 |
Vì sao tin Phật
Hòa thượng K.
Sri Dhammananda
Thích Tâm Quang
dịch Việt,
California,
Hoa Kỳ, 1997
Nguyên
tác: What Buddhists believe , Malaysia, 1987 |
---o0o---
Chương 5 (tiếp
theo)
-ooOoo-
NGHIỆP LÀ GÌ?
Nghiệp là một luật
thiên nhiên khách quan, tác động tùy theo hành vi của chúng
ta. Nghiệp là luật tự trong chính nó và không ai là người
ban hành luật này. Nghiệp tác động trong lãnh vực riêng
của nó, độc lập, như một tác nhân không có sự can thiệp
bên ngoài.
Nghiệp có thể nói
theo ngôn ngữ giản dị của trẻ thơ, là làm tốt, tốt sẽ
đến với bạn, ngay bây giờ, và sau này. Làm xấu, xấu sẽ
đến với bạn, ngay bây giờ và sau này.
Nói theo ngôn ngữ đồng
áng, Nghiệp có thể được giải nghĩa như sau: nếu bạn gieo
hạt giống tốt, bạn sẽ thu hoặch được một mùa gặt hái
tốt. Nếu bạn gieo hạt giống xấu, mùa gặt sẽ thất thu.
Nói theo ngôn ngữ khoa
học, Nghiệp được gọi là luật nhân quả; mỗi nguyên nhân
đều có hậu quả. Một tên khác gọi là luật của nguyên nhân
luân lý. Nguyên nhân luân lý tác động trong lãnh vực tinh
thần giống như luật vật lý tác động và phản tác động
trong lãnh vực vật lý. Trong kinh Dhammapada (Kinh Pháp Cú),
Nghiệp được giải thích như sau: "Tâm dẫn đầu mọi
pháp, tâm chủ, tâm tạo tác". Nếu bạn nói năng hay hành
động với tâm thiện hay bất thiện, hạnh phúc hay bất
hạnh sẽ theo bạn như chiếc xe theo dấu chân xe, như bóng vói
hình không bao giờ rời nhau.
Nghiệp chỉ đơn
giản là một hành động. Trong hệ thống cơ cấu hoạt động
của cơ thể, có một sức mạnh hay lực mang nhiều tên gọi
khác nhau như bản năng, khuynh hướng, thức vân vân.. Sức
mạnh của thiên hướng bẩm sinh đó điều động mỗi chúng
sanh luôn trong trạng thái chuyển động về tinh thần lẫn
vật chất. Sự chuyển động đó là hành động. Những hành
động tái diễn tạo thói quen, và thói quen trở thành cá tính
của người đó. Trong Phật Giáo, tiến trình trên gọi là
Nghiệp.
Trong ý nghĩa ý nghĩa
rốt ráo, Nghiệp bao gồm các tâm hành (hay tác ý) tốt lẫn
xấu. Đức Phật nói: "Nghiệp là Tác ý".
Nghiệp không phải một thực thể mà là một tiến trình, hành
động, năng lực, và sức mạnh. Một số người giải thích
lực này là "hành-động-ảnh-hưởng". Nó chính là
những gì do chính chúng ta làm phản ứng lại chúng ta. Đau đớn
hay hạnh phúc mà con người kinh nghiệm là do kết quả của hành
vi, lời nói, và tư tưởng của chính người ấy phản ứng
lại. Hành vi, lời nói, và tư tưởng của chúng ta tạo sự
thành công hay thất bại, hạnh phúc hay nghèo khổ.
Nghiệp là luật tự
nhiên, khách quan, tác động tùy theo hành vi của chúng ta. Nó
là một định luật tự tác, không ai ban hành ra nó cả.
Nghiệp tác động trong lãnh vực riêng của nó không bị chi
phối bởi một tác nhân độc lập, có thẩm quyền nào bên
ngoài vào nó cả, nó độc lập như một cơ quan có thẩm
quyền điều khiển. Tin là không một đấng thiêng liêng bí
ẩn nào chỉ huy hay ban hành thưởng phạt, người Phật Tử
không ỷ vào sự cầu nguyện sức mạnh siêu nhiên đó để
ảnh hưởng kết quả của Nghiệp. Theo Đức Phật, Nghiệp
chẳng phải là tiền định và cũng chẳng phải một loại phán
quyết nào đó áp đặt trên chúng ta bằng sức mạnh thần bí
mà chúng ta không cưỡng lại được.
Người Phật Tử tin
rằng gieo gì gặt nấy. Chúng ta là kết quả những việc chúng
ta làm ở quá khứ, và chúng ta sẽ là kết quả của những
việc chúng ta làm bây giờ.
Nói một cách khác, ta không phải tuyệt đối sẽ là con người
trong quá khứ, và cũng sẽ không mãi mãi là con người như
hiện tại. Trên đây đơn giản có nghĩa là Nghiệp không cố
định. Đức Phật nhấn mạnh là nếu mọi thứ đều cố định
thì ý chí, đạo đức và đời sống tinh thần sẽ không còn
tự do, chúng ta tùy thuộc vào quá khứ của chúng ta. Trái
lại, nếu mọi thứ không cố định, thì việc rèn luyện đạo
đức, tinh thần có thể sẽ không có. Cho nên Đức Phật không
chấp nhận thuyết cố định tuyệt đối lẫn không cố định
tuyệt đối.
NHỮNG QUAN NIỆM SAI
LẦM VỀ NGHIỆP
Trong Tăng Chi Bộ Kinh
(Anguttara Nikaya) có nói đến những sự giải thích sai lầm,
những quan niệm không hữu lý về Nghiệp, khuyên người trí
nên tìm hiểu và bác bỏ những quan điểm sau đây:
1. Tin rằng mọi sự
đều do kết quả hành động của những kiếp trước;
2. Tin rằng tất cả là kết quả sáng tạo của một Đấng
Tối Thượng Trị Vì; và
3. Tin rằng mọi sự vật xuất hiện không có lý do hay nguyên
nhân.
Nếu một người trở
thành kẻ giết người, trộm cắp, hay gian dâm, và nếu hành
động của kẻ đó là do các hành động trong quá khứ, hay do
tạo tác của Đấng Thượng Đế Trị Vì, hay chuyện xẩy ra
chỉ vì tình cờ, thì kẻ đó ắt không chịu trách nhiệm
về các tội lỗi đã gây ra .
Một giải thích sai
lầm nữa về Nghiệp là Nghiệp chỉ tác động trên những người
nào đó tùy theo niềm tin của họ. Nhưng số phận của một
con người ở kiếp sau không tùy thuộc vào tôn giáo nào mà
người đó chọn lựa. Dù theo bất cứ tôn giáo nào, định
mệnh của người đó hoàn toàn tùy thuộc vào hành động
của thân, khẩu và ý. Dù người đó mang bất cứ nhãn
hiệu tôn giáo nào, người đó sẽ được ở một thế giới
hạnh phúc trong kiếp sau nếu người đó làm những điều
thiện, sống một cuộc đời thuần khiết. Người đó sẽ
sanh vào nơi bất hạnh sống một cuộc đời thống khổ,
nếu người đó phạm các tội lỗi, nuôi dưỡng tư tư?ng
xấu xa trong tâm ý. Cho nên người Phật Tử không bao giờ tuyên
bố là chỉ mình mới có diễm phúc lên thiên đàng sau khi
chết. Dù theo bất cứ tôn giáo nào, Nghiệp của con người xác
quyết số mệnh của mình cả trong đời sống hiện tại
lẫn kiếp sau. Giáo Lý về Nghiệp không nêu lên một công lý
thực hiện sau khi chết. Đức Phật không dạy Nghiệp Luật
để bảo vệ người giàu có và an ủi kẻ khốn cùng bằng cách
hứa hẹn hạnh phúc hão huyền sau khi chết.
Theo Đạo Phật,
Nghiệp giải thích những bất bình đẳng giữa con người. Các
dị biệt này không những do di truyền, môi trường và bản
chất mà cũng do Nghiệp hay các hành động của chính mình.
Quả thực Nghiệp là một những yếu tố trách nhiệm về
sự thành công hay thất bại của đời sống chúng ta.
Vì Nghiệp là một
sức mạnh vô hình ta không thể nhìn thấy nó tác động với
mắt thường. Muốn tìm hiểu Nghiệp tác dụng ra sao, chúng ta
hãy so sánh nó với các hạt giống: kết quả của Nghiệp
được tồn trữ trong tiềm thức giống như lá cây, hoa, trái
và thân cây tồn trữ trong hạt giống. Trong điều kiện
thuận lợi, quả của Nghiệp nẩy sanh giống như khi gặp ẩm
ưót và ánh sáng thì lá cây, thân cây sẽ nẩy mầm từ hạt
giống nhỏ bé.
Tác dụng của Nghiệp
có thể so sánh với một tài khoản trong ngân hàng: một người
đạo đức, bác ái và nhân từ trong đời sống hiện tại
giống như một người vun bồi Nghiệp thiện của mình.
Thiện Nghiệp tăng trưởng của người đó giúp người đó vượt
qua các khó khăn của cuộc đời. Nhưng người đó phải thay
thế vào đó số tiền người đó đã lấy đi, nếu không
một ngày nào đó tài khoản sẽ cạn đi và sẽ bị phá
sản. Vậy thì người đó đổ lỗi cho ai đây về tình cảnh
nghèo khổ của mình? Người đó chẳng thể đổ lỗi cho người
khác và cũng chẳng phải cho là số phận của mình. Chính người
đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Cho nên người Phật
Tử tốt không thể là kẻ đào tẩu. Người Phật Tử phải
đối mặt với cuộc sống đúng như nó là vậy và không
trốn tránh nó. Nghiệp lực không thể kiểm soát được
bằng sụ thụ động. Gia tăng mạnh mẽ làm các điều thiện
rất cần thiết cho hạnh phúc của chính.mình. Trốn tránh là
phương sách của kẻ yếu hèn, và kẻ trốn tránh cũng không
thể thoát được các hậu quả của Nghiệp Luật.
Đức Phật dạy:
"Không nơi nào ta có thể
lẩn trốn để tránh khỏi hậu quả của Nghiệp (Kinh Pháp Cú,
Câu 127).
KINH NGHIỆM BẢN THÂN
Hiểu được Nghiệp
Luật là tự nhận thức được rằng chính chúng ta có trách
nhiệm về hạnh phúc hay bất hạnh của mình. Chúng ta là
kiến trúc sư Nghiệp của chúng ta. Phật Giáo giải thích con
người có đầy đủ khả năng uốn nắn cho Nghiệp của mình,
và do đó ảnh hưởng đường hướng cuộc sống của mình.
