PHÂN BIỆT KINH
Dịch giả: Thích
Thiện Trì
---o0o---
PHÂN BIỆT BỐ THÍ KINH
(Bản
chữ Hán của THI HỘ)
Như thật tôi nghe một thuở nọ, Phật cùng
các vị Ðại Tỳ kheo vân tập tại vườn Ni-Câu-Ðà thành Ca-Tỳ-La-Vệ, là quê
hương dòng họ Thích. Bấy giờ có một Tỳ-kheo-ni tên
là Ma-Ha-Ba-Xà-Ba-Ðề (1) đem một cái y nĩ (2) đến chỗ Phật, đến nơi đảnh
lễ dưới chân Ngài và lui lại đứng một bên bạch Phật rằng:
“ Bạch-Thế-Tôn, cái y nĩ mới này là tự tay
con làm thành, xin dâng lên Thế-Tôn. Mong Thế-Tôn nhận cho để con được ân
triêm phước lạc”.
Phật bảo Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Ðề: “ Bà nên đem
cái y nĩ mới đó cúng cả Ðại chúng chư Tăng thì sẽ được phước lợi không
khác gì như cúng dường Phật”.
Tỳ-kheo-ni Ma-Ha Ba-xà-Ba-Ðề thưa lại với
Phật rằng: “ Bản ý của con, là chỉ để dâng cúng đức Thế-Tôn phát tâm tạo
cái y này. Mong Thế-Tôn từ-bi doãn nạp, để cho con được ân triêm phước
lạc”.
Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-Xà-Ba-Ðề ân cần thưa
phật ba lần như thế. Phật cũng ba lần đáp trả lại: “ Chỉ nên bình đẳng
cúng cho Ðại chúng thì được lợi ích tốt đẹp, cũng như cúng cho Phật không
khác gì cả”.
Khi ấy Tôn-giả A-Nan đứng hầu bên Phật,
chứng kiến sự kiện như thế, mới đến trước bạch Phật rằng:
“ Bạch Thế-Tôn. Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-Xà
Ba-Ðề này là người thân của Phật, là người có ân đức rất lớn đối với Phật.
Ðiều đó Phật đã rõ. Nay đây bà đã có lòng đem dâng cái y này cho Phật, là
điều hợp tình, hợp cảnh và đúng lúc. Xin Phật giũ lòng từ bi, hoan hỉ chấp
nhận, để cho bà được ân triêm phước đức.
Phật bảo A-Nan “ Ðúng vậy, đúng vậy! Bà là
người thân của ta, có ân đức lớn đối với ta, ta tự biết điều đó. Nay bà đã
tự tay tạo lấy pháp-y đem đến cúng cho ta, thật là việc rất khó làm. Tại
sao thế?
A-Nan này! Ôâng nên biết rằng: Duy cái việc
khởi lòng tin thanh tịnh, quy y Phật Pháp Tăng, đã là việc rất khó thực
hiện. Càng khó thực hiện hơn nữa là cái việc có thể giữ gìn những giới
pháp của một Phật tử cận sự như: không sát hại, không trộm cắp, không dâm
dục, không nói dối, không uống rượu,v.v... Huống chi, đã biết cung kính
Phật, lại còn biết bố thí, đã bố thí, lại biết tin tưởng Phật một cách
thanh tịnh, không hề nghi ngờ, cũng như Chánh-pháp và Tăng-già, cho chí
nghĩa lý của bốn thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo.
Này A-Nan, vậy mà nay Tỳ-kheo-ni Ba-Xà
Ba-Ðề này đã có thể phát khởi lòng tin thanh tịnh, qui y Phật Pháp Tăng,
thọ trì những giới pháp của một vị Phật tử cận sự như không sát hại, không
trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu,v.v... lại còn tin
tưởng Phật Pháp Tăng, cho chí nghĩa lý của bốn thánh đế Khổ Tập Diệt Ðạo
và đã phát tâm xuất gia làm Tỳ-kheo-ni. Tất cả những
việc khó làm mà bà làm được, ta cũng đều chứng biết.
