Đoạn diệt Ngũ uẩn
Sayàdaw
Pannadipa
Thiện Nhựt phỏng
dịch theo bản Anh văn
Nguyên tác:
Destroying the five aggregates,
Tathagata Meditation Center, San Jose, California, USA
Tiểu sử ^
Sayàdaw U Pannadipa Sàsanadhaja
Siripavara
Dhammacariya Aggamahàsadhamma Jotikadhaja
Hoà
thượng U Pannadipa sanh ngày 16 tháng Ba năm
1933, tại làng Hninpalei, thị xã Beelin miền Nam nước Myanmar (tên
cũ là nước Miến Điện), do đó Người còn
được gọi là Hoà thượng Beelin. Cha
Người là U Kyaw Hmu và mẹ là Daw Hla Thin.
Người bắt
đầu theo học cấp Tiểu học năm
tám tuổi tại Tu viện trong làng và đến
mười hai tuổi thọ giới Sa di. Người tốt nghiệp
Đại học tại Trường Phật học Hitlikaryi
ở Thaton và trải qua xuất sắc kỳ thi Tam Tạng Kinh
Điển với hạng danh dự. Từ
đó, Người trở thành một vị Pháp sư
(Sàsana Dhaja Siripavara Dhammacariya). Các công trình hậu
đại học của Người
được thực hiện ở Yangon và Mandalay.
Năm
1967, Người đến Tu viện Mahàsi Yeikthà ở Yangon và thực tập khoá
thâm luyện về Thiền Minh Sát, dưới sự hướng dẫn của chư Hoà thượng U
Pandita, U Janaka và U Sanwara. Năm sau,
Người được thuyên chuyển đến Tu
viện Gyopintha Sàsana Yeikthà, gần Prome, với tư cách Thiền sư; và nơi
đây Người đã giảng dạy liên tiếp trong
mười bảy năm.
Trưởng lão Hoà thượng U
Panditabhivamsa công nhận Người là vị Thiền sư Cao cấp Nàyaka Kammatthàna
Cariya và mời Người giảng dạy tại Trung tâm Mahàsi ở Yangon; Người
đã hoằng pháp tại
đây trong sáu năm.
Hoà thượng U Pannadipa
đi giảng pháp tại nhiều nơi trên thế
giới, kể cả Nepal, Malaysia, Singapore và Úc
đại lợi.
Hoà thượng Beelin kế
đó phục vụ tại Trung tâm Thiền học
Mahàsi, gần Wigan, bên Anh cát lợi, khi các nhân viên trong Cộng
đồng nầy thỉnh cầu
được một vị Hoà thượng tinh thông cả
giáo lý trong Kinh điển (pariyatti) lẫn thực
tập thiền quán (patipatti) đến giảng
dạy cho họ.
Đến tháng Chạp năm 1999, Người
được thỉnh sang giảng
dạy tại Như Lai Thiền Viện (Tathagata
Meditation Center) ở San Jose, California. Nơi
đây, sự hiện diện trầm hùng và tĩnh
mặc của Người đã khiến cho nền Phật
pháp được xiển dương thêm tại một phần
đất khác trên thế giới.
Người vừa
được tưởng thưởng danh hiệu cao qúi
Agga Mahà Sadhamma Jotika Dhaja, chiếu theo công
đức hoằng pháp của Người nơi hải
ngoại.
------*------
Đề
tài bài Pháp thoại
nầy căn cứ trên bản Kinh Chúng Sanh
(Satta Sutta), được Đức Phật thuyết
giảng tại Kỳ viên tự, nước Xá vệ, kết tập trong Tam Tạng Kinh
Điển, nơi Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta,
III, Ràdhasamyutta -- Đại Tạng Việt
Nam, Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III, Thiên: Uẩn, Chương 2: Tương ưng Ràdha,
trang 327 và tiếp).
-ooOoo-
1.-
Sắc uẩn (Rùpakkhandha): Tập họp các hiện tượng vật chất.
^
Một hôm có vị tỳ kheo tên
Àyasmà Ràdha đến gặp Đức Phật, hiện đang ngụ
tại Kỳ viên tự, ngôi tự viện do vị Đại
cư sĩ triệu phú Cấp Cô độc dưng cúng. Sau khi
đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống
một bên, Tỳ kheo Àyasmà Ràdha liền bạch Thế tôn rằng, có một câu hỏi mà
ông muốn được nghe lời giải
đáp.
-- Bạch Thế tôn, có danh từ
"chúng sanh" (satta) nơi thế gian nầy. Dùng
điều nào
để có thể cắt nghiã và đánh giá được
như là một ‘chúng sanh’ trên thế gian nầy chăng?
Đức Phật đáp:
-- Nầy thiện nam tử Ràdha,
"chúng sanh" là một sanh vật, là kẻ có ước muốn, có quyến luyến, hay
có ái mộ đối với các hiện tượng vật
chất (rùpakkhandha). Sự tríu mến vào hiện tượng vật chất cũng gọi
đó là "chúng sanh".
Ở
đây, đối tượng nghiã thứ nhứt chữ chúng sanh, một sanh vật,
gồm có các mức độ khác nhau của sự ước
muốn, tham dục, yêu mến và quyến luyến, tất cả các tình cảm nầy
đều đồng nghiã như nhau.
Nghiã thứ hai của chúng sanh
là hình thức bằng lời có nghiã là "tríu mến vào" . Cho dầu kẻ nào
có thích thú mà tríu mến vào vật chất, hoặc là tríu mến thường thường thôi
đi nữa, đó cũng gọi là "chúng
sanh", và điều nầy xảy ra là do sự
ngu muội.
Nếu ta quan sát cẩn thận và
đứng đắn
các hình thức vật chất trên cơ thể con người, thì ta sẽ thấy những
gì? Thân thể con người gồm có nhiều nhóm năm
bộ phận.
Nhóm năm
món thứ nhứt, gồm có tóc, lông, móng tay móng chơn, răng và da, vì
chấm dứt ở da nên được tạm gọi là
nhóm tận cùng ở da. Nhóm năm món thứ
hai gồm có thịt, gân, xương, tủy, và thận; vì chấm dứt ở thận,
nên được tạm gọi là nhóm tận
cùng ở thận. Nhóm năm món thứ ba gồm có
trái tim, lá gan, hoành cách mạc, lá lách và phổi. Ruột già, ruột
non, thức ăn còn tươi, thức
ăn cũ, và não thì lập thành nhóm năm
món thứ tư.
