá đau đớn, người ấy đã nhất thời ăn năn tự
trách, nên được chút phước sanh làm thân người ở thời mạt pháp, lại được
gặp kinh Phật và có thể cạo bỏ râu tóc mà làm vị Tỳ-kheo. Nhưng ý thức cũ
chưa dứt trừ được, tâm do dự, mù mờ không rõ, lại không gặp được bậc minh
sư trí đức, nên thường có những hành động ô trược, phần đông không thể
hoàn toàn ly tục. Như vậy mai sau còn phải đoạ vào các cảnh khổ cực, lần
lượt thọ tội trải vô số kiếp!
Phật dạy: Này các Tỳ-kheo. Các ông nay đã
là người xuất gia, bỏ cả lối sống gia đình vợ con, bỏ những sự nghiệp kinh
doanh ở đời để làm bậc Sa-môn, thì các ông cần phải siêng năng tu tập, giữ
gìn giới hạnh, như pháp của các bậc A-La_hán. Thà rằng các ông lấy nước
đồng sôi tự uống vô, làm cháy tiêu ruột gan, chứ không nên làm người vô
đạo đức mà nhận của tín thí. Người vô đạo đức mà nhận của tín thí sẽ phải
chịu tội thống khổ nhiều kiếp. Do chút phước mọn, được làm thân người, rồi
phải trở lại tuần tự đền trả, Có kẻ phải làm con cái để đền trả, có kẻ
phải làm cha mẹ để đền trả v.v...
A-Nan thưa Phật: Sao gọi là đền trả?
Phật đáp: Có người làm thân tôi tớ bị chủ
nhà đánh đập, mắng chửi tàn tệ, đối xử vô đạo, thế mà tôi tớ vẫn đành cam
chịu, không hề oán hận, lại còn siêng năng làm mọi công
việc không biết mỏi mệt, giữ gìn của cải cho
người chủ nhà không để hư mất. Chính là đời nay làm thân tôi tớ để đền trả
nghiệp đời trước đã nhận của tín thí mà không lo tạo những việc công đức.
Thì ra sau khi kẻ ấy chịu đủ tội khổ xong rồi, còn trở lại làm người để mà
đền trả. Trong số đó cũng có người biết được phần nào nghiệp báo đời
trước, nên đành cam chịu!
Sao gọi là làm con cái để đền trả?
Nghĩa là sự việc con cái không dám than
phiền dù làm được bao nhiêu của tiền đều bị cha mẹ tiêu dùng không biết
hạn lượng. Ấy là làm con cái để đền trả nghiệp báo đời trước.
Sao gọi là làm cha mẹ để đền trả?
Nghĩa là sự việc cha mẹ vẫn cam tâm đành
chịu dù làm ra bao nhiêu của tiền đều bị con cái xài phá hoang phí, làm hư
gia bại sản.
Sở dĩ ai cũng chịu đựng như vậy, là vì họ
cảm nhận được phần nào nhân duyên nghiệp báo đời trước mà đành cam chịu,
không trách ai cả. Thế nhưng những kẻ phải trả nợ cho nhau ấy, nhân duyên
đưa đẩy gặp nhau trong một thời gian, sau khi trả xong lại phải chia ly,
chứ không thể nào sống chung mãi. Người trí biết rõ lẽ đó cho nên không
gây ra nghiệp duyên để phải đền trả.
Chỉ có đạo đức mới được tồn tại. Như ta
thuở quá khứ cũng từng phải làm cha mẹ, con cái, tôi tớ nhiều đời không
thể tính kể. Tất cả đều do nhơn duyên một thời phải
chịu, mà không làm sao chạy khỏi. Và cha mẹ của ta có
được hiện thời là do nhơn duyên đạo đức nhiều đời, chứ không do nhơn
duyên nghiệp báo. Nhiều đời cha mẹ ta đã để cho ta tự do học đạo. Chính
nhờ công ơn đó ta đã tinh tấn tu hành trải qua nhiều kiếp nay mới được
thành Phật. Vậy nên người muốn học đạo không thể không tinh tấn lo sao cho
tròn chữ hiếu. Chớ để một khi bị đoạ mất thân người,
muôn kiếp khó bề trở lại!
Sau này, gặp thời mạt pháp, các người cần
nên tu hành hiếu thuận, được gặp kinh pháp, không thể không lo siêng năng
tu lập. Gặp Phật ra đời, không thể không hết lòng quy kính. Gặp bậc minh
sư, không thể không lo hết lòng phụng thờ, chuyên cần học hỏi, thân cận
thọ lãnh những giáo huấn.