Mặt khác, con người không hoàn toàn là tù nhân phải chịu
khuất phục do hành động của mình, và cũng không là nô lệ
cho Nghiệp của mình. Con người cũng chẳng phải là một bộ
máy tự động phát ra những sức mạnh theo bản năng để nô
dịch hóa mình. Con người cũng chẳng phải là một sản
phẩm của tạo hóa. Bên trong con người có sức mạnh và
khả năng để thay đổi Nghiệp. Tâm của con người mạnh hơn
Nghiệp, cho nên Nghiệp luật có thể được làm ra để phục
vụ cho con người. Ta không đánh mất hy vọng và nỗ lực để
đầu hàng nghiệp lực của mình. Muốn bù đắp lại phản
ứng gây ra do nghiệp xấu tích lữy từ trước, ta phải tạo
nhiều điều thiện hơn nữa, và thanh lọc tâm ý thay vì cầu
nguyện, lễ bái, thực hành lễ nghi hay hành xác để tránh
nghiệp quả. Cho nên con người có thể tránh được hậu
quả của các hành động tội lỗi nếu hành động khôn ngoan
bằng cách sống một cuộc đời cao thượng.
Con người phải dùng
vật chất để xúc tiến lý tưởng của mình. Những con cờ
của cuộc sống xấu hay tốt trong tay ta. Ta không chọn chúng.
Chúng là những dấu vết từ những nghiệp trong quá khứ; nhưng
nếu ta thích ta cứ đặt tiền xuống, làm những gì hợp
với ta, và khi chơi cờ ta sẽ hoặc thắng hoặc bại.
Nghiệp nặng hay nhẹ
tùy hành động của con người. Hành động này cũng tạo thành
số nghiệp quả. Nhưng bất cứ mỗi một hành động nào
thực hiện vô tình không cố ý không thể trở thành một
thiện nghiệp (hành động khéo léo) hay bất thiện nghiệp (không
khéo léo) Do đó tại sao Đức Phật dạy Nghiệp là các hành
động do tác ý. Có nghĩa là bất cứ điều lành hay điều
dữ do chúng ta vô tình tạo ra không cố ý, thì không đủ
mạnh để bị kéo đến kiếp sau. Tuy nhiên, không hiểu biết
bản chất của Nghiệp luật không thể là một lý do để điều
chỉnh hay tránh được Nghiệp quả gây nên do những hành động
có chủ ý. Một em bé hay một người ngu si có thể phạm hành
động tội lỗi. Nhưng nếu họ hành động tội lỗi với
chủ ý làm hại người hay làm người khác bị thương, thì
khó mà có thể nói rằng những người đó tránh được
Nghiệp quả. Nếu đứa trẻ chạm tay vào một thanh sắt nóng,
nhất định em đó không thể tránh được phỏng tay. Nghiệp
lực tác dụng đúng như vậy. Nghiệp lực không thiên vị,
giống như trọng lực.
Sự thay đổi tận
gốc rễ về tâm tính của Angulimala và Asoka (Vua A Dục)
chứng minh tiềm lực của con người có thể kiểm soát được
Nghiệp lực của mình.
Angulimala là tên đạo
tặc đã giết hơn một ngàn người đồng hương. Chúng ta có
thể phán xét về những hành động bề ngoài được không?
Chỉ trong một đời sau khi hối cải Angulimala đã trở thành
bậc A La Hán chuộc lại những hành động tội lỗi gây ra
trong quá khứ.
Asoka, Vị Hoàng Đế
của Ấn, đã giết hàng ngàn vạn người trong các chiến
trận để mở mang bờ cõi. Thế mà, sau khi thắng trận, ông
đã tự mình hoàn toàn chuyển hóa, thay đổi hẳn lối sống
để danh thơm lại ngày nay: "Trong cả chục ngàn tên
tuổi các vương tước, các vua chúa, các bậc khanh tướng
trong lịch sử, tên Vua A Dục chói sáng, chói sáng một mình
như một vì tinh tú". Đó là lời nhận xét của sử
gia thế giới H.G. Wells.
NHỮNG YẾU TỐ HỖ
TRỢ NGHIỆP
Mặc dù Đạo Phật có
nói là con người có thể kiểm soát nghiệp lực, nhưng không
có nghĩa là mọi thứ đều do Nghiệp cả. Đạo Phật không
quên vai trò của các sức mạnh thiên nhiên khác. Theo Đạo
Phật, có năm động lực hay tiến trình của Luật thiên nhiên
tác động trong thế giới vật lý và tâm lý:
1. Những định
luật vật lý vô cơ từng mùa như các hiện tượng thời
tiết về mưa gió vân vân...
2. Những định luật sinh vật học liên quan đến sự thay
đổi theo từng mùa vân vân...
3. Nghiệp luật liên quan nguyên nhân luân lý hay nhân quả
4. Hiện tượng thiên nhiên liên quan đến điện lực, nước
thủy triều vân vân... và
5. Định luật tâm lý tác động sự vận hành của Thức.
Như trên, Nghiệp chỉ
là một trong năm định luật thiên nhiên giải thích tính cách
đa dạng trong thế giới này.
CÓ THỂ THAY ĐỔI NGHIỆP ĐƯỢC KHÔNG?
Nghiệp thường bị
ảnh hưởng bởi hoàn cảnh: tác động của các thiện lực và
ác lực để chống lại và hỗ trợ định luật tự tác này
(Nghiệp). Những lực khác hỗ trợ hoặc cản trở Nghiệp này
là sự sanh thời điểm hay điều kiện, tướng mạo và nỗ
lực.
Sự sanh ra đời
thuận lợi hay không thuận lợi có thể phát triển hay làm
trở ngại đến Nghiệp quả.
Chẳng hạn, nếu một
người được sanh ra từ một gia đình quý phái, hay trong
một gia đình hạnh phúc, việc sanh thuận lợi này giúp cho người
đó cơ hội thuận tiện để Nghiệp thiện tác động. Một
người kém thông minh, nhưng bởi Nghiệp thiện được sanh
trong một gia đình vương giả, nhờ sự liên hệ gia đình
được người ta trọng vọng. Nếu cũng con người ấy vì
sanh trong hoàn cảnh không thuận lợi, sẽ không được người
ta đối xử tương tự.
Tướng mạo đẹp đẽ
hay xấu xí là hai yếu tố khác ảnh hưởng làm trở ngại
hay hỗ trợ sự tác động của Nghiệp. Nếu do một số
thiện Nghiệp, một người đưọc sanh thuận lợi, nhưng bị
dị hình vì một số ác nghiệp, người đó không thể hoàn
toàn hưởng kết quả lợi lạc do thiện nghiệp của mình.
Cả đến là vị hoàng tử chính thức sẽ nối ngôi vua cũng
không thể đạt ngôi vị này nếu bị sanh dị dạng hay tâm
trí bất thường. Mặt khác, sắc đẹp là một tài sản quý
báu cho sở hữu chủ. Một đứa con trai tuấn tú của gia đình
nghèo vẫn làm nhiều người khác chú ý và có thể tự mình
làm nổi bật nhờ ảnh hưởng của người chung quanh. Chúng
ta cũng tìm thấy nhiều trường hợp những người từ những
gia đình nghèo, dòng dõi hạ tiện, trở nên nổi tiếng như các
tài tử đóng phim và các hoa hậu.
Thời điểm và điều
kiện cũng là những yếu tố khác ảnh hưởng đến sự tác
động của Nghiệp. Trong thời kỳ nạn đói hay trong thời
kỳ chiến tranh, tất cả mọi người đều chịu chung số
phận. Những điều kiện bất thuận lợi dễ gây nên khả năng
phát triển ác Nghiệp tác động. Mặt khác, những điều
kiện thuận lợi, sẽ ngăn chặn tác động ác nghiệp.
Nỗ lực hay trí thông
minh là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tác động
của Nghiệp. Không có nỗ lực thì tiến bộ về đời và đạo
không thể có được. Nếu một người không tự mình nỗ
lực để chữa bệnh, hay tự cứu lấy mình khỏi những khó
khăn, hay cố gắng chuyên cần để tiến bộ, ác nghiệp sẽ
có cơ hội để phát triển hậu quả. Tuy nhiên nếu người
đó gắng sức vượt các khó khăn, thiện nghiệp sẽ phát
triển và hỗ trợ. Một lần trong những tiền kiếp, khi một
con thuyền bị đắm trong biển cả, Đức Bồ Tát đã cố
gắng cứu mình và mẹ già, trong khi những người khác cầu
nguyện thánh thần và phó mặc số phận mình trong tay thần
thánh. Kết quả là Đức Bồ Tát thoát hiểm trong khi những
người khác đều bị chết chìm.
Như vậy tác động
của Nghiệp ảnh hưởng bởi sự sanh, vẻ đẹp, hoàn cảnh và
nỗ lực cá nhân, hay trí thông minh. Tuy nhiên, con người có
thể vượt qua ngay được hậu quả của Nghiệp bằng cách áp
dụng một số phương thức. Nhưng người đó chưa thoát
khỏi hậu quả của Nghiệp nếu người đó cứ ở trong vòng
sanh tử luân hồi. Bất cứ lúc nào nhân duyên hội đủ,
nghiệp quả ấy mà người đó đã từng vượt qua được
vẫn c có thể trở lại ảnh hưởng đến người ấy. Đó là
sự không chắc của đời sống nhân gian. Cả đến các Đức
Phật và các Bậc A la Hán cũng vẫn bị ảnh hưởng của
một số Nghiệp, mặc dù ở trong lần sanh cuối cùng của các
Ngài.
Yếu tố thời gian cũng
là một khía cạnh quan trọng của Nghiệp lực cho con người
kinh nghiệm các hậu quả tốt và xấu. Con người chứng
nghiệm Nghiệp quả ngay trong hiện kiếp trong khi một số
Nghiệp quả trổ sanh ngay ở kiếp tới. Một số Nghiệp quả
theo người tạo nghiệp mãi trong vòng sanh tử luân hồi cho đến
khi nào không còn tái sanh nữa sau khi đạt Niết Bàn. Lý do chính
về sự khác biệt này là do sự thúc đẩy của tâm thức
của con người vào thời điểm mà một tư tưởng sanh khởi
trong tâm muốn làm điều thiện hay bất thiện.
NĂNG LỰC VÔ TƯ
Những ai không tin có
một năng lực gọi là Nghiệp nên hiểu rằng Nghiệp lực không
phải là một sản phẩm phụ của một tôn giáo đặc biệt nào
dù là Phật Giáo, Ấn Độ Giáo, Jainism xác nhận và giải thích
bản chất của sinh lực ấy. Đó là một định luật thiên
nhiên đang hiện hữu không mang một nhãn hiệu tôn giáo nào.
Tất cả những ai vi phạm định luật này, phải chịu hậu
quả dù theo tín ngưỡng nào đi nữa, và những ai sống hài hòa
với định luật này sẽ chúng nghiệm an lạc và hạnh phúc
trong đời sống. Cho nên Nghiệp Luật ấy vô tư, không thiên
vị đối với bất cứ ai tin hay không tin, có tôn giáo hay không
tôn giáo. Luật ấy giống như bất cứ một định luật vũ
trụ hiện hữu nào. Xin nhớ là Nghiệp không phải là tài
sản độc quyền của Phật Giáo.