Bốn nhóm năm
món đó gom chung lại thành hai mươi phần thân thể,
được nguyên tố
đất (=
điạ)(= pathavì dhàtu) thể
hiện ra thành vật chất. Dưới bất cứ hình thức nào mà chúng
được biểu lộ ra, các hiện tượng vật
chất đó được sắp xếp thành nguyên tố
đất và có các
đặc tánh nầy: cứng, mềm, và chắc. Tại
sao hai mươi phần đó trong thân thể
lại được xem như do nguyên tố
đất mà ra? Chính bởi vì chúng
đều có mang một tánh chất chủ yếu là
cứng rắn.
Ba nguyên tố còn lại cũng có
mặt trong hai mươi phần thân thể nói trên, nhưng chúng chẳng
được rõ rệt lắm, vì chúng chẳng chiếm
được ưu thế. Ba nguyên tố
đó là: nguyên tố nước (=
thủy) (= àpo dhàtu), nguyên tố lửa (= hoả) (=
tejo dhàtu), và nguyên tố gió (=phong) (= vàyo dhàtu).
Ngay cả một sợi tóc, khi ta
quan sát kỹ, cũng có đủ bốn nguyên tố.
Tuy nhiên, tánh chất chủ yếu của sợi tóc là cứng rắn, và
đó là đặc
tánh của nguyên tố đất. Vì lẽ
đó nên sợi tóc thường
được gọi là do nguyên tố
đất, pathavì dhàtu. Mười chín bộ
phận còn lại trong bốn nhóm năm món kể trên
cũng giống như thế, được gọi chung
chung là do nguyên tố đất, bởi
vì chúng đều có mang tánh chất chủ yếu
cứng rắn cả.
Một vị thiền giả nào có khả năng
nhận thức được sự cứng rắn, thì
đang thể nghiệm thấy
được nguyên tố
đất. Cùng thế ấy, nguyên tố
lửa cũng được thể nghiệm nếu sức
ấm hoặc sức nóng được quan sát
đến. Nguyên tố gió có thể
được thể nhận khi tánh chất căng
thẳng hoặc rung động được thấy rõ
trong phút giây thiền quán. Và khi nguyên tố nước chiếm ưu thế
trong một tình trạng vật chất, thì sự ẩm ướt hoặc sự kết dính
được thiền giả lưu ý
đến.
Thiền giả chẳng nên trụ lại nơi
ý niệm của bốn nguyên tố. Vị ấy phải nên chỉ nhận thức về các
đặc tánh thiên nhiên, như sự cứng rắn,
sự mềm dịu, sức ấm, sức nóng, sự căng
thẳng, sự rung động, sự ấm ướt, và sự
kết dính mà thôi. Điều thật cần thiết
là thiền giả chẳng được vượt quá tầm nhìn
về các đặc tánh thiên nhiên.
Tại sao vậy? Bởi vì, thay vì
quan sát các hiện tượng thiên nhiên, vị thiền giả
đã để mình
đi lạc vào việc quan sát các ý niệm
như đàn ông,
đàn bà, tóc
đàn ông, tóc
đàn bà, v.v. Trong khi thực tập
Thiền Minh sát, rất cần thiết là chẳng nên để
vướng vào các ý niệm, ý niệm về thân thể và ý niệm về nhân vật.
Điều quan trọng nhứt là chỉ thấy có
các hiện tượng thiên nhiên của bốn nguyên tố mà thôì.
Ngoài hai mươi bộ phận thân thể
vừa kể trên đây, còn có mười hai phần
trong thân thể mang đặc tánh chủ yếu
của nguyên tố nước. Đó là: mật
(trong gan), đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ
cứng, mỡ lỏng, nước mắt, nước miếng, nước mũi, chất nhờn ở khớp xương, và
nước tiểu. Tất cả các món đó đều có đặc
tánh rỉ chảy ra và kết dính. Vì thế nên chúng
được xem như thuộc về nguyên tố nước. Ba nguyên tố khác còn
lại, đất, gió, lửa, cũng có mặt
trong mười hai món kể trên, mặc dầu chúng chẳng
được rõ rệt lắm.
Có bốn hình thái của nguyên tố
lửa, tejo dhàtu, trong cơ thể. Sức nóng của thân thể (thân nhiệt),
ở trạng thái bình thường, được gọi là
jìrana tejo. Thân nhiệt tạo nên tiến trình già lão, khiến cho dân
chúng trở nên già nua. Khi nhiệt độ lên
cao quá sức nóng bình thường của thân nhiệt, và nhiệt kế
đo thấy cao hơn 98.4 độ Farenheit, thì
sức nóng đó gọi là santàpana tejo.
Sức nóng chịu chẳng nổi khiến cho người ta phải kêu than là ‘nóng
quá xá’ được gọi là dahana
tejo. Sức nóng thứ tư ở trong ống tiêu hoá của dạ dày và ruột, dùng
để tiêu hoá thức
ăn, được gọi là paccakà tejo.
Bốn loại nhiệt độ nầy đều mang tánh
chất ấm và lạnh. Chúng chẳng hề thay mặt cho một người
đàn bà hay người
đàn ông nào cả. Chúng chẳng có một
thực thể bản ngã nào, chúng chỉ đơn
giản là yếu tố của sức nóng mà thôi.
Có sáu loại hình thái gió,
vàyo dhàtu, trong cơ thể. Đó là:
(1) gió thổi lên, (2) gió thổi xuống, (3) gió trong ống tiêu hoá, (4) gió
trong bụng, (5) không khí thở ra vào, (6) không khí dàn trải khắp cơ thể.
Mỗi hoạt động của cơ thể như cúi
xuống, duỗi thẳng ra, ngồi, đứng, đi, v.v...
đều chịu ảnh hưởng của loại gió cuối cùng, còn
được gọi là angamanganusàri. Cả
sáu loại hình thái của nguyên tố gió
đều mang tánh chất căng thẳng
và rung động. Chẳng hề có một thực thể
bản ngã nào nơi chúng cả; cũng chẳng có một người
đàn ông, một người
đàn bà hoặc một tự ngã nào có thể tìm
thấy nơi chúng cả.
Cho tới
đây, tôi vừa phác hoạ
đại cương về bốn nguyên tố, sự biểu lộ
của chúng trên thân thể và các tế phân của chúng: hai mươi loại thuộc về
nguyên tố đất, mười hai loại
thuộc về nguyên tố nước, bốn loại thuộc về nguyên tố lửa, và
sáu loại thuộc về nguyên tố gió. Mặc dầu sự tóm tắt có hơi ngắn,
nhưng khi cứu xét kỹ lưỡng, thì thân thể vật chất nầy cũng chỉ gồm có bốn
nguyên tố đó mà thôi.