Này A-Nan, nói đến công đức về bố thí thì
đại khái có mười bốn thứ:
1- Bố thí cho người bịnh.
2- Bố thí cho người phá giới.
3- Bố thí cho người giữ giới.
4- Bố thí cúng dường
cho người xa lìa ô nhiễm.
5- Bố thí cúng dường bậc Tu-Ðà-Hoàn-hướng.
6- Bố thí cúng dường bậc Tu-Ðà-Hoàn-quả.
7- Bố thí cúng dường bậc Tư-Ðà-Hàm-hướng.
8- Bố thí cúng dường bậc Tư-Ðà-Hàm-quả.
9- Bố thí cúng dường bậc A-Na-Hàm-hướng.
10- Bố thí cúng dường bậc A-Na-Hàm-quả.
11- Bố thí cúng dường bậc A-La-Hán-hướng.
12- Bố thí cúng dường bậc A-la-Hán-quả.
13- Bố thí cúng dường các bậc Duyên-Giác.
14- Bố thí cúng dường các đức Như-Lai
Ứng-Cúng Chánh-Ðẳng Chánh-Giác.
A-Nan, ông nên biết rằng: Bố thí cho người
bịnh khổ đặng phước gấp đôi người thường. Bố thí cho người phá giới đặng
phước gấp trăm lần. Bố thí cho người giữ giới đặng phước gấp ngàn lần. Bố
thí cho người xa lìa sự nhiễm ô đặng phước gấp trăm ngàn lần. Bố thí cho
vị Tu-Ðà-hoàn-hướng đặng phước vô lượng, huống chi là vị Tu-Ðà-Hoàn-quả.
Bố thí cho vị Tư-Ðà-Hàm-quả. Bố thí cho vị A-Na-Hàm-hướng đặng phước vô
lượng, huống chi là vị A-Na-Hàm-quả. Bố thí cho vị A-La-Hán-hướng đặng
phước vô lượng huống chi là vị A-La-Hán-quả. Bố thí cho các bậc Duyên-Giác
đặng phước vô lượng, huống chi là các đức Như-Lai Ứng-Cúng Chánh-Ðẳng
Chánh-Giác. Như vậy gọi là so sánh mười bốn thứ công đức bố thí.
Hơn nữa, A-Nan nên biết rằng: Bố thí cho
đại chúng có bảy hạng:
1- Bố thí cho đại chúng Tỳ kheo của Phật
hiện tiền.
2- Bố thí cho đại chúng Tỳ-kheo sau khi
Phật cho nhập diệt.
3- Bố thí cho đại chúng Tỳ-kheo-ni sau khi
Phật nhập diệt.
4- Bố thí cho cả hai chúng Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni sau khi Phật nhập diệt.
5- Bố thí cho các chúng Tỳ-kheo-ni đi chu
du hoá đạo khắp các phương sau khi Phật nhập diệt.
6- Bố thí cho các chúng Tỳ-kheo-ni đi chu
du hoá đạo khắp các phương sau khi Phật nhập diệt.
7- Bố thí cho cả hai chúng Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo-ni đi chu du hoá đạo khắp các phương sau khi Phật nhập diệt.
Như vậy gọi là bảy hạng đại chúng mà các
người cần phải bố thí. Hơn thế nữa, A-Nan nên biết rằng: có bốn cách bố
thí thanh tịnh:
1- Năng thí thanh tịnh, tức không có kẻ
thọ.
2- Sở thí thanh tịnh, tức không có kẻ thọ.
3- Năng thọ thanh tịnh, tức không có kẻ
thí.
4- Sở thọ thanh tịnh, tức không có kẻ thí.