Nếu chúng ta hiểu
Nghiệp là một sức mạnh hay một hình thức của năng lực,
chúng ta có thể nhận thức được sự không có khởi đầu.
Hỏi nơi đâu bắt đầu Nghiệp thì chẳng khác gì hỏi chỗ
nào bắt đầu dòng điện. Nghiệp giống như điện không có
chỗ bắt đầu. Nghiệp hiện hữu trong một số điều kiện.
Một cách quy ước, chúng ta nói nguồn gốc của Nghiệp là tác
ý nhưng nói vậy cũng quá quy ước như nói rằng nguồn gốc
của một con sông là một đỉnh núi.
Giống những làn sóng
trên đại dương trùng trùng điệp điệp lên nhau, làn sóng
của thức chảy lên một làn sóng khác và sự hợp nhất
của những làn thức chảy chồng chất lên nhau gọi là sự tác
động của Nghiệp. Tóm lại, theo Phật Giáo, mỗi chúng sanh là
một luồng điện của cuộc sống hành hoạt theo cái nút
chuyển điện tự động của Nghiệp.
Nghiệp là một dạng
năng lực không tìm thấy bất kỳ tại đâu trong suối tâm
thức hay trong cơ thể. Giống như trái soài không tích trữ nơi
nào trên cây soài cả, nhưng tùy thuộc một số điều kiện,
trái soài trổ sanh, Nghiệp cũng như vậy. Nghiệp tựa như gió
hay lửa. Nó không được tích trữ nơi nào trong Vũ Trụ nhưng
sẽ xuất hiện khi đủ một số điều kiện.
TÁI SANH
Không thỏa mãn được
ham muốn về sự sống còn và về dục lạc là nguyên nhân
của tái sanh.
Người Phật Tử nhìn
thuyết tái sanh không chỉ là lý thuyết suông mà là một sự
kiện có thể kiểm chứng được. Niềm tin vào tái sanh tạo
thành một nguyên lý căn bản của Phật Giáo. Tuy nhiên, sự
tin tưởng này không chỉ giới hạn nơi người Phật tử,mà
còn đưọc thấy tại nhiều quốc gia, trong những tôn giáo khác,
và cả nơi những nhà tư tưởng tự do. Pythogaras có thể
nhớ lại kiếp trước của ông. Plato nhớ được một số
tiền kiếp của ông. Theo Plato, con người có thể tái sanh mười
lần. Plato cũng tin là việc tái sanh có thể có trong thế
giới loài vật. Dân tộc Ai Cập và Trung Hoa thời cổ thường
tin là chỉ có các nhân vật nổi tiếng như hoàng đế, vua chúa
mới có tái sanh. Một chức quyền nổi tiếng Ki Tô Giáo
Origen, sống khoảng 185-254 sau Tây Nguyên, tin có tái sanh. Theo
ông, không có sự đọa đầy khổ sở vĩnh viễn tại địa
ngục. Gorana Bruno, sống trong thế kỷ thứ 16, tin là mỗi người
và mỗi con vật đều chuyển linh hồn vào chúng sanh khác sau
khi chết. Năm 1788, triết gia nổi tiếng Kant công kích quan
niệm hình phạt đọa đầy vĩnh viễn. Kant cũng tin tưởng
việc có thể tái sanh thành chư thiên. Schopenhaumer (1788-1860),
một triết gia vĩ đại nói nơi nào có ý chí muốn sống còn
thì nơi đó phải có đời sống. Khát vọng muốn sống còn
tự nó biểu lộ liên tục trong nhiều hình thức mới. Đức
Phật giải thích "ý chí muốn hiện hữu" này là lòng
tham sống.
Thật ra chúng ta có
thể kiểm chứng được tiền kiếp của mình nhưng không
phải là dễ dàng. Bản chất của tâm ý không cho phép mọi
người nhớ lại tiền kiếp. Tâm ý của chúng ta bị áp đảo
bởi năm chướng ngại: tham lam, sân hận, hôn trầm, trạo
cử và nghi ngờ. Vì những chướng ngại trên, cái nhìn của
chúng ta bị cản trở cho nên chúng ta không hình dung được tái
sanh. Giống như gương không phản ảnh được hình bóng vì
bị bụi bậm che phủ, tâm ý bị che ám không cho phép hầu
hết mọi người nhớ lại tiền kiếp của mình. Ban ngày chúng
ta không nhìn thấy các vì sao, không phải là vì chúng không có
trong bầu trời, nhưng vì bị ánh sáng của mặt trời chói nhòa.
Giống như vậy, chúng ta không nhớ được tiền kiếp vì tâm
của chúng ta hiện tại lúc nào cũng nặng chĩu với bao suy tư,
bao biến chuyển ngày lại ngày, và bao hoàn cảnh phàm tục.
Nhận định được
sự ngắn ngủi của kiếp sống chúng ta trên thế gian này giúp
ta phản ảnh được tái sanh. Nếu chúng ta chiêm nghiệm đời
sống, mục tiêu và ý nghĩa tối hậu của nó, và tất cả
những kinh nghiệm đủ loại mà con người có thể trải qua,
phải kết luận rằng chỉ trong một kiếp sống, chúng ta không
có đủ thì giờ để hoàn thành những gì mà con người
phải làm theo bản năng thiên nhiên, chưa nói đến những ham
thích mà người đó muốn làm. Mức độ của kinh nghi?m thật
là to lớn. Có rất nhiều nhiều năng lực khác nhau tiềm ẩn
nơi con người mà chúng ta nhìn thấy và phát triển khi có cơ
hội. Nhất là ngày nay điều đó rất đúng nếu tiến hành
một cuộc điều tra đặc biệt. Chúng ta tìm thấy nơi chúng
ta những hoài bão to lớn, nhưng không có thì giờ để đạt
được chúng. Trong lúc đó, đoàn quân hùng vĩ của đam mê và
khao khát, ích kỷ và dục vọng, hoành hành nơi chúng ta và
với những người khác. Những sức mạnh ấy nối tiếp nhau
theo ta cho đến lúc chết. Tất cả những sức mạnh ấy
phải được chế ngự, khuất phục, và sử dụng. Một kiếp
sống thật ngắn ngủi không đủ cho ta làm hết được các
điều đó.
Học thuyết tái sanh
trong Phật giáo khác biệt giáo lý về chuyển kiếp và đầu
thai của các tôn giáo khác. Đạo Phật bác bỏ sự hiện
hữu trường cửu của một linh hồn do thánh thần tạo nên
hay một thực thể không thay đổi được chuyển từ kiếp này
đến kiếp khác.Tương tự như một cá nhân có thể đưọc
tạo ra do nhân duyên chứ không do một bản ngã hay linh hồn,
thì tái sanh có thể bắt nguồn từ cái chết mà không cần có
một linh hồn chuyển tiếp. Suốt một kiếp sống, cứ mỗi
một chập tư tưởng lóe lên rồi tắt đi, nó tạo sự sanh
khởi cho một chập tư tưởng kế tiếp bằng chính sự hoại
diệt của nó. Nói một cách chính xác sự trỗi lên và mất
đi của một tư tưỏng là sanh và tử. Cho nên trong một
kiếp người, chúng ta có hằng hà sa số sanh và tử trong
mỗi giây. Nhưng vì tiến trình tâm ý tiếp tục với sự hỗ
trợ của một thân xác vật lý nên chúng ta coi luồng tiếp
nối của thân tâm như sự hình thành một kiếp sống.
Cái mà chúng ta thường
hiểu về cái chết là sự ngưng hoạt động của các chức năng
sống còn của thân xác. Khi xác thân mất sinh lực, nó không
còn có thể hỗ trợ được dòng tâm thức là mặt tinh thần
của tiến trình. Nhưng chừng nào nó còn có một sự bám níu
vào đời sống, còn lòng ham muốn được sống còn thì dòng
tâm thức sẽ không ngừng với xác thân đã chết. Khi cái
chết đến, khi xác thân hoại diệt, dòng tâm thức khao khát
muốn sống còn lại gá vào một xác thân mới xuất hiện qua
sự gặp gỡ của tinh trùng và trứng. Cho nên, tái sanh xuất
hiện ngay sau khi chết. Dòng suối ký ức có thể bị gián đoạn
và nhân dạng được chuyển hóa sang tình trạng mới, nhưng
tất cả những tích lữy về kinh nghiệm và tính khí được
truyền trao sang cho thai nhi, và chu kỳ của sự tái sanh lại
bắt đầu quay một vòng khác.
Với Phật Giáo, chết
không có nghĩa là đi vào cuộc sống trường cửu hay một
sự đoạn diệt hoàn toàn. Đúng hơn chết là cửa ngõ của tái
sanh mới tiếp nối lớn lên, suy tàn rồi chết.
Vào giây phút cuối cùng,
chức năng tái tạo của thể xác không còn hoạt động được
trong tâm của một người đang chết. Giống như người tài
xế nhả ga trước khi ngưng, cho nên động lực không còn
chuyển đến máy. Tuơng tự như vậy, những đạc tính về
vật chất của Nghiệp không còn sanh khởi nữa.
Người Phật tử không
xác nhận kiếp sống hiện tại là kiếp sống duy nhất giữa
hai cái vô tận của thống khổ và hạnh phúc và cũng chẳng
tin là các thiên thần sẽ mang họ đến thiên đường để
họ sống bất diệt tại đó. Người Phật tử tin rằng
kiếp hiện tại chỉ là một trong nhiều vô số kiếp, và
một kiếp sống trên cõi nhân gian này chỉ là một giai đoạn
của nhiều đoạn khác mà thôi. Họ tin rằng tất cả chúng
sanh sẽ tái sanh đâu đó trong một thời gian khi mà ác
nghiệp hay thiện nghiệp vẫn còn trong tiềm thức, trong dạng
thức của năng lượng tâm linh. Sự giải thích về tiềm
thức trong phạm vi Phật Giáo không phải là loại tiềm thức
giải thích bởi các nhà tâm lý học hiện đại vì các ý
niệm trên không đồng nghĩa hoàn toàn.
Cái gì là nguyên nhân
của tái sanh? Đức Phật dạy rằng vô minh sanh tham dục.
Tham dục không được toại nguyện là nguyên nhân của tái
sanh. Khi tất cả tham dục bất-toại-nguyện bị dập
tắt, tái sanh không còn phát sanh. Muốn dập tắt tham dục,
cần thiết phải phá vỡ vô minh. Khi vô minh bị phá vỡ, ta
sẽ nhận ra được sự vô ích của mỗi lần tái sanh, như
thế đồng thời cũng tự ý thức được sự tối cần
thiết phải áp dụng một nếp sống như thế nào để có
thể triệt tiêu được hẳn lòng ham muốn tái sanh kia.