Khi các nguyên tố
đã an lập trong khu vực thích hợp trên
cơ thể, toàn thể tấm thân vật chất kể chung lại hiện ra như thể là một
thực thể có tự ngã. Nếu chẳng biết rõ được
điều nầy qua tuệ giác của minh sát, thì một người thông thường sẽ
nhận thức cái toàn thể tập hợp các nguyên tố
đó như là "thân tôi"... "thân của nó" ... "cơ thể người
đàn bà" hoặc là ... "thân hình người
đàn ông". Cũng bởi do nhận thức sai
lầm nầy, cho nên sự tríu mến vào tấm thân vất chất mới khởi lên trong
đầu anh ta.
Thật ra, tấm thân vật chất có
thể được ví với đống bọt, tập hợp của
các bong bóng nước nhỏ mà ta thấy trên dòng nước hay ngoài sông. Sự hiện
hữu của các bong bóng là do áp suất của không khí bên trong chúng
đã gây nên. Khi kết chùm lại nhiều
nhóm với nhau, các bong bóng trở thành đống
bọt, có đống lớn bằng nắm tay, hoặc bằng
đầu, hay to hơn nữa. Được nhìn thấy
qua đôi mắt thường, các đống bọt ấy xem như
bền vững lắm. Tuy nhiên, nếu ta điều
nghiên kỹ lưỡng và đứng
đắn, ta sẽ thấy tánh cách vô thường
của chúng rất hiển nhiên. Nào ai đã
dùng các bọt bong bóng để đóng bàn ghế
hoặc xây cất nhà cửa đâu? Cùng một thế
ấy, tấm thân vật chất nầy xem như thường hằng dưới cặp mắt thông thường
khi nhìn vào hình dáng bề ngoài từ đầu, thân
mình cho tới chơn tay. Tấm thân vật chất lại còn
được xem thành một nhân vật như
đàn ông hoặc
đàn bà, v.v. Thân hình ấy xem thấy
dường như có mãi mãi như thế, và có thể trông thật hấp dẫn,
đẹp đẽ
nữa chớ. Quan niệm về một thực thể hiện hữu
đang sanh hoạt thường khởi lên trong
tâm người có cặp mắt thông thường.
Nhưng
đối với người có cái nhìn về Thiền
minh sát thì tấm thân vật chất lại giống với một khối bọt bong bóng --
chẳng có chút tự thể cố hữu nào cả. Đó chỉ là
sự tập hợp của ba mươi hai phần thân thể: tóc, lông, móng tay, móng chơn,
răng, da, gân, xương, v.v.
đều là bất tịnh. Chẳng có chút bản thể
nào là thường hằng, là đẹp
đẽ , chẳng có đặc tánh nào của một tự
thể vĩnh cửu cả. Đấy là hình ảnh của
tấm thân vật chất hiện ra dưới cặp mắt của người có tuệ giác về Thiền Minh
sát.
Tuy nhiên, mắt thường trông vào
tấm thân vật chất thì thấy ra thường hằng, khả ái, dễ cai quản và có một
tự thể. Do đó mà thường nhơn mới thích
thú mà tríu mến vào tấm thân vật chất. Đúng
như Đức Phật có nói: "Tríu mến vào vật chất, hoặc bị vướng mắc nặng
nề vào vật chất, thì được gọi là
chúng sanh (satta)".
2.-Thọ uẩn
(Vedanàkkhandha): Tập hợp các cảm thọ. ^
-- "Nầy thiện nam tử Ràdha, kẻ
nào tríu mến vào, hoặc có cảm tình mạnh mẽ với các uẩn,
đều được gọi là "chúng sanh" (satta)."
Đức Phật dạy có ba loại cảm
thọ nơi tấm thân vật chất:
(1) Thể nghiệm một sự vật đáng ưa là một lạc thọ
(sukkha vedanà).
(2) Thể nghiệm một sự vật đáng ghét là
một khổ thọ (dukkha vedanà).
(3) Thể nghiệm một sự vật chẳng đáng ưa
cũng chẳng đáng ghét là một xả thọ (upekkhà
vedanà).
Bởi vì các xả thọ có tánh cách
trung hoà, chẳng hiện rõ rệt nơi các giác quan, nên phần nhiều con người
quen thuộc hơn với các lạc thọ và khổ thọ.
Vào mùa hè nóng nực, một người
cảm thấy khoẻ khoắn khi một ngọn gió mát thổi tới. Vào mùa
đông, quấn mền khiến ta cảm thấy ấm áp
và dễ chịu. Duỗi chơn và xoa tay khi mỏi mệt làm ta thư giản và khoan
khoái. Mỗi khi thể nghiệm sự an hoà nơi cơ thể, ta
đang thọ hưởng một lạc thọ, sukkha
vedanà. Thường nhơn tiếp nhận cảm thọ thích thú
đó với tâm niệm: "Tôi thấy khoan
khoái" hoặc "Tôi đang yên ổn." Các cảm
thọ như đau mình, nóng nực quá, lạnh
lẽo quá, thân thể bất an, ngứa ngáy, được gọi
là khổ thọ, dukkha vedanà, tức là cảm giác chẳng thích thú.
Thường nhơn xem chúng như là "cảm giác đau
khổ của tôi".
Cả ba loại cảm thọ
đó khởi lên tại ngưỡng cửa của tâm ý.
Lạc thọ, sukkha vedanà, cảm giác thích thú, khởi lên trong tâm khi
ta gặp được, hoặc khi ta nghĩ đến, một sự
vật khả ái. Khổ thọ, dukkha vedanà, cảm giác chẳng thìch thú, khởi
lên trong tâm khi ta gặp được, hoặc khi ta
nghĩ đến những sự vật đáng sợ hay buồn
nản. Xả thọ, upekkhà vedanà, cảm giác trung hoà khởi lên trong tâm
khi ta gặp được, hoặc khi ta nghĩ đến các sự
vật chẳng đáng thích cũng chẳng đáng ghét.
Mỗi khi các cảm thọ nói trên khởi lên trong tâm, chúng thường
thường được giải
đoán sai lầm rằng "Tôi cảm thấy dễ
chịu" ... "Tôi cảm thấy khó chịu" ... "Tôi cảm thấy dửng dưng".
Lạc thọ, sukkha vedanà,
khởi lên khi một hình ảnh khả ái được thấy,
một giọng nói dễ thương được nghe, hoặc một mùi thơm tho
được ngửi. Cảm giác thích thú
đó được nghĩ đến như là "cảm giác của
tôi". Liền đó, một tri giác như "Tôi
sướng khoái" khởi lên. Khi một hình ảnh khó chịu
được thấy, hoặc một giọng nói đáng ghét được
nghe, hoặc một mùi thối được ngửi, thì
khổ thọ, dukkha vedanà liền khởi lên.