A Nan, sao gọi là năng thí thanh tịnh, tức
không có kẻ thọ? -Nghĩa là do kẻ thí không chấp tướng. Tức thân nghiệp
thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, chánh mạng thanh
tịnh, sự thấy biết thanh tịnh. Ðầy đủ như vậy tức không có tướng thí. Vì
không có tướng thí cho nên không có kẻ thọ. Nếu kẻ thí có thấy tướng tức
là ba nghiệp thân, khẩu, ý không thanh tịnh, sự thấy biết cũng không thanh
tịnh. Nếu lìa được cái thấy tướng ấy, tức là kẻ thí và kẻ thọ cả hai đều
thanh tịnh.
Lại nữa, sao gọi là sở thí thanh tịnh tức
không có kẻ thọ?
Nếu kẻ thọ thân nghiệp không thanh tịnh,
khẩu nghiệp không thanh tịnh, ý nghiệp không thanh tịnh, sự thấy biết
không thanh tịnh, tức có tướng sở thí. Nếu kẻ thọ ba nghiệp thanh tịnh, sự
thấy biết thanh tịnh, đầy đủ như vậy, tức không có tướng sở thí. Lìa
tướng, là sở thí thanh tịnh.
Lại nữa, sao gọi là năng thọ thanh tịnh tức
không có kẻ thí?
Nếu kẻ thọ ba nghiệp thân, khẩu, ý không
thanh tịnh, mạng không thanh tịnh, sự thấy biết không thanh tịnh tức có
tướng năng thọ, nếu lìa tướng năng thọ ấy, tức là không có kẻ thí.
Lại nữa, sao gọi là sở thanh tịnh tức không
có kẻ thí?
Nghĩa là do kẻ thí ba nghiệp thanh tịnh,
mạng thanh tịnh, sự thấy biết thanh tịnh tức không có sở thí, lìa sở thí,
nên không có sở thọ. Vì vậy sở thọ thanh tịnh.
Lúc bấy giờ Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-Xà Ba-Ðề
nghe Phật tuyên thuyết đủ mọi phương pháp bố thí như thế. Bà liền đem cái
đó bố thí cho cả đại chúng. Khi đó cả chúng Tỳ-kheo liền vì bà mà vui lòng
nhận lấy.
Phật bảo A-Nan: Ðời sau nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhơn nào có tín tâm, đối với đại chúng khởi lòng thanh tịnh,
mà làm việc bố thí thì sẽ được phước đức vô lượng. Huống chi là hôm nay,
bố thí cho đại chúng hiện tiền.
Bấy giờ Tôn-giả A-Nan và Tỳ-kheo-ni Ma-Ha
Ba-Xà Ba-Ðề nghe Phật nói xong vui lòng hớn hở, tin tưởng vâng theo lời
Phật dạy mà thực hành.
Chú Thích:
(1)
Ma-ha Ba-Xà Ba-Ðề dịch âm từ chữ Phạn
(Mahãprajãpatĩ) nghĩa là Ðại-Aùi-Ðạo, Di mẫu của Phật. Sau bảy ngày sanh
Thái tử Tất Ðạt Ða thì Hoàng-Hậu Ma-Da qua đời, Ma-Ha Ba-Xà Ba-Ðề nuôi
dưỡng thái tử cho đến khi khôn lớn. Nên nói bà là người thân và có ân đức
lớn đối với Phật. Sau nhờ Ngài A-Nan xin Phật cho bà được xuất gia làm
Tỳ-kheo-ni. Về Ni giới bà là người xuất gia đầu tiên, thường gọi là
Kiều-Ðàm-Di ( GOTAMI).
(2)
Có chỗ nói là “ Kim-lũ ca-sa”, tức y ca-sa bằng kim tuyến.
--- o0o ---
Mục lục
Chương 1 |
Chương 2 |
Chương 3 |
Chương 4
Chương 5 |
Chương 6 |
Chương 7 |
Chương 8
--- o0o ---
|
Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Vi tính :
Văn Hiếu
Trình bày : Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-08-2002