Tại sao như thế? Vì nguyên được làm thân
người đã là việc rất khó. Sáu giác quan cũng khó được đầy đủ. Khó được
thông minh tài khí. Khó được gặp Phật, khó được nghe chánh pháp. Cho nên
các ông cần phải hết lòng siêng năng tu tập. Sau khi ta nhập niết bàn, sẽ
có thời kỳ thế gian xảy ra tai ác, ngũ nghịch. Khi đó ở cõi Chơn đơn có
nhiều ma quái thạnh hành, chánh đạo bế tắc; tuy kinh pháp của Phật vẫn
lưu truyền, nhưng ít ai học hỏi thấu đáo. Và dẫu có ai học hỏi thì cũng ít
có người thực hành. Giửa đời tuy cũng có hình bóng của các vị Tỳ-kheo,
nhưng ít ai tự giữ gìn giới hạnh thanh tịnh. Phần nhiều là những kẻ phá
giới, nhiễm trước, tập theo thói tục, chỉ có tham vọng đây đó cho
thoã chí du nhàn không khác gì
người đời. Ưa mặc đồ tốt đẹp, ưa học theo sách vở nghị luận của thế gian,
tập những thứ âm nhạc ca xướng , ưa kết tụ bè đảng, ưa cầu danh vọng như
người thế tục. Họ nhận người vào đạo, độ làm đệ tử nhưng không biết cách
dạy giữ gìn giới hạnh ngăn ngừa ma nghiệp, không
theo chánh đạo mà giáo hoá độ đời, không chịu tìm
bậc minh sư trí đức, không biết giữ gìn
cẩn thận các giác quan, mà vẫn tự xưng ta là đại
đức. Họ si mê không biết rằng tuy nay được làm thân người cũng chỉ tạm
thời mà thôi, nhưng cứ tưởng là lâu dài. Và mặc dù đời là tạm thời và
tương đối nhưng tội lỗi đã gây ra thì sau phải chịu khổ sở vô cùng, điên
đảo lăn lộn ở trong chúng ma. Thật là thống khổ biết
dường nào! Này các Tỳ-kheo! Các ông nay đã được làm thân người, được đầy
đủ sáu giác quan, lại được gặp Phật, gặp kinh luật, giới pháp thì các ông
cần phải siêng năng tu tập. Nếu không, một khi đánh
mất căn bản nhân cách, muôn kiếp khó bề hồi phục. Phật ra đời cũng khó
được gặp, kinh Pháp dạy cũng khó được nghe. Nên các ông phải biết tự suy
nghĩ.
Phật nói kinh này xong thì các vị Tỳ-kheo
đều ngồi im lặng tư duy quán tưởng và liền được chứng quả A-La-hán.
Dịch tại Phật Học Viện Quảng Hương Già Lam
Gia Ðịnh
Phật đản 2515
Chú thích
(1)
Mười pháp lành:
1- Không sát sanh.
2- Không trộm cắp.
3- Không tà hạnh
4- Không nói dối.
5- Không nói thêu dệt.
6- Không nói xuyên tạc.
7- Không nói độc ác.
8- Không tham lam.
9- Không sân hận.
10- Không si mê tà kiến.
Ngược lại mười điều trên là mười điều ác.
(2)
Tứ đẳng:
Cũng được gọi là Tứ Vô Lượng Tâm: TỪ, BI, HỶ, XẢ, là bốn đức tánh bao la
và bình đẳng của chư Phật đối với tất cả chúng sanh.
Theo kinh Lăng-già quyển ba nói thì tứ đẳng là: Tự đẳng, Ngữ đẳng, Pháp
đẳng và Thân đẳng. Tự đẳng như Phật tự xưng là Phật, thì chữ Phật ấy cũng
là tiếng tôn xưng cho tất cả chư Phật. Tự tánh của chữ Phật không có gì
sai khác, nên gọi tự đẳng. Ngữ đẳng là những âm thanh ngôn ngữ thuyết pháp
của tất cả các đức Phật đều như nhau. Thân đẳng là ba thân: Pháp thân, Báo
thân và Ứng hoá thân tướng hão
trang nghiêm mà đức Phật nào cũng có đầy đủ như nhau. Pháp đẳng là Ba mươi
bảy pháp giác ngộ giải thoát và thuyết pháp độ sanh mà đức Phật nào cũng
có như nhau. Theo hai thuyết trên ta thấy như có sự sai khác, nhưng kỳ
thật thì tuỳ theo nhơn quả mà nói Vì nhơn TỪ BI HỶ
XẢ bình đẳng vô lượng mà đạt đến quả TỰ NGỮ PHÁP THÂN cũng bình đẳng vô
lượng.
(3)
Lục độ:
Là sáu pháp môn chính yếu của Bồ tát hạnh tự độ và độ tha, là sáu món diệu
dược chữa trị sáu căn bịnh trầm trọng làm cho chúng sanh đắm trong sanh
tử. Bồ tát dùng sáu pháp này để đưa chúng sanh qua biển sanh tử, lên bờ
giải thoát, nên gọi là độ:
1.Bố thí độ, tiếng Phạn gọi là Ðàn ba-la
mật( Dànapàramita), là hạnh bố thí rốt ráo, để độ tâm xan tham bỏn xẻn của
mình, và để cứu giúp cho kẻ khác đang bị cảnh nghèo cùng thiếu thốn do
nhơn bỏn xẻn đời trước gây ra.
2. Trì giới độ, tiếng Phạn gọi là Thi-la
ba-la mật ( Silapàramita) đối trị sự huỷ phạm giới
cấm.
3. Nhẫn nhục độ tiếng
Phạn gọi là Sằn đề ba la mật ( Ksatipàramita) đối trị sân hận.
4. Tinh tấn độ tiếng Phạn gọi là Tỳ-lê-da
ba la-mật ( Viryapàramita) đối trị trễ nải.
5. Thiền định độ, tiếng Phạn gọi là Thiền
na ba la-mật ( Dhyàpàramita) đối trị tán loại.
6. Trí tuệ độ, tiếng Phạn gọi là Bát nhã
ba-la-mật (Prajnãpàramita) đối trị si mê.
--- o0o ---
Mục lục
Chương 1 |
Chương 2 |
Chương 3 |
Chương 4
Chương 5 |
Chương 6 |
Chương 7 |
Chương 8
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính :
Văn Hiếu
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-08-2002