Xả thọ, upekkhà vedanà,
khởi lên khi một hình ảnh được cảm
thấy chẳng hấp dẫn mà cũng chẳng chán ngấy, khi một giọng nói chẳng khả ái
cũng chẳng khả ố được nghe đến, khi một mùi
chẳng thơm cũng chẳng thối được ngửi đến. Ta
cũng lại nghĩ rằng các xả thọ đó cũng
thuộc về ta nữa.
Thật ra, các lạc thọ, khổ
thọ, và xả thọ chỉ giản dị là các cảm giác. Khi một người chẳng
quán sát một sự vật kỹ lưỡng, hoặc chẳng đủ
tỉnh giác để nhận thức
được bản chất thực sự của nó, thì sự
vướng mắc về sự vật đó liền khởi lên
ngay. Do đó, danh từ chúng sanh,
satta, được dùng
đến để chỉ vào con người
đang vướng mắc vào các cảm giác ấy.
Nhưng
đối với các thiền giả tỉnh thức với
đầy đủ
chánh niệm để nhận thấy rõ bản
chất thực sự và đặc tánh của cảm giác
đó, thì mức
độ vướng mắc vào chúng sẽ giảm thiểu.
Và vào đúng lúc nào
đó, đạo tuệ (sự tỉnh giác về con
đường Đạo) sẽ quét sạch được sự vướng
mắc vào các tình cảm đó, sẽ khởi lên
nơi tâm của vị thiền giả.
Bởi vì sự tích sau
đây, trích trong Kinh
Điển, có liên quan
đến vấn
đề các cảm thọ, vedanà, nên tôi xin kể lại hầu qúi vị câu
chuyện của đôi bạn thân đã lià xa cuộc
đời sung túc của mình
để trở thành hai người
đại đệ
tử của Đức Phật: Đại
đức Xá lợi phất (Sariputta),
người có trí huệ tuyệt đỉnh và
Đại đức
Mục kiền liên (Mahàmoggallàna), người
đạt được thần thông quán thế.
Sau khi nhận thức
được sự trống rỗng của cưộc
đời hưởng thọ thú vui phù lãng của
mình, Upatissa (sau nầy là Đại
đức Xá lợi phất) và bạn thân là Kolita
(sau nầy là Đại
đức Mục kiền liên)
đồng ý với nhau lên
đường đi tìm Chơn Lý
để có thể giúp cho họ thoát khỏi cảnh đau
khổ, già lão, bịnh tật và chết chóc. Họ bắt
đầu thọ giáo và trở thành đệ tử
của một vị đạo sư du sĩ khổ hạnh nổi
tiếng lúc bấy giờ tên là Sằn dà gia (Sanjaya). Nhưng sau khi
đã học hỏi
được tất cả những gì mà vị
đạo sĩ còn có
đủ sức để giảng dạy, họ nhận thấy
chẳng có điều gì tinh túy trong giáo
pháp của ông ta. Do đó, họ bỏ đi và
tiếp tục tầm cầu Chơn Lý, bằng cách vân du khắp nơi trong cõi Diêm phù
đề (Jambudìpa, tức là nước Ấn
độ ngày nay).
Ngẫu nhiên, một hôm Upatissa
gặp được một vị tỳ kheo,
Đại đức
Át bệ (Assaji), một bực A la hán, một trong năm
vị đệ tử đầu tiên của
Đức Phật. Nhìn thấy dáng
điệu uy nghiêm của
Đại đức
Át bệ đang đi khất thực,
Upatissa liền bước theo sau. Rồi chàng sữa soạn chỗ ngồi, mang nước
đến, để vị tỳ kheo có thể ngồi dùng
bữa một cách an tịnh. Khi Đại
đức Át bệ
đã thọ thực xong, Upatissa đến bên
cạnh và thưa hỏi: "Bạch Ngài, thầy của Ngài là ai và Người
đã giảng dạy giáo pháp như thế nào?"
Đại
đức Át bệ
đáp: "Thầy tôi là Đức Phật. Do vì
tôi vừa mới trở thành một tỳ kheo dưới sự dìu dắt của
Đức Phật nên tôi chỉ có thể chỉ dạy
cho ông vài điều thật vắn tắt."
Upatissa muốn
được biết vài
điều đó nên nói: "Vậy, xin Ngài vui
lòng nói vắn tắt những gì Ngài đã học
được nơi Thầy của Ngài."
Và
Đại đức Át bệ liền
đáp: "Tôn sư của tôi,
Đức Phật, có dạy rằng, tất cả mọi hiện
tượng đều do nhân duyên mà sanh khởi.
Người cũng dạy thêm về sự tận diệt của muôn pháp hữu vi cùng hậu quả của
chúng, và sự hiện hữu của Niết bàn (Nibbàna), tình trạng tịch diệt
hoàn toàn."
Mặc dầu lời dạy
đó hết sức ngắn gọn, Upatissa cũng
hiểu được nghiã lý rất sâu xa. Ý thức
về đạo quả thứ nhứt, sự thực hiện Niết
bàn, vụt khởi lên trong tâm tư, Upatissa liền
đắc quả vị Tu đà huờn (Sotàpanna),
tức là người đang bước vào dòng nước
Thánh.
Ước muốn
được gặp Đức Phật, Upatissa hỏi Tỳ
kheo Át bệ Đức Phật hiện giờ ngụ tại nơi nào;
kế đó vội lên
đường tìm bạn thân là Kolita
để báo tin. Nhìn gương mặt thanh thản
và đầy vẻ thoả mãn của Upatissa,
Kolita hỏi ngay: "Nầy Upatissa, chắc anh đã
thấy được Chơn Lý mà chúng ta tầm cầu
bấy lâu nay rồi, phải không?"
Upatissa liền thuật lại cuôc
gặp gỡ với Tỳ kheo Át bệ và đọc lại bài
Kệ mà mình đã học
được nơi ông. Vừa nghe xong bài Kệ,
Kolita đạt đến ngay giai
đoạn đầu tiên của sự giác ngộ; và cũng
như Upatissa, Kolita chứng được quả vị
Tu đà huờn.