Vô minh cũng mang ý tưởng
viển vông và phi lý là mỗi người chỉ có một kiếp sống
mà thôi và còn có ảo tưởng khác nữa là kiếp sống này
của con người sẽ được theo sau bằng những cảnh giới
của lạc thú bất diệt hoặc cảnh giới đọa đầy vĩnh
viễn.
Đức Phật dạy rằng
vô minh sẽ bị xua tan và đau khổ sẽ chấm dứt khi ta hiểu
rõ Tứ Diệu Đế, và không bằng bất cứ con đường nào khác.
Muốn diệt vô minh, ta phải kiên trì thực hành hạnh vị tha
đến mọi loài, phát triển thông minh và trí tuệ. Ta phải
tận trừ dục lạc cá nhân thấp hèn và ham muốn vị kỷ.
Tái sanh diễn ra như
thế nào? Khi xác thân vật chất không còn đủ sức để
hoạt động, các năng lực không chết theo với nó nhưng
tiếp tục dưới hình thức nào đó mà ta gọi là kiếp khác.
Nghiệp lực tự nó biểu hiện trong hình thái một con người
hay trong hình thái một con vật. Trường hợp sau có thể xảy
ra nếu một người không có duyên để phát triển những
nghiệp-lực tích lữy của mình. Lực đó gọi là chấp thủ,
ái dục, tác ý, tham sống, chưa chấm dứt cùng với cái xác
thân không còn hoạt động, nhưng vẫn tiếp tục biểu hiện
dưới một hình thái khác, tạo ra một sự sống mới gọi là
tái sanh.
Ngày nay ở nhiều nước
khác nhau, có nhiều người tự nhiên nhớ được tiền kiếp
của họ. Những kinh nghiệm của những người này được
nghiên cứu cẩn thận trong các tài liệu, báo chí, tập san.
Một số trong những người này trước đây không bao giờ
chấp nhận tái sanh cho đến khi họ nhớ rải rác được
kiếp trước của họ, họ mới công nhận. Nhiều những tin
tức về kiếp trước của họ được điều tra và công
nhận là đúng.
Bằng thôi miên, một
số người đi đến kết quả biết tin tức về những kiếp
trước. Một số trạng thái thôi miên đi sâu vào tiềm thức
khiến có thể nhớ lại tiền kiếp.
Chuỗi dài của tái
sanh trở thành một diễn tiến tự nhiên, không phải được
tạo ra bởi một tôn giáo đặc biệt nào hay bởi một thánh
thần nào. Tin hay không tin tái sanh cũng không làm sai biệt gì
đến tiến trình hay tránh được tái sanh. Tái sanh phát sanh
chừng nào mà con người còn tham sống, ái dục, và luyến
chấp còn hiện hữu trong tâm. Năng lực tâm linh mạnh mẽ đó
chiếm ưu thế nơi mỗi chúng sanh trong vũ trụ. Những ai hy
vọng và cầu nguyện khỏi tái sanh, phải hiểu là lời mong
mỏi không thể thực hiện được cho đến khi nào họ nỗ
lực nhổ tất cả gốc rễ của tham ái và luyến chấp. Nhìn
thấy và chứng nghiệm sự bấp bênh và bất toại nguyện
của đời sống trong thân phận nhân gian, người trí tự mình
tìm cách tránh khỏi vòng sanh tử, tử sanh bằng cách thực hành
chánh đạo. Những ai không chịu giảm thiểu tham ái, và
luyến chấp, nhất định phải đương đầu với tất cả tình
trạng bất-toại-nguyện và bấp bênh gắn liền với tái sanh
và tái sanh cứ tiếp diễn.
TÁI SANH CÓ ĐỒNG THỜI KHÔNG?
Một điều khó hiểu
về tái sanh là sự phát xuất tái sanh có tức khắc đồng
thời hay không. Đó là một vấn đề gây nhiều tranh luận
cả đến các nhà học giả Phật Tử ưu tú. Theo Vi Diệu Pháp,
tái sanh (sự thụ thai) phát xuất liền ngay sau cái chết của
một chúng sanh không có giai đoạn chuyển tiếp. Một số người
lại tin tưởng rằng sau khi chết thần thức còn ở lại
một số ngày trước khi tái sanh. Một cách lý giải khác về
tín ngưỡng này không phải thần thức mà là tâm thức hay năng
lực tinh thần của người chết của tham ái và luyến chấp
còn ở lại trong không gian hỗ trợ bởi năng lượng tham ái
và luyến chấp của người đó. Tuy nhiên sớm hay muộn gì thì
tái sanh cũng vẫn phát xuất. Những hồn ma tức các chúng
sanh sinh trong hình tướng ma quỷ là những chúng sanh vô phước,
và kiếp sống của họ dưới hình thái này cũng không vĩnh
viễn. Đó cũng chỉ là một dạng thức tái sanh tạm thời.
Một quan niệm khác mà
nhiều người không hiểu là trong tiến trình tái sanh, con người
có thể tái sanh thành con vật và con vật có thể tái sanh thành
con người. Thú tính trong tâm của một người, và lối sống
như con vật áp của người đó có thể khiến người đó tái
sanh thành con vật. Hoàn cảnh và hạnh kiểm tinh thần là
yếu tố trách nhiệm cho kiếp sau. Mặt khác, một người thác
sanh thành thú do những bất thiện tâm ở kiếp trước, có
thể tái sanh trở lại thành người, nếu con vật ấy không
phạm tội ác nghiêm trọng nào. Dữ kiện cho thấy một số
con vật rất thông minh và hiểu biết. Đó là bằng chứng rõ
ràng con vật này có khả năng tái sanh thành người. Một người
sanh thành con vật vẫn có thể trở lại kiếp người, khi
bất thiện nghiệp khiến người đó sanh thành con vật đã
cạn và thiện nghiệp tích lữy chiếm ưu thế.
LÚC SẮP CHẾT
Trong tâm thức của người
sắp chết, có ba dạng dòng thức hoạt động: dòng thức liên-hệ-tái-sanh,
dòng thức thụ động hay dòng thức liên tục của sự sống
tiếp diễn (dòng hộ kiếp), và dòng tử thức (thức gián đoạn
với kiếp sống hiện tại). Trong giây phút cuối cùng của
kiếp sống hiện tại của một con người, dòng thức liên-hệ-tái-sanh
trỗi lên với ba dấu hiệu làm đối tượng. Thúc tái sanh lưu
lại ở tâm nhận thức chỉ trong năm chập tư tưởng mờ
nhạt và rồi lại chìm vào dòng hộ kiếp. Đến lúc cuối cùng
của dòng hộ kiếp thì tử thức trỗi lên, cắt đứt liên
hệ với sự sống hiện tại và lại chìm vào dòng hộ
kiếp. Ngay đây là lúc cuộc đời hiện tại chấm dứt. Vào
giây phút cuối cùng của dòng hộ kiếp, thức tái sanh trỗi
lên cho đời sống kế tiếp và ngay lúc này đây kiếp sống
mới bắt đầu. Trên đây là tiến trình của tử và tái sanh
theo Phật Giáo và chỉ trong Phật Giáo mới có sự giải thích
cặn kẽ về những hiện tượng thiên nhiên ấy.
Đối đầu với cái
chết, người Phật Tử không sợ chết mà chỉ coi chết như
một biến cố bình thường vì hiểu rằng bất cứ ai sanh ra
cũng phải chịu khổ đau, "suy tàn", và cuối cùng
phải chết. Hay như người nào đó nói một cách thích hơn
rằng: "Mỗi người sanh ra là đã mang ngay giấy khai tử
khi lọt lòng". Nếu tất cả chúng ta nhìn cái chết với
đuờng lối trí tuệ và hữu lý như vậy chúng ta không nên bám
chặt vào đời sống như trước nữa.
"Đây là lần
sanh cuối cùng của ta và ta sẽ không còn tái sanh nữa"
(Kinh Chuyển Pháp Luân)
NIẾT BÀN
Niết Bàn là hạnh phúc
tối thượng, một trạng thái siêu thế của hạnh phúc bất
diệt. Hạnh Phúc Niết Bàn không thể chứng nghiệm được
bằng cách thỏa mãn các giác quan mà là làm cho chúng lắng
xuống.
Niết Bàn là mục tiêu
cuối cùng của Phật Giáo. Vậy Niết Bàn là gì? Biết thực
sự Niết Bàn là gì thì khó; còn biết cái gì không phải là
Niết Bàn thì tương đối dễ hơn.
Niết Bàn không phải
là hư vô hay sự dập tắt. Phải chăng Đức Phật bỏ gia đình,
vương quốc và hoằng pháp trong 45 năm - tất cả là cho hư vô?
Niết Bản không phải
là thiên đường. Một vài thế kỷ sau khi Đức Phật nhập
diệt, một số giáo phái Phật Giáo bắt đầu trình bày
Niết Bàn như một thiên đường. Mục đích xem Niết Bàn
ngang với một cảnh giới thần tiên là mong thuyết phục
những đầu óc kém hiểu biết và để lôi cuốn những người
này vào giáo phái của họ. Phấn đấu đến Niết Bàn thành
ra có nghĩa là tìm một nơi thích thú mà mọi thứ đều đẹp
đẽ, và mọi người đều hạnh phúc đời đời. Đây có
thể là một mẩu truyện dân gian bình dị mà thôi chứ không
phải là Niết Bàn mà Đức Phật chứng nghiệm và tiến
dẫn. Lúc Đức Phật còn tại thế, Ngài không phủ nhận ý
kiến về thiên đuờng như các tôn giáo sơ khai Ấn trình bày.
Nhưng Ngài biết rằng thiên đuờng này vẫn nằm trong vòng luân
hồi và sự giải thoát cuối cùng phải vượt qua phạm vi luân
hồi. Đức Phật có thể nhìn thấy là Con Đường dẫn đến
Niết Bàn vượt trên mọi thiên đàng.
Nếu Niết Bàn không
phải là một nơi chốn, vậy Niết Bàn ở đâu? Niết Bàn
hiện hữu cũng giống như lửa hiện hữu. Không có chốn nào
chứa sẵn lửa, hoặc chứa sẵn Niết Bàn. Nhưng khi bạn cọ
sát hai miếng đá vào nhau, sự cọ sát tạo điều kiện cho
lửa phát sanh. Cũng giống như vậy, khi bản chất trong tâm
con người thoát khỏi mọi ô nhiễm thì hạnh phúc Niết Bàn
xuất hiện.
Bạn có thể chứng
nghiệm Niết Bàn. Chỉ cho đến khi bạn chứng nghiệm trạng
thái hạnh phúc Niết Bàn tối thượng, bạn mới có thể
thực sự biết Niết Bàn ra sao. Với những ai đặt nặng
vấn đề lý thuyết, kinh điển có thể giúp phần nào. Kinh
điển gợi ý Niết Bàn là trạng thái siêu thế của hạnh phúc
thuần khiết.