Kế
đó, hai người bạn thân quyết định tìm
gặp Đức Phật. Nhưng trước hết, họ đến từ
giã vị đạo sĩ thầy của họ là ông Sằn
dà gia, rồi mời ông ta cùng tháp tùng với họ
đến gặp Đức Phật. Tuy nhiên, vì đã
từng giảng dạy lâu năm cho một số rất đông đệ
tử, Sằn dà gia nay đâu có thể hạ mình
trở lại làm học trò cho một người nào. Bảo rằng cũng như một hồ rộng chẳng
thể nào trở thành một cái ao nhỏ được, vị đạo
sĩ khước từ sự mời mọc và nói với họ: "Các đệ
tử có trí huệ sẽ đến học với Đức Phật, còn
các học trò thiếu thông minh sẽ đến với ta.
Các người hãy đi đi; còn ta,
thì cứ ở lại đây."
Có 250 người
đệ tử của Sằn dà gia
đi theo Upatissa và Kolita
đến gặp Đức Phật lúc Ngài
đang giảng pháp, Ngài ngưng lại
để nhận sự đảnh lễ của họ. Khi mọi
người đồng xin được thọ giới,
Đức Phật hướng về các vị tân đệ tử mà
phán rằng: "Thiện lai Tỳ kheo! Chánh pháp
được khéo tuyên giảng! Nay các ông hãy sống cuộc
đời Phạm hạnh
để chấm dứt mọi khổ
đau." Kể từ hôm
đó, Upatissa được biết đến dưới danh
hiệu là Xá lợi phất và Kolita, dưới danh hiệu
Đại Mục kiền liên.
Rồi
đó Đức Phật tiếp tục giảng pháp; và
sau thời pháp, toàn thể các vị tân tỳ kheo
đều chứng đắc quả vị A la hán.
Nhưng quả vị tối cao nầy được đình
hoãn lại với hai vị đại
đệ tử vì họ còn cần
được huấn luyện thêm về các trách
nhiệm tương lai trong Tăng
Đoàn (Sangha, Tăng
già). Bảy ngày sau khi thọ giới Tỳ kheo,
Đại đức Mục kiền liên chứng
đắc A la hán
đạo (Arahatta magga), giai
đoạn cao cấp nhứt của sự giác ngộ. Còn
Đại đức
Xá lợi phất mãi đến ngày rằm
tháng Hai, trăng tròn, vẫn còn
đang thực tập về anupassanà
vipassanà (quán chiếu minh sát).
Căn
cứ theo bản Kinh Trường Trảo (Dighanakha Sutta,
Đại Tạng Việt Nam, Trung Bộ Kinh, Q.
2; Kinh số 74, trang 345 và kế tiếp) vào ngày trăng
tròn đó, người cháu của Đại
đức Xá lợi phất tên là Dighanakha
(Trường Trảo), còn ở lại theo học với đạo
sĩ Sằn dà gia, sực nhớ rằng, chú mình thường quay về nhà sau khi
được nghe các đạo sư giảng dạy; nhưng
đã hơn mười lăm
hôm kể từ ngày chú mình đến gặp Đức
Phật, sao nay còn chưa thấy chú trở về nhà. Do
đó, Dighanakha quyết
định tìm hiểu xem chú mình
đã học
được những gì, nên mới lên đường đến
gặp Phật. Bấy giờ Thế tôn đang ngụ tại
hang động Sùkarakhatà, trên núi Linh thứu (Gijjhakùta), gần
thành Vương xá (Ràjagaha).
Khi Dighanakha tới nơi,
Đại đức
Xá lợi phất đang đứng sau lưng Đức
Phật và quạt hầu Ngài, để được nghe
trọn bài thuyết pháp sắp giảng. Sau khi
đảnh lễ
Đức Phật, Dighanakha liền thưa rằng: "Hiền giả Gotama, tôi chẳng
thích điều gì cả."
Chữ "điều
gì" ở đây có nghiã là tất
cả những sự tái sanh. Nghiã trực tiếp của lời Dighanakha
đã nói lên là anh ta chẳng muốn phải
tái sanh lại, sau cuộc đời nầy. Bởi vì
anh ta đã nói: "Tôi chẳng thích
điều gì cả," sự chẳng thích
đó cũng phải bao gồm luôn cả quan
điểm hư vô. Do
đó Đức Phật mới vạch rõ: "Vì ông
đã chẳng thích
điều gì cả, thì chắc thế nào ông cũng
phải chẳng thích ngay cả cái quan điểm chẳng
thích nầy của ông."
Nhưng lời
đáp của Dighanakha còn quá mơ hồ nên
Đức Phật mới nói thêm
để làm sáng tỏ quan
điểm của Dighanakha: "Quan
điểm bất diệt có thể
được chấp nhận dễ dàng; vì thật là dễ
dàng để thích thú và bám níu vào.
Mặt khác, quan
điểm hư vô cũng có thể dễ dàng từ
khước và vứt bỏ đi; vì thật là dễ dàng
để chán ghét và vứt bỏ."
Vừa nghe lời nói của
Đức Phật, Dighanakha vội kết luận sai
lầm rằng: "Hiền giả Gotama khen ngợi quan
điểm của tôi." Đức Phật liền giải
thích thêm về nguy cơ và lợi lạc của hai quan
điểm bất diệt và hư vô. Những ai theo quan
điểm bất diệt sẽ dấn thân vào các hành
động thiện, chờ mong các quả báo tốt ở
đời sau. Họ thích thọ hưởng các sự tái
sanh và tríu mến vào các cuộc hiện hữu trong tương lai. Căn
cứ theo lời Chú giải, "Một người chủ trương thuyết bất diệt khó mà gạt bỏ
được quan niệm có một tự ngã vĩnh
cửu."
Các Phật tử thông thường khi
chưa có đủ kiến thức về Thiền Minh
sát, thì chẳng thích phải chấp nhận việc chẳng hề có một tự ngã thường
hằng. Họ chẳng hiểu được sự thật về
dòng liên tục của các hiện tượng vật chất và tâm linh sanh khởi lên và
tiêu diệt đi mỗi phút giây. Và họ cũng
chẳng chịu thừa nhận sự kiện là các bực A la hán chẳng hề còn phải tái
sanh lại, bởi vì các vị đã quét sạch
sự tham ái vào lúc chứng được A la hán
đạo (Aharatta magga) Các người
chủ trương thuyết bất diệt thích tin rằng các vị A la hán khi tịch diệt
thì đi vào một cõi hiện hữu siêu thế
hình thành bởi các hiện tượng vật chất và tâm linh.
Các Luận sư về Chú giải giải
thích rằng, bởi vì các người chủ trương bất diệt tin tưởng nơi sự hiện hữu
ở hiện tại và tương lai, và thấu hiểu về nghiệp báo của các hành vi thiện
và bất thiện, cho nên họ có thực hành các hành vi thiện cũng chỉ vì họ sợ
phải làm các hành vi bất thiện. Nhưng họ thích thú
được tái sanh lại mãi mãi. Cho dầu
ngay cả khi họ gặp được Đức Phật toàn
trí, hay một đệ tử của Ngài
đi nữa, họ cũng thấy thật là khó mà
buông bỏ quan điểm bất diệt của họ.
Dầu họ ít khi phạm phải các hành vi bất thiện, quan
điểm của họ cũng khó mà vứt bỏ.
Mặt khác, các người chủ trương
thuyết hư vô chẳng biết rằng cuộc hiện hữu trong hiện tại là do quá khứ mà
thành, còn cuộc hiện hữu ở tương lai là do cuộc hiện hữu hiện tại gây nên.
Do đó, họ chẳng tin tưởng ở nghiệp báo
của các hành vi thiện và bất thiện. Vì thế, họ chẳng chịu nỗ lực vun bồi
các hành vi thiện, và họ chẳng hề biết sợ hãi khi nhúng tay vào các hành
vi bất thiện. Và vì họ chẳng tin tưởng có cuộc
đời sau tiếp theo kiếp sống nầy, nên
họ chẳng chịu chấp nhận ý kiến có tái sanh sau cuộc sống hiện tại.
Tuy nhiên, nếu các người chủ
trương thuyết hư vô lại gặp được Đức Phật toàn
trí, hay các đệ tử của Ngài, thì các
người ấy cũng sẵn sàng dẹp bỏ quan kiến của họ. Nếu họ nỗ lực thực hiện
các Ba la mật (Pàramis, các
điều toàn thiện) thì họ cũng có thể chứng
đắc được giai
đoạn cao nhứt của sự giác ngộ,
đạo và quả A la hán (Arahatta
magga and phala), giống như Đức
Phật và các bực A la hán đã
làm. Do đó, mặc dầu họ đã phạm vào các
lỗi lầm lớn, nhưng quan kiến của họ cũng dễ mà vứt bỏ
đi.
Chẳng hiểu rõ
được những điều vừa nói, Dighanakha lại cũng
tưởng rằng Đức Phật khen ngợi quan
điểm hư vô của mình. Để mở rộng nhãn
quan của Dighanakha và để đính chánh
chỗ y đã hiểu sai lầm,
Đức Phật liền giảng giải cho y biết
thêm về ba loại quan kiến: (1) quan kiến bất diệt thích thú về tất cả mọi
sự vật; (2) quan kiến hư vô chán ghét tất cả mọi sự vật, và (3) quan kiến
nửa thích nửa ghét đối với tất cả mọi sự
vật.
Nếu ai mà bám chặt vào một
trong ba quan kiến đó, thì y sẽ tranh
cãi với những kẻ ủng hộ hai quan kiến còn lại. Do
đó, Đức Phật mới khuyến khích
Dighanakha hãy vứt bỏ quan kiến hư vô của y
đi và dạy cho y làm cách nào mà dẹp sạch hẳn sự tríu mến vào tấm
thân vật chất của mình:
"Thân thể của ông do bốn
đại kết thành: các nguyên tố
đất, nước, lửa và gió. Thân thể
đó do tinh của cha và trứng của mẹ
phối hợp mà nên. Được thức
ăn nuôi dưỡng, thân
đó lớn lên và
để cho thân ấy thường được khoẻ mạnh,
ông cần phải luôn luôn theo đúng phép dưỡng
sanh, nhưng mà thân thể ấy vẫn giữ mãi bản thể vô thường."
Đức Phật cũng dạy Dighanakha
cách nhận
thức về bản thể thực sự của tấm thân -- bản thể vô
thường, gây đau khổ, như ung
độc, như nhức nhối, như mũi tên, như
điều bất thiện, như bịnh tật, như kẻ
ngoại bang, như địch thủ phá hoại.
Ngài cũng bảo nên quán sát thấy bản thể thân nầy chẳng có linh hồn, chẳng
thể kiểm soát được. Nếu ai biết quán
chiếu thân thể nầy như thế đó, thì sự
tríu mến vào tấm thân sẽ được dũa mòn
dần, càng ngày càng yếu đi.
Sau khi dạy cho Dighanakha cách
quán chiếu tấm thân vật chất xong, Đức Phật
nói tiếp về cách quán chiếu ba loại cảm thọ: lạc thọ, khổ thọ và xả
thọ.
Cả ba loại cảm thọ chẳng thể
nào cùng hiện hữu cùng một lúc được. Nếu một
cảm thọ đang hiện diện thì hai
cảm thọ kia phải vắng mặt lúc ấy. Vì một cảm thọ
đẩy lùi hai loại cảm thọ kia khi nó
khởi lên, nên thiền giả có thể lưu ý thấy rõ sự chuyển biến từ loại cảm
thọ nầy sang loại khác. Và khi nhận thấy rõ sự chuyển biến nầy thì bản thể
vô thường của các cảm thọ được hiểu thấu
tường tận.
Tùy thuộc vào các
điều kiện yếu tố nhơn duyên mà các cảm
thọ sanh khởi lên. Trong khi ghi nhận các hiện tượng vật chất và tâm linh
(trong cơ thể) ta có thể hiểu rõ được tương
quan duyên khởi và bản thể tịch diệt của chúng sau khi khởi sanh.
Đại lão Hoà thượng Mahàsi (Mahàsi
Sayàdaw) có chỉ dạy cho các thiền giả một phương pháp hữu hiệu
để nhận thức
được rõ ràng sự chuyển biến của các
hiện tượng đó. Lời chỉ dạy,
để cho sự ghi nhận được thành công,
đã căn
cứ trên sự phình lên và xẹp xuống của bụng.
Tại sao lại cái bụng? Cũng như
hơi thở đang ra vào
đều đều,
biểu hiện cho sự sống, cái bụng cũng phình lên và xẹp xuống nhịp
nhàng theo hơi thở. Do đó, rất dễ dàng
hơn cho thiền giả giữ vững được tiêu
điểm vào sự phình lên xẹp xuống của
cái bụng và quay trở lại chỗ đó, sau vài
lúc nếu có ngưng lại vì lơ lảng trong việc ghi nhận.
Khi thiền giả
đặt tiêu
điểm vào các chuyển động của bụng, chỉ
ngưng lại để ghi nhận trong tâm các sự lơ lảng tạm thời, thì các
cảm thọ đau
đớn trên cơ thể có thể khởi lên. Thiền
giả vừa hay biết cảm giác đau
đớn đó liền phải ghi nhận ngay trong tâm
ý rằng "đau, đau, đau". Khi một
cảm thọ khó chịu khởi lên, cũng ghi nhận rằng "khó chịu, khó chịu, khó
chịu".