Niết Bàn, tự nó hoàn
toàn không thể giải thích được và không thể định nghĩa
được. Như bóng tối chỉ có thể giải nghĩa bằng đối đãi
của nó là ánh sáng, cũng như tĩnh lặng chỉ có thể giải
thích bằng đối đãi của nó là động, cũng vậy Niết Bàn,
trạng thái dập tắt hết khổ đau có thể giải thích bằng
đối đãi của nó là đau khổ triền miên trong vòng luân
hồi. Bóng tối lan tràn khi không có ánh sáng, tĩnh lặng lan
tràn khi không có động, cũng giống như vậy, Niết Bàn hiện
hữu mọi nơi khi đau khổ, thay đổi và bất tịnh không có
mặt.
Kẻ bị đau gãi vết
thương có thể thấy đỡ đau. Sự giảm đau tạm thời này làm
vết thương trầm trọng thêm và khiến bệnh càng ngày càng
nặng. Niềm vui được chữa lành bệnh khó có thể so sánh
với cảm giác giảm đau ngắn ngủi nhờ gãi vết thương.
Giống như vậy, thỏa mãn tham ái về dục lạc chỉ mang lại
thỏa thích hoặc vui thú tạm bợ khiến phải chịu ở dài lâu
thêm trong cõi luân hồi. Chữa khỏi bệnh luân hồi là Niết
Bàn. Niết Bàn chấm dứt những bám níu gây ra mọi khổ đau
của sanh, già, bệnh chết, phiền não, oán than và thất
vọng. Niềm vui được lành bệnh của Niết Bàn khó có thể
so sánh với lạc thú tạm bợ qua thỏa mãn dục lạc của cõi
luân hồi.
Rất nguy hiểm nếu
phiếm bàn về Niết Bàn; điều tốt hơn là làm sao sửa
soạn các điều kiện c?n thiết cho Niết Bàn, làm sao đạt
được an lạc nội tâm, và có một cái nhìn sáng suốt dẫn
đến Niết Bàn. Hãy theo lời khuyên của Đức Phật: đem giáo
lý của Ngài vào sự thực hành. Hãy nhổ bỏ tất cả những
ô nhiễm mọc rễ từ tham, sân si. Hãy tự thanh lọc hết các
tham ái và thực thi lòng vị tha tuyệt đối (vô ngã). Sống
một cuộc đời đạo hạnh và thuờng xuyên tu tập thiền định.
Tinh tấn tu hành sẽ giải thoát khỏi tất cả vị kỷ và
ảo tưởng. Rồi Niết Bàn sẽ được đạt và được
chứng.
NIẾT BÀN VÀ LUÂN
HỒI
Một luận sư Đại
Thừa nổi tiếng là Ngài Long Thọ cho rằng Luân Hồi và
Niết Bàn là một. Sự giải thích này có thể làm cho một
số người hiểu nhầm. Tuy nhiên cho rằng quan điểm về Luân
Hồi và Niết Bàn giống nhau có nghĩa là không có gì khác
biệt giữa tánh không của các sự vật duyên hợp và
trạng thái vô điều kiện của Niết Bàn. Theo Kinh Điển
bằng tiếng Pali, Luân Hồi được miêu tả là một sự tiếp
nối không ngừng của năm uẩn, bốn thành phần (đất nước
gió lửa) và 12 nguồn gốc căn bản của tiến trình tâm linh
(Thập Nhị Nhân Duyên) trong khi Niết Bàn được miêu tả là
sự dập tắt của tất cả những dòng tương quan về vật
chất và tâm linh trên.
Tuy nhiên người ta đã
thừa nhận rằng những ai đã đạt hạnh phúc Niết Bàn, có
thể kinh nghiệm lại trạng thái này thấy trong suốt cuộc
sống của họ ở cõi Luân Hồi. Trong bất cứ trường hợp nào,
sau khi chết sự liên hệ với các thành phần trên đều bị
loại hẳn, đơn giản vì Niết Bàn vô điều kiện, không liên
hệ hay phụ thuộc lẫn nhau. Nếu còn có một điều gì sau
Niết Bàn thì điều đó phải là "Chân Lý Tối Thượng".
Bạn phải tập tách
rời khỏi tất cả sự vật phàm trần. Nếu còn luyến chấp
vào một ai hay một một việc gì, hay nếu còn một ác cảm
với ai hay một việc gì, thì bạn không bao giờ có thể đạt
được Niết Bàn, với Niết Bàn là phải vượt qua tất cả
những đối đãi của luyến chấp và ác cảm, giữa ưa và ghét.
Khi đạt được
trạng thái rốt ráo đó, Bạn sẽ thông suốt tường tận đời
sống trần thế mà giờ đây bạn đang bám níu vào. Thế gian
này không còn là đối tượng cho sự tham đắm của bạn
nữa. Bạn sẽ nhận ra tính phiền não, vô thường và vô ngã
của tất cả tất cả chúng sanh đang sống và không đang
sống. Chỉ dựa vào các vị thầy và các kinh sách mà không
tự mình cố gắng trong chánh pháp thì rất khó mà đạt được
Niết Bàn. Những mộng mơ của bạn sẽ tan biến và chẳng còn
xây lâu đài trong không khí nữa. Giông tố chấm dứt. Sẽ không
còn tranh đấu cho cuộc sống nữa. Tiến trình thiên nhiên
sẽ ngừng lại. Tất cả những phiền não, đau khổ, trách
nhiệm, rối rắm, gánh nặng, những khó chịu về vật chất
và tinh thần, và tất cả những cảm xúc đều tiêu tan sau
khi đạt hạnh phúc tối thượng Niết Bàn.
Nói Niết Bàn là hư vô
chỉ vì ta không cảm nhận được nó bằng năm giác quan, thì
cũng phi lý như nói rằng ánh sáng không hiện hữu chỉ vì người
mù không thấy được nó.
Niết Bàn có thể đạt
được ngay trong kiếp sống hiện tại này. Phật Giáo không nói
là mục đích tối thượng này chỉ đạt được sau khi qua đời.
Khi Niết Bàn đạt được trong hiện tại với xác thân còn
sống được gọi là Sopadisesa Niết Bàn (Hữu-dư Niết Bàn) .
Khi một Vị A La Hán đạt Pari Niết Bàn, sau khi xác thân không
còn nữa, không còn phần nào còn lại của sự hiện hữu
vật chất, được gọi là Anupadisesa Niết Bàn (Vô dư Niết Bàn).
LÝ NHÂN DUYÊN
"Không có Thượng
đế, hay Phạm Thiên nào
Không có gì trong bánh xe của sự sống này
Mà chỉ là những hiện tượng vần xoay
Tùy thuộc vào điều kiện tất cả". (Thanh Tịnh Đạo)
Định luật về Lý Nhân
Duyên là một trong những giáo lý quan trọng nhất và rất thâm
sâu của Đức Phật. Đức Phật thưòng diễn tả kinh nghiệm
về sự giác ngộ của Ngài là bằng một trong hai cách, hoặc
thấu hiểu Tứ Diệu Đ? hoặc thấu hiểu Lý Nhân Duyên. Tuy
nhiên đa số thường đưọc nghe về Tứ Diệu Đế và có
thể luận bàn về Tứ Diệu Đế hơn Lý Nhân Duyên mà sự
quan trọng cũng không kém.
Dù tuệ giác xuyên
được Lý Nhân Duyên sanh khởi cùng với sự viên mãn về trí
tuệ, nhưng chúng ta cũng vẫn có thể hiểu nguyên tắc của nó.
Căn bản của Lý Nhân Duyên là đời sống hay thế giới này
tạo thành là do một chuỗi tương quan liên hệ, trong đó sự
sanh khởi và hoại diệt của các yếu tố tùy thuộc một
số yếu tố khác làm điều kiện cho chúng. Nguyên tắc này có
thể tóm tắt trong một công thức ngắn bốn dòng:
Khi cái này hiện
hữu cái kia hiện hữu
Cái này đang sanh, cái kia cũng sanh,
Khi cái này không có, cái kia không có
Cái này đang ngưng, cái kia cũng ngưng
Sự sanh, trụ và
diệt của mọi hiện hữu đều dựa trên nguyên tắc của
sự phụ thuộc và tương quan lẫn nhau. Nguyên tắc này được
gọi là Lý Nhân Duyên hay Paticcasamuppada tiếng Pali. Luật này
nhấn mạnh một nguyên tắc quan trọng là tất cả hiện tượng
trong vũ trụ này đều ở trạng thái liên hệ, phụ thuộc
lẫn nhau không sanh khởi, độc lập với những điều kiện
hỗ trợ. Một hiện tượng sanh khởi vì hội đủ những điều
kiện để hỗ trợ sự sanh khởi ấy. Và một hiện tượng
chấm dứt khi các điều kiện và thành phần cấu tạo hỗ
trợ sự sanh khởi của nó đã thay đổi và không hỗ trợ nó
nữa. Sự có mặt của các điều kiện hỗ trợ này cũng
lại tùy thuộc vào các yếu tố khác để sanh khởi, trụ dưỡng
và hoại diệt.
Lý Nhân Duyên là cách
hiểu biết thực tiễn về vũ trụ và lý thuyết này tương
đồng với Thuyết Tương Đối của Bác Học Einstein. Sự
kiện là mọi vật chẳng qua là một tập hợp của những tương
quan rất phù hợp với quan điểm khoa học tiên tiến của
thế giới vật chất. Vì mọi vật đều do điều kiện, tương
quan, và phụ thuộc lẫn nhau nên không có một cái gì trong
thế giới này được coi như một thực thể trường cửu, khác
nhau được xem là một Ngã hay một linh hồn bất diệt mà
nhiều người tin tưởng.
Thế giới hiện tượng
được tạo thành do một chuỗi tương quan, nhưng có phải đó
là cách chúng ta thường hiểu thế giới là như vậy không? Vì
tham ái chúng ta tạo những giả tưởng về sự thường còn
trong tâm. Hầu như rất là bình thường cho con người bám níu
vào cái mà họ cho là đẹp đẽ hay đáng ưa, và vất bỏ đi
cái gì xấu xa hay không ưa thích. Bị chi phối bởi sức
mạnh của lòng tham và sân hận, họ bị lạc hướng bởi si
mê, mờ mịt, bởi ảo tưởng về sự thường còn của
những cái mà họ bám níu hay vất bỏ. Cho nên, chúng ta khó có
thể hiểu rằng thế giới chỉ là bóng nước hay ảo ảnh và
không phải là một loại thực thể mà ta hằng tin như vậy.
Chúng ta không hiểu thế giới thật ra là không thật. Nó
giống như một trái cầu lửa khi được xoay tít chung quanh,
trong một thời gian có thể tạo ra một ảo ảnh của một vòng
tròn.
Nguyên tắc căn bản
trong Lý Duyên Khởi là nguyên tắc về nhân và kết quả.
Trong Lý Nhân Duyên, cái gì diễn ra trong tiến trình nhân quả
được miêu tả cặn kẽ. Để sáng tỏ bản chất nhân duyên
của mọi sự vật chung quanh chúng ta, chúng ta lấy thí dụ
một đèn dầu. Ngọn lửa của đèn dầu cháy do dầu và tim
(bấc) đèn. Khi dầu và tim đèn hiện hữu, đèn cháy. Nếu
một trong những thứ đó không có, đèn tắt. Thí dụ trên đây
cho thấy rõ nguyên tắc của Lý Nhân Duyên giống như ngọn
lửa của cây đèn dầu. Một thí dụ khác về một cái cây,
cây mọc lên tùy thuộc vào hạt giống, đất, nước ẩm đọng,
không khí và ánh sáng mặt trời. Tất cả những hiện tượng
ấy phát sanh tùy thuộc một số yếu tố nhân quả, không
tự tác. Đó là nguyên tắc của Lý Nhân Duyên.
Trong Giáo Pháp, chúng
ta muốn biết Lý Nhân Duyên áp dụng ra sao trong vấn đề
khổ đau và tái sanh. Bằng đường lối nào Lý Nhân Duyên có
thể giải thích tại sao chúng ta cứ luân hồi, khổ đau và làm
sao chúng ta thoát khỏi khổ đau. Không có nghĩa là ta phải miêu
tả nguồn gốc hay sự tiến hóa của vũ trụ. Cho nên ta không
nên nhầm lẫn cho rằng vô minh, yếu tố thứ nhất nêu trong
Lý Nhân Duyên là nguyên nhân đầu tiên. Vì mọi sự vật phát
sanh do những nguyên nhân đã có từ trước nên không thể có
nguyên nhân đầu tiên.
Theo định Luật của
Lý Nhân Duyên, có mười hai yếu tố giải thích cho sự liên
tục hiện hữu, hết sanh này đến sanh khác. Những yếu tố
đó là:
1. Do Vô minh duyên
sinh Hành (những hành động thuộc ý chí hay Nghiệp)
2. Do Hành duyên sinh Thức
3. Do Thức duyên sinh Danh Sắc (hiện tượng tâm linh và vật
chất)
4. Do Danh Sắc duyên sinh Lục Nhập (năm giác quan và tâm ý)
5. Do Lục Nhập duyên sinh Xúc
6. Do Xúc duyên sinh Thọ
7. Do Thọ duyên sinh Ái
8. Do Ái duyên sinh Thủ
9. Do Thủ duyên sinh Hữu
10.Do tiến trình của Hữu duyên sinh Sanh
11. Do Sanh có Lão, Tử, Não, Bi, Khổ, Ưu và Thất Vọng.
Trên đây cho thấy
sự sống phát sanh, hiện hữu và tiếp nối ra sao, và khổ đau
sanh khởi như thế nào. Có thế hiểu rằng các nhân tố đó
nối tiếp trải dài trong quãng thời gian của ba kiếp sống:
quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong Lý Nhân Duyên, Vô minh và
Hành thuộc quá khứ, và tượng trưng những điều kiện
chịu trách nhiệm việc sẩy ra cho kiếp hiện tại. Những
yếu tố theo sau là Thức, Danh Sắc, Lục Căn, Xúc, Thọ, Ái,
Thủ, Hữu là những yếu tố thuộc kiếp sống hiện tại.
Hai yếu tố còn lại là Sanh, và Lão Tử thuộc kiếp vị lai.
Trong định luật này,
yếu tố thứ nhất Vô minh duyên sinh Hành (hay Nghiệp). Vô
minh có nghĩa là không biết hay không hiểu bản chất thực
sự sự hiện hữu của chúng ta. Do Vô minh, hành động thiện
hay ác được tạo tác đưa con người đến tái sanh. Tái sanh
có thể diễn ra trong nhiều cảnh giới khác nhau: nhân giới,
thiên giới hay cõi cao hơn (phạm thiên), hoặc trong những
khổ cảnh tùy theo nghiệp quả của từng người. Khi lâm
chung, hành nghiệp của một người tạo điều kiện sanh
khởi cho Thức, trong trường hợp này Thức tái sanh được phát
xuất như tia sáng đầu tiên của kiếp sống mới trong tiến
trình của sự trở thành.
Một khi kiếp sanh
Thức có mặt, sự sống lại bắt đầu. Tùy thuộc vào
Thức, Danh (Tâm) và Sắc (Vật) sanh khởi, một chúng sinh mới
ra đời. Vì có Tâm và Vật, sáu giác quan phát sanh (giác quan
thứ sáu là tâm ). Sáu giác quan sinh Xúc. Xúc với cái gì? Xúc
với sắc, âm thanh, mùi, vị, những vật rờ đụng được, và
những đối tượng của tâm.
Sắc, âm thanh, mùi,
vị, vật rờ đụng được, và đối tượng của tâm có
thể đẹp đẽ, thích thú và hấp dẫn. Mặt khác, chúng cũng
có thể xấu xa và không vừa ý. Cho nên tùy thuộc vào Xúc,
cảm giác phát sanh: cảm thọ thích thú hay không thích thú,
hay dửng dưng. Do những cảm thọ này mà quy luật của tham và
sân bắt đầu hoạt động. Chúng sanh theo tự nhiên bị thu hút
bởi những gì thích thú và ghét bỏ những gì không thích thú.
Do kết quả của Thọ, Ái Dục phát sanh. Kẻ tham dục và khao
khát các hình thức đẹp đẽ và hấp dẫn, âm thanh hay và
quyến rữ, mùi, vị, va chạm, và các vật mà tâm cho là mỹ
miều và lôi cuốn. Từ những Ái Dục này, kẻ đó phát
triển mạnh mẽ lòng ham thích những gì thích thú và chán ghét
những gì cho là không thích thú. Bây giờ vì sự bám níu và
luyến chấp này tạo điều kiện cho kiếp sống kế tiếp và
Hữu phát sanh. Nói một cách khác, tiến trình củaTrở Thành
được điều động bởi sự Bám Níu.
Mắt xích kế tiếp
trong chuỗi Lý Nhân Duyên là Hữu tạo điều kiện cho Sanh phát
xuất. Và cuối cùng, tùy thuộc vào Sanh mà có Lão và Tử cùng
với phiền muộn, than van, đau đớn, ưu sầu, và thất vọng.
Tiến trình này sẽ ngưng
nếu công thức đổi chiều ngược lại: Do Vô minh bị tận
diệt (qua huân tập của tuệ giác), Hành hay nghiệp kết thúc;
do Hành kết thúc thì Thức kết thúc, ... do Sanh chấm dúứ thì
các yếu tố khác như già, bệnh chết, phiền não vân vân.. cũng
chấm dứt. Cho nên, ta có thể thoát khỏi vòng tái sanh
bằng cách tận diệt Vô minh.
Xin nhắc lại điều
đã nêu trên, thuyết Thập Nhị nhân Duyên chỉ giải thích
tiến trình của Sanh và Tử, và không là một thuyết tiến hóa
của thế giới. Thuyết chỉ đề cập về Nguyên Nhân của Tái
sanh và Khổ đau, và không nhằm trình bầy Nguồn Gốc tuyệt
đối của đời sống. Trong Lý Nhân Duyên, Vô minh là sự không
thấu hiểu Tứ Diệu Đế. Rất là quan trọng cho chúng ta
thấu hiểu Tứ Diệu Đế vì chính là sự không hiểu (vô
minh) những chân lý ấy mà chúng ta đã phải trôi lăn mãi
trong vòng sanh tử.
Trong lúc giảng cho Ngài
A Nan, Đức Phật dạy: Cũng chỉ vì không nhận thức được
Lý Nhân Duyên, cho nên chúng sanh giống như bị vương mắc vào
một cuộn bông sợi không thể nhìn thấy chân lý, và lúc nào
cũng đau đớn bởi phiền não - thường sanh vào hoàn cảnh
buồn thảm, thê lương, bối rối và đau khổ triền miên.
Họ cũng không làm sao tự tháo gỡ để thoát ra ngoài được.
THƯỜNG KIẾN VÀ ĐOẠN
KIẾN
Đức Phật bác bỏ
cả hai cực đoan của thuyết bất diệt (thường kiến) và hư
vô (đoạn kiến).
Để trau dồi Chánh
Kiến hay sự hiểu biết toàn bích, trước nhất chúng ta
phải để ý đến hai quan điểm được coi là khiếm khuyết
hay sai lầm.
Quan điểm đầu tiên
là thuyết bất diệt, thuyết này liên quan với niềm tin về
đời sống bất diệt hay sự vật bất diệt. Trước thời Đức
Phật, dân chúng thường được dạy rằng có một thực thể
tồn tại trường cửu, và con người có thể sống mãi mãi,
bằng cách gìn giữ linh hồn bất diệt để có thể nhập
với Đức Tối Thượng. Trong Đạo Phật, giáo lý này được
gọi là sassara ditthi - quan điểm của những người chủ trương
có sự bất diệt. Những quan đi?m này vẫn hiện hữu trong
thế giới tiên tiến ngày nay do lòng bám níu của con người
vào sự bất diệt.
Tại sao Đức Phật
chối bỏ không dạy giáo lý về bất diệt? Vì khi chúng ta
hiểu được sự vật trên cõi đời này thực sự ra sao, chúng
ta không thể tìm thấy một thứ gì thường còn hay hiện
hữu mãi mãi. Mọi sự đều thay đổi và tiếp tục thay đổi
theo những điều kiện thay đổi mà chúng tùy thuộc vào. Khi
chúng ta phân tích sự vật ra từng thành phần hay cho ra từng
thực thể, chúng ta không thể tìm thấy một thực thể nào
tồn tại vĩnh viễn, không có một vật gì hiện hữu trường
cửu. Do đó tại sao quan điểm về bất diệt được coi như
sai lầm hay giả dối.
Quan điểm sai lầm
thứ hai là thuyết đoạn kiến, quan điểm của những người
theo chủ thuyết hư vô cho rằng không có đời sống sau khi
chết. Quan điểm này thuộc triết lý duy vật chổi bỏ kiến
thức về điều kiện tâm linh. Triết lý duy vật chỉ hiểu
một phần của đời sống. Hư vô chủ nghĩa không chú ý đến
về mặt tâm linh của đời sống. Nếu cho rằng khi chết, đời
sống chấm dứt và không còn trở lại nữa, thì người đó
bác bỏ sự liên tục của những điều kiện tâm linh. Khi chúng
ta hiểu điều kiện tinh thần và vật chất, chúng ta không
thể nói rằng không có đời sống sau khi chết và không còn
gì nữa sau khi chết. Thuyết hư vô về cuộc sống được coi
như sai vì nó căn cứ vào sự thiếu hiểu biết về sự
thật. Bởi vậy Đức Phật đã bác bỏ thuyết hư vô. Giáo lý
về Nghiệp thừa đủ để chứng tỏ Đức Phật không dạy
thuyết hư vô sau khi chết; Đạo Phật chấp nhận "thần
thức" không có nghĩa là một linh hồn bất diệt, nhưng
trong ý nghĩa sự tái sanh .