Một lạc thọ phải
được ghi nhận rằng "sướng, sướng"
Và nếu thiền giả cảm thấy vui, thì ghi nhận rằng "vui, vui".
Nhưng đối với các xả thọ, khi chúng
khởi lên, rất khó mà để ý
đến, vì chúng chẳng gây sự chú tâm nơi
ta. Thiền giả chỉ cần tiếp tục ghi nhận trong tâm ý các hiện tượng vật
chất và tâm linh nào hiện đang rõ rệt.
Như vậy, thiền giả sẽ thấy rõ
các cảm giác thích thú và khó chịu vừa mới khởi lên và rồi lại biến mất
đi. Thiền giả sẽ hiểu thấu bản thể vô
thường của chúng, bản thể bất toại nguyện và bản thể vô ngã (chẳng có linh
hồn nào cả). Khi ba đặc tướng
đó đã rõ ràng, minh bạch nơi tâm tư,
thiền giả sẽ cảm thấy chán ngấy chúng, chán ngấy tất cả các hiện tượng và
chán ngấy sự khởi sanh rồi biến diệt của chúng.
Đức Phật liền cắt
nghiã
cho Dighanakha biết làm cách nào mà cái tri kiến minh sát về tuệ giác
quán chiếu chán ghét (nibbidànupassanà nàna) khởi lên trong tâm
thức của thiền giả. Tuệ ấy khởi lên khi, đã
thấy rõ ba đặc tướng của thọ uẩn, ta
trở nên chán ngấy về cả ba loại cảm thọ: lạc thọ, khổ thọ và xả thọ. Mục
tiêu của việc thực tập về thiền Minh sát là
để đạt được tuệ giác quán chiếu nhàm chán (nibbidànupassanà
nàna) một khi, bằng thể nghiệm, hành giả
đã vươn tới mức thấy được bản
thể sanh khởi và biến diệt của các hiện tượng vật chất và tâm linh.
Trong bản Kinh Trường Trảo (Dighanakha)
nầy, các loại hiện tượng vật chất còn chưa
được phân tách ra từng chi tiết. Lời giảng dạy chỉ bao gồm việc
quán chiếu về sự tập hợp hình thức biểu kiến của các hiện tượng vật chất.
Một điểm đáng lưu ý là mặc dầu còn
chưa phân tách tỉ mỉ hiện tượng vật lý như trong bộ Luận tạng A tỳ
đàm (Abhidhamma), thiền giả vẫn
có thể đạt đến sự thể nghiệm về tuệ
giác quán chiếu nhàm chán (nibbidànupassanà nàna).
Lại còn một
điểm đáng ghi nhận là trong bản Kinh
nầy, khi quán chiếu các hiện tượng tâm linh, chỉ có sự giải thích về ba
loại cảm thọ được khai triển mà thôi,
chớ các loại hiện tượng tâm linh khác còn chưa
được bàn
đến. Nhưng vì một khi đã hay
biết được sự hiện khởi của ba loại cảm
thọ đó rồi, thì cũng
đã đủ
khiến cho thiền giả đạt được tri
kiến minh sát về tuệ giác quán chiếu nhàm chán (nibbidànupassanà
nàna).
Đức Phật cũng giải
thích
các tri kiến về đạo, về quả,
về hồi niệm, được diễn ra trong
trí tuệ của hành giả khi vị nầy chứng
đắc được sự giác ngộ. Khi thiền giả đã
cảm thấy nhàm chán việc quán chiếu bản thể vô thường của các hiện tượng
vật chất và tâm linh, thì sự bám níu được
quét sạch và tri kiến về đạo
tuệ sanh khởi lên.
Do sự sanh khởi của tri kiến về
A la hán đạo và A la hán quả
(Arahatta magga anh phala), hành giả
được hoàn toàn giải thoát khỏi mọi khổ
ách. Khi đạt đến giai
đoạn hoàn toàn giải thoát nầy, thiền
giả nhận ra ngay mình được giải thoát
trọn vẹn. Được giải thoát xong như
thế, vị ấy liền hồi niệm để duyệt xét
lại như sau: "Ta chẳng cón phải tái sanh nữa. Ta
đã thực hành hoàn toàn Bát Chánh
Đạo rồi. Ta đã làm xong
điều cần phải làm, và Ta chẳng còn
điều gì phải làm thêm nữa
để được giải thoát."
Kế
đó, Đức Phật giải thích thế nào là giai
đoạn tối cao của sự giác ngộ
được chứng
đắc và tri kiến về hồi niệm
đã diễn ra như thế nào nơi một bực A
la hán. Ngài cũng cắt nghiã cho Dighanakha biết các bực
đã chứng
đắc được đạo quả đó chẳng hề tranh
cãi với bất cứ một ai: "Nầy thiện nam tử Dighanakha, bực A la hán có thể
dùng các ý niệm như Tôi, Anh, đàn
bà và đàn ông, nhưng vị ấy
chẳng hề nhận thức họ như là những thực thể về nhân vật, hoặc có linh hồn
hiện hữu. Lý do tại sao vị ấy chẳng tranh cãi với bất cứ ai, là vì vị ấy
đã nắm vững
được Chơn Lý."
Trong bản Kinh Bông Hoa (Puppha
Sutta), nơi Phẩm Tương ưng Uẩn (Pali: Khandhavagga) (Đại
Tạng Việt nam, Tương Ưng Bộ Kinh, Q.3, Ph. Hoa, trang 249 và kế tiếp),
Đức Phật cũng có nói: "Ta chẳng hề
tranh cãi với một ai; nhưng những kẻ như các du sĩ Sisaka, Vekhanassa,
Vikhanatha, Assalàyana và một người giàu có tên Upàli lại
đến đây để tìm cách tranh cãi với Ta.
Đem Chơn Lý ra nói lại với họ chẳng có
nghiã là tranh cãi, bởi vỉ những gì Ta đã
nói với họ đều là Chơn lý cả."
Chẳng phải chỉ có
Đức Phật thôi, mà bất cứ ai
đang diễn giảng theo
đúng Chánh Pháp chơn thật cũng chẳng
nên được xem là
đang tranh cãi với kẻ khác. Các vị ấy
đang giải thích Chơn Lý cho những
người đang tìm cách tranh cãi, chống
lại Chơn Lý đó. Nói lên Chơn Lý chỉ có
nghiã là đang cố gắng giáo hoá những
người còn mê mờ.