Suốt trong thời gian
hoằng pháp dài cho các đệ tử, Đức Phật cực lực không tán
đồng các lập luận có tính cách ức đoán. Vào thế kỷ
thứ 5 trước Tây Nguyên Ấn là nơi hoạt động trí thức
cực thịnh, những nhà học giả, du dà, triết học, vua chúa
và cả đến những người bình thưòng cũng tham gia vào các
cuộc tranh luận triết lý về cuộc sống của con người.
Một số những người đó có những lý luận nực cưòi vô
giá trị và hoàn toàn không thích đáng. Một số người đã
lãng phí thời gian để tranh luận về mọi vấn đề. Họ chú
trọng nhiều đến sức mạnh của môn thể thao tinh thần hơn
là tìm giải pháp thực tế cho những vấn đề của nhân
loại. (Ở thế kỷ thứ 18 Jonathan Swift châm biếm thời gian
sẩy ra tương tự tại Anh khi ông trình bày những người
Lilliputians (Tý hon Li Li Bút) trong tập "Gulliver's
Travels" (Du Ký của Gullivers), gây chiến tranh để quyết
định nên đập vỡ một trái trứng bằng đầu nào, đầu
nhọn trứng hay đầu lớn trứng).
Đức Phật cũng từ
chối tham dự vào các phiếm luận về vũ trụ. Ngài tuyên
bố minh bạch vấn đề nhân loại phải đương đầu không
phải trong quá khứ hay vị lai mà ngay tức khắc bây giờ.
Kiến thức về Chủ Nghĩa Bất Diệt hay Hư Vô không giúp ích
gì cho con người phá vỡ gông cùm khiến con người bị mù quáng
trong cuộc sống và là nguyên nhân của tất cả các cảm nghĩ
bất mãn phát xuất từ những bất lực không thỏa mãn được
các tham vọng. Ngài nói rằng trước khi một người muốn
tiến vào con đường dẫn đến Niết Bàn, người đó phải có
Chánh Kiến. Chỉ khi nào biết rõ ràng cái gì mình đang tìm
mới mong đạt được nó.
CÓ THỂ
BIẾT ĐƯỢC NGUYÊN NHÂN ĐẦU TIÊN
KHÔNG?
Quả là khó khăn cho
chúng ta hiểu được thế giới khởi thủy như thế nào mà
không cần nguyên nhân đầu tiên. Nhưng lại càng khó hơn để
hiểu được nguyên nhân đầu tiên hiện hữu lúc khởi thủy
như thế nào.
Theo Đức Phật, quả
là không thể tìm hiểu ra được nguyên nhân đầu tiên của
đời sống hay của bất cứ điều gì. Theo kinh nghiệm thông
thường, nguyên nhân trở thành kết quả và kết quả trở thành
nguyên nhân. Trong vòng tương quan nhân quả, nguyên nhân đầu
tiên là điều không thể hiểu được. Nói về nguyên nhân
của sự sống, Đức Phật tuyên bố: "Dòng đời trôi
nổi này triền miên trong cõi Luân Hồi, không thể biết khi nào
kết thúc (vòng Sanh Tử). Chúng sanh bị che lấp bởi vô minh và
bị trói buộc bởi tham ái không thể nhận thức đưọc
khởi điểm đầu tiên của những chúng sanh ấy (Anamatagga
Samyutta trong Kinh Samyutta Nikaya). Chừng nào mà nó vẫn còn được
cung cấp bởi những nguồn nước đục của vô minh và tham ái,
dòng suối-đời sẽ chảy mãi vô tận. Chỉ khi vô minh và
tham ái bị chặn bỏ thì dòng-suối-đời sẽ ngưng chảy, và
chỉ khi đó tái sanh mới chấm dứt.
Khó mà thấy được
chỗ kết thúc của không gian. Khó mà thấy quãng dài vô tận
của cái mà ta gọi là thời gian. Nhưng khó khăn hơn nữa là
nhận thức về thời gian khi không có thời gian. Cũng vậy,
quả là khó cho chúng ta hiểu được thế giới này thoạt tiên
hiện hữu như thế bằng nguyên nhân đầu tiên. Và lại càng
khó hơn nữa để hiểu nổi nguyên nhân đầu tiên sanh khởi
như thế nào vì nếu cái nguyên nhân đầu tiên tự nó có
thể hiện hữu thì không có lý do gì những hiện tượng khác
của vũ trụ phải xuất hiện qua sự sáng tạo cả.
Về câu hỏi chúng
sanh xuất hiện thế nào vào cuộc sống không có nguyên nhân
đầu tiên, người Phật Tử sẽ đáp là không có câu trả
lời vì câu hỏi đó tự nó chỉ là sản phẩm của sự
hiểu biết giới hạn của con người. Nếu chúng ta có thể
hiểu được bản chất của thời gian và sự tương đối, chúng
ta phải nhìn thấy không có một sự khởi đầu nào. Chỉ có
thể vạch ra là tất cả những câu trả lời thông thường
cho câu hỏi đều khiếm khuyết. Nếu cho rằng một vật gì
hiện hữu, vật đó phải có người sáng tạo ra, người sáng
tạo này phải có trƯớc vật đó, theo đúng lý người sáng
tạo này cũng phải có một người sáng tạo, và cứ thế cho
đến vô tận. Mặt khác, nếu người sáng tạo hiện hữu mà
không có nguyên nhân đầu tiên dưới hình thức của một
vị sáng tạo khác, tất cả lập luận đều không còn đứng
vững. Thuyết về đấng sáng tạo không giải quyết được
một vấn đề gì cả mà chỉ làm phức tạp cho những gì đang
hiện hữu.
Cho nên Đạo Phật không
mấy lưu ý đến lý thuyết và niềm tin về nguồn gốc của
thế giới. Thế giới sáng tạo bới một thượng đế hay
thế giới tự nó hiện hữu, người Phật Tủ cũng không
mấy quan tâm. Thế giới hữu hạn hay vô hạn cũng không quan
trọng lắm đối với người Phật Tử. Thay vì đi theo con
đường lý thuyết ức đoán, Đức Phật khuyên ta nên nỗ
lực hành động để tìm cách tự cứu mình.
Khoa học gia đã khám
phá nhiều nhân tố trách nhiệm về cuộc sống của đời người,
cây cối, hành tinh, nguyên tố, và các nhiệt lượng khác. Nhưng
chưa ai có thể tìm ra được nguyên nhân đầu tiên tạo sự
hiện hữu của chúng. Trong việc tìm kiếm nguyên nhân đầu
tiên của bất cứ một cuộc sống con người hay một vật gì,
họ đưa ra một số các nguyên nhân được cho là nguyên nhân
chính nhưng chưa bao giờ thấy được nguyên nhân đầu tiên.
Trong tiến trình tìm kiếm nguyên nhân đầu tiên hết lần này
đến lần khác, họ lại quay trở về vị trị cũ. Đó là vì
nguyên nhân trỏ thành kết quả, và kế tiếp kết quả trở
thành nguyên nhân để rồi trở thành kết quả khác. Cho nên
Đức Phật nói: "Việc đó không thể hiểu được và vũ
trụ không có điểm bắt đầu".
LINH HỒN CÓ BẤT
DIỆT KHÔNG?
Tin linh hồn bất
diệt là một quan niệm sai lầm về tâm thúc con người.
THUYẾT VỀ LINH HỒN
Dạy về lý thuyết
linh hồn, có ba hạng đạo sư trên thế giới:
Hạng thứ nhất dạy
sự hiện hữu của một cái Ngã thực thể bất diệt trưòng
tồn mãi mãi: Vị đạo sư này theo thuyết bất diệt (thường
kiến).
Hạng thứ nhì dạy cái
Ngã thực thể chỉ tạm thời sẽ bị hủy diệt khi chết:
Vị đạo sư này là các nhà duy vật chủ nghĩa.
Hạng thứ ba dạy không
có cái Ngã bất diệt hay tạm thời: Vị đạo sư này là Đức
Phật.
Đức Phật dạy cái mà
ta gọi ngã, bản thân, linh hồn, cá nhân vân vân.. chỉ là các
từ ngữ có tính cách quy ước (chế định), các từ ngữ này
không liên quan đến một cái gì đích thật, một thực thể
hoàn toàn độc lập. Theo Phật Giáo không có lý do nào có
thể tin tưởng là có một linh hồn bất diệt xuống từ thiên
đường, hoặc tự tạo thành và sau khi chết sẽ lên thiên
đưòng, hay xuống địa ngục. Người Phật Tử không thể
chấp nhận bất cứ điều gì bất diệt, không thay đổi trên
thế giới này hay thế giới khác. Chúng ta chỉ chấp chặt vào
mình để mong tìm một cái gì bất tử. Chúng ta chẳng khác gì
các trẻ thơ, chúng muốn nắm bắt lấy cầu vồng. Với trẻ
thơ, cầu vồng là cái có thật sống động, nhưng mgười
lớn biết rằng cầu vồng chỉ là ảo ảnh tạo ra bởi một
số tia sáng và những giọt nước. Ánh sáng chỉ là một
loạt sóng nhấp nhô không thực, chẳng hơn gì cầu vồng.
Con người thành công
mà không cần phải khám phá linh hồn. Con người không hề
biểu lộ dấu hiệu gì mệt mỏi hay thoái hóa do không tìm
gập linh hồn nào. Chưa có người nào sản xuất được thứ
gì để làm thăng tiến nhân loại bằng cách mặc nhận một
linh hồn và khả năng tưởng tượng của nó. Tìm kiếm linh
hồn trong con người chẳng khác gì tìm một vật trong phòng
trống rỗng tối tăm. Nhưng con người bất hạnh kia chằng
bao giờ nhận thức được rằng vật muốn tìm đó không có
trong phòng. Thật là khó khăn để làm cho kẻ đó hiểu được
sự vô ích của việc tìm kiếm này.
Những kẻ tin tưởng
vào sự hiện hữu của linh hồn không cách chi có thể giải
thích được linh hồn là gì và ở đâu. Lời khuyên của Đức
Phật là đừng lãng phí thì giờ vào những chuyện không đâu
không cần thiết mà hãy nỗ lực trong việc tranh đấu để
tự cứu. Khi chúng ta đã đạt được mức toàn hảo, chúng
ta sẽ có thể nhận thức được có hay không có linh hồn.
Vị du tăng tên Vacchagotta hỏi Đức Phật có hay không có cái
"Ta" . Câu chuyện như sau:
Vachagotta tìm đến Đức
Phật và hỏi Ngài:
"Thưa Ngài Cồ Đàm,
có cái Ta không?
Đức Phật im lặng.
"Vậy Thưa Ngài
Cồ Đàm, phải chăng không có cái "Ta"?
Đức Phật vẫn im
lặng. Vacchagotta đứng dạy và bỏ đi .
Sau khi du tăng này đi
khỏi, Ngài A Nan hỏi Đức Phật tại sao Ngài không trả lời
câu hỏi của Vacchagotta. Đức Phật giải thích như sau:
"Này A Nan, khi đạo
sĩ Vacchagotta hỏi "Có cái Ta không?", nếu ta trả
lời " Có Cái Ta", câu trả lời như vậy chứng tỏ là
ta tán đồng ý kiến của của các nhà tu ẩn dật và các Bà
là môn chủ trương thuyết bất diệt (sassata-vada) (thường
kiến).
"Này A Nan, khi du tăng
hỏi: "Phải chăng không có cái Ta? Nếu ta trả lời
"Không có cái Ta" câu trả lời như vậy ta đứng về
phía những nhà tu ẩn dật và Bà la môn chủ trương thuyết
tịch diệt (đoạn kiến).
"Lại nữa này A
Nan, khi Vacchagotta hỏi ta: "Có cái Ta không?" Nếu ta
trả lời có cái Ta thì có phù hợp với sự hiểu biết của
ta là tất cả các Pháp đều vô ngã không? .
"Chắc chắn là không,
Bạch Đức Thé Tôn ", Ngài An Nan nói.
"Lại nữa này A
Nan, nhà tu khổ hạnh hỏi ta: "Không có cái Ta phải không?
Nếu ta trả lời 'Không có cái Ta' câu trả lời sẽ làm cho
Vacchagotta hết sức bối rối vì chính Vacchagotta đã đang băn
khoăn về vấn đề này . Nhà tu này sẽ nghĩ: 'Trước đây ta
cứ tưởng có cái Ta, mà nay cái Ta lại không có' ".
(Samyutta Nikaya).
Đức Phật cho những
suy đoán về linh hồn là hoàn toàn vô ích và ảo tưởng. Có
lần Ngài nói rằng do vô minh và ảo tưởng mà con người say
mê trong mộng là linh hồn của họ riêng rẽ và có cái ngã
thực thể hiện hữu. Tâm họ vẫn bám níu vào cái Ta. Họ lo
nghĩ về thiên đường và tìm kiếm lạc thú của cái Ta trên
thiên đường. Như vậy, họ không thể thấy được hạnh phúc
của chánh đạo và sự bất tử của chân lý. "Tư tưởng
vị-kỷ xuất hiện trong tâm con người do quan niệm về cái
Ta và lòng bám níu vào sự sống còn của họ".
VÔ NGÃ: GIÁO LÝ VỀ
"KHÔNG CÓ LINH HỒN"
Bằng Giáo Lý Vô Ngã,
Đức Phật chống lại mọi thuyết chủ trương có linh hồn và
ức đoán về linh hồn với giáo lý Vô Ngã của Ngài. Vô Ngã
được giải thích dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau như: Không
Có Linh Hồn, Không Có Cái Ta, Vô Ngã, Tính Chất Không Có Linh
Hồn..
Muốn hiểu giáo lý Vô
Ngã, chúng ta phải hiểu rằng thuyết linh hồn bất diệt:
"Tôi có một linh hồn" - thuyết duy vật: "Tôi không
có linh hồn" - là những chướng ngại cho việc tự giác
và giải thoát. Những chướng ngại này phát xuất từ quan
niệm sai lầm "Tôi Là". Cho nên, muốn hiểu giáo lý Vô
Ngã, ta phải không chấp vào một ý kiến nào hay quan điểm
về thuyết linh hồn; hơn thế ta phải cố gắng khách quan nhìn
sự vật đúng như chúng là thế không chút thành kiến. Ta
phải học cách nhìn cái gọi là "Tôi", Linh Hồn hay
Ngã, chúng thực sự như thế nào: chúng chỉ là sự phối
hợp của các lực thay đổi. Việc này cần phải một vài lý-giải.
Đức Phật dạy cái mà
ta nhận thức như bất diệt trong ta, chỉ là sự phối hợp
của các uẩn hay lực của tinh thần và vật chất, tạo thành
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Những lực này cùng nhau liên
kết hoạt động trong một dòng không ngừng thay đổi; chúng
không bao giờ giống nhau trong hai khoảnh khắc liên tiếp nhau.
Chúng là thành phần của đời sống vật chất và tâm lý.
Khi Đức Phật phân tích đời sống vật chất-tâm lý, Ngài
chỉ thấy ra năm uẩn hay lực trên đây, Ngài không tìm thấy
linh hồn bất diệt nào cả. Tuy nhiên, rất nhiều người
vẫn còn có quan niệm sai lầm cho linh hồn là Thức. Đức
Phật tuyên bố rõ rệt là Thức tùy thuộc vào Sắc, Thọ, Tưỏng
và Hành và Thức không thể hiện hữu độc lập ngoài chúng.
Đức Phật nói:
"Này các Thầy, Thân (Sắc) không phải là Ta, Thọ không
phải là Ta, Tưởng không phải là Ta, Hành không phải là Ta,
và Thức cũng chẳng phải là Ta. Nhận định như vậy, này các
Thầy, người hành giả không thấy giá trị nào của Thân
(Sắc), Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Nhận thấy chúng không giá
trị, hành giả không còn ràng buộc bởi đam mê và sẽ được
tự do. Sự hiểu biết về giải thoát phát sanh trong tâm tư.
Và hành giả biết rằng mình đã làm xong điều gì cần
phải làm, đã sống cuộc sống thánh thiện, và không còn
trở thành cái này hay cái kia nữa, rằng tái sanh của mình đã
bị đoạn diệt" . (Kinh Vô Ngã Tướng)
Giáo lý Vô Ngã của
Đức Phật đã trải qua trên 2500 năm. Ngày nay giòng tư tưởng
của thế giới khoa học tiên tiến đang hướng về Giáo Lý Vô
Ngã hay Giáo Lý không Có Linh Hồn của Đức Phật. Dưới
mắt các nhà khoa học hiện đại, con người chỉ là một
mớ những cảm giác thay đổi hoài hoài. Những nhà vật lý
học tiên tiến nói rằng vũ trụ có bề ngoài là một khối
đặc, thực ra chẳng phải cấu tạo bằng các chất đặc nhưng
chính là một luồng năng lượng. Nhà vật lý học hiện đại
thấy rằng tất cả vũ trụ là một tiến trình thay đổi
của nhiều lực mà trong đó con người chỉ là một phần. Đức
Phật là người đầu tiên nhận ra điều đó.
Một học giả nổi
tiếng, W.S. Wily, đã có lần tuyên bố: "Càng ngày con người
càng không tin tưởng vào sự hiện hữu của cái bất tử
trong con người do ảnh hưởng của trường phái tư tưởng
lớn hiện đại". Niềm tin vào sự bất tử của linh
hồn chỉ là giáo điều trái ngược lại với sự thật (chân
lý) vững chắc và thực nghiệm nhất.
Niềm tin suông vào
linh hồn bất tử, hay tin chắc rằng có một thứ gì đó
trong chúng ta vẫn sống còn sau khi chết, không làm cho chúng
ta bất tử trừ phi chúng ta biết cái gì sống còn mà tự chúng
ta có khả năng đồng hóa với nó. Hầu hết các chúng sanh
chọn lựa cái chết thay vì chọn bất tử do họ tự đồng hóa
với cái tàn lụi và vô thường do dai dẳng bám chặt vào xác
thân hay những yếu tố tạm bợ của con người ở hiện
tại mà nhầm lẫn cho đó là linh hồn hay hình thức thiết
yếu của sự sống.
Nói về những công trình
nghiên cứu trên, các khoa học gia tiên tiến hiện nay càng
ngả về việc khẳng định cái gọi là "Linh Hồn"
chỉ là một mớ cảm giác, xúc cảm, tình cảm, liên quan đến
kinh nghiệm vật chất; Giáo Sư James cho rằng từ ngữ
"Linh Hồn" chỉ là một cách nói không có thực thể
tương ứng.
Giáo Lý Vô Ngã của
Đức Phật cũng giống như Giáo Lý Tánh Không (tính chất
trống rỗng) mà trường phái Đại Thừa diễn dịch Mặc dù
quan niệm ấy được nhà luận giả Đại Thừa xuất chúng,
Ngài Long Thọ phân tích với nhiều kiến giải khác nhau, cũng
không có quan điểm gì đặc biệt trong Tánh Không khác biệt
nhiều với giáo lý nguyên thủy Vô Ngã của Đức Phật.
Niềm tin vào Linh Hồn
hay cái Ta và Thượng Đế Sáng Tạo, đã ăn sâu vào tâm
khảm nhiều người cho nên họ không tưởng tượng nổi tại
sao Đức Phật không chấp nhận hai điều đó rất cần
thiết đối với nhiều tôn giáo. Có người bất bình hay tỏ
ra nóng nảy, cố gắng biểu lộ cảm xúc của mình khi nghe
thấy Đức Phật không chấp nhận hai quan niệm này. Đó là lý
do chính tại sao đối với các học giả khách quan và các nhà
tâm lý học Phật Giáo đứng riêng biệt khi so sánh với tất
cả những tôn giáo khác. Đồng thời cũng có một số học
giả khác từng ca ngợi các khía cạnh khác của Phật Giáo
nghĩ rằng Phật Giáo sẽ được phong phú thêm nếu giải thích
sâu rộng hơn tiếng "Atta" của Đức Phật để giới
thiệu quan niệm và Linh Hồn và cái Ngã vào Đạo Phật. Đức
Phật đã lưu tâm về sự không vừa ý này cũng như về sự
xáo trộn quan điểm liên quan đến niềm tin này.
"Mọi vật do duyên
sinh đều vô thường,
Mọi vật do duyên sinh đều khổ đau,
Mọi vật (Pháp) do duyên sinh hay không do duyên sinh đều không
có linh hồn hay vô ngã
-- (Kinh Pháp Cú, 277-279)
Có một ngụ ngôn
trong Kinh Điển Phật Giáo nói về niềm tin vào một linh hồn
bất diệt. Một người, vì nhầm lẫn tưởng sợi dây là con
rắn, nên mang tâm trạng sợ hãi. Sau khi khám phá ra con rắn
chỉ là một sợi dây, kẻ đó không còn sợ hãi và cảm
thấy an tâm. Tin có một linh hồn bất diệt cũng giống như
sợi dây - tưởng tượng nhầm lẫn của con người.
-ooOoo-
Ðầu
trang | Mục lục | 01
| 02 | 03 |
04
| 05a | 05b |
06
| 07 | 08 |
09
| 10 | 11 |
12
| 13 | 14 |
15
| 16 | 17
--- o0o ---
Trình bày:
Chân Đức & Nguyên Thảo
Cập
nhật
ngày:
01-11-2002
|