Trong khi
Đức Phật đang giảng dạy cho Dighanakha
nghe về ba loại cảm thọ, thì Đại
đức Xá lợi phất vẫn liên tục
đứng quạt hầu sau lưng Đức Phật, tai lắng
nghe kỹ hết các lời giảng giải. Sau thời pháp,
Đại đức
đạt đến giai đoạn hoàn toàn
giác ngộ, và từ quả vị Tu đà huờn, ông
trở thành một bực A la hán.
Một thuyết khác về sự giác ngộ
của Đại
đức Xá lợi phất được tìm thấy
trong bản Kinh Bất Đoạn (Anupada
Sutta) (Đại Tạng Việt Nam, Trung
Bộ Kinh, Q.3, trang 153 và kế tiếp) thuật lại rằng vào ngày rằm,
Đại đức đã
trở thành bực A la hán do quán chiếu bản thể vô thường của các yếu tố
thiền định (Jhàna factors). Và
cũng trong một bản Kinh khác nữa, Đại
đức Xá lợi phất có nói rằng chính ông
đã chứng
đắc quả vị A la hán nhờ quán chiếu nội pháp (internal
Dhamma). Cả ba thuyết đều phù hợp
nhau cả, nếu chúng ta kết luận rằng Đại
đức đã
đạt đến giai đoạn tối cao của
sự giác ngộ nhờ nghe giảng Chánh Pháp trong khi
đồng thời nhập vào Thiền
định và quán chiếu các cảm thọ tương
tùy (kèm theo) của giai đoạn Thiền
định đó. Sau bài pháp của
Đức Phật, Dighanakha chứng được đạo và
quả Tu đà huờn.
Đó là nhờ vào tuệ giác thiền Minh sát
mà ông đã chứng
đắc được khi quán chiếu cảm thọ,
vedanà.
Sau khi thuyết giảng xong bài
pháp, Đức Phật rời núi Linh thứu và
dùng thân thông trở lại tu viện Veluvana (Trúc lâm). Kế
đó, với sức thần giao cách cảm, Ngài
đã triệu tập một
đại hội Tăng
già. Đại
đức Xá lợi phất, với thần thông vừa
đắc được, đã nhận được thông
điệp và cũng dùng thần thông
đi đến nơi hội họp. Có tất cả 1 250 vị
tỳ kheo tham dự Đại hội nầy.
Cuộc hội họp các tỳ kheo nầy
đáng ghi nhớ vì bốn lý do
đặc biệt: (1) thời gian là
đêm rằm tháng Hai trăng
tròn, có sự trùng hợp thiên văn với
các hành tinh Marga (?); (2) chẳng có vị tỳ kheo nào nhận
được lời mời họp, nhưng tất cả đều được thông
báo bằng thần giao cách cảm; (3) tất cả các tỳ kheo
đều có đầy đủ sáu món thần thông; và
(4) tất cả các tỳ kheo trước đây được Đức
Phật truyền giới cho bằng cách tuyên phán: "Thiện lai, Tỳ kheo!."
Nếu ta biết quán chiếu
đúng đắn
các cảm thọ, thì tuệ giác về đạo
và quả có thể chứng đắc được. Thật ra,
chẳng có một thực thể bản ngã nào hiện hữu trong các cảm thọ. Cảm
thọ thì vô thường, chẳng có bản thể nào tìm thấy trong chúng cả.
Đức Phật ví cảm thọ với các gợn sóng lăng
tăng khi một hòn
đá quăng xuống nước, và cũng ví với
các bọt nước khi mưa rơi trên sông hồ. Cũng như các bong bóng trên mặt
nước, các cảm thọ trên thân thể cũng khởi lên rồi biến diệt lúc nầy qua
lúc khác. Sự sanh khởi và biến diệt của các cảm thọ
được các thiền giả thực tập Thiền Minh
sát quán chiếu rõ ràng.
Thường nhơn nghĩ rằng lạc thọ,
khổ thọ và xả thọ kéo dài mãi vô tận. Tuy nhiên, nếu ta luôn luôn tỉnh
giác về các hiện tượng vật chất và tâm linh khởi lên tại ngưỡng cửa của
sáu căn, mỗi khi đang thấy, nghe, ngửi, ăn,
sờ và suy nghĩ, thì sự biến diệt của cảm thọ ở mỗi một chốc cũng
được quán sát kỹ. Sự quán sát nầy trở
nên rõ ràng khi ta chứng đắc được
tuệ giác quán chiếu thấy sự sanh và diệt (Udayabbayànupassanà nàna).
Tuệ giác vừa nói trên là sự thể
nghiệm tri kiến thấy được sự sanh khởi
và biến diệt của các hiện tượng vật chất và tâm linh. Tuệ giác kế tiếp là
tuệ giác quán chiếu biến diệt (Bhangànupassanà nàna) tức là
tri kiến thể nghiệm thấy rõ sự diệt tan của các hiện tượng vật chất và tâm
linh. Như thế, trí huệ sẽ thấy được rõ
ràng rằng các cảm thọ giống nhau với các bong bóng nước. Thiền giả có thể
hiểu được qua kinh nghiệm bản thân
rằng các cảm thọ đều vô thường và ta
chẳng thể nào đặt sự kiểm soát lên
trên chúng được.
Một người chẳng thực tập Thiền
Minh sát, hoặc một thiền giả chưa chứng đắc
đầy đủ định tâm, có thể còn
chưa đủ khả năng
để nhìn thấy sự biến diệt của cảm thọ cho rõ ràng. Và vì thế mà
người ấy vẫn tiếp tục tưởng rằng các cảm thọ
đều thường hằng, đáng thích, hoặc có
một tự thể riêng biệt. Trong bản Kinh Chúng sanh, (Satta
Sutta), có hai từ ngữ dùng để chỉ một
người thường nhơn: "chúng sanh" và"bám níu vào" (hoặc"tríu
mến vào", hay "vướng mắc") Như đã
được định nghiã trong bản Kinh, hai từ
ngữ đó liên quan
đến sự tríu mến vào các cảm thọ, hoặc
là bị dính mắc mạnh mẽ vào năm uẩn.
3.- Tưởng
uẩn (Sannàkkhandha): Tập hợp các tri giác . ^
Kẻ nào còn tríu mến các tri
giác hoặc còn vướng mắc vào tưởng uẩn, tức là tập hợp các tri giác, thì
được gọi là chúng sanh (satta).
Có tất cả sáu loại tri giác:
(1) tri giác về sự vật được thấy;
(2) tri giác về âm thanh,
(3) tri giác về mùi,
(4) tri giác về vị,
(5) tri giác về xúc chạm,
(6) tri giác về pháp (= sự vật).
Tưởng uẩn, sự tập hợp của các
tri giác, được thường nhơn phô diễn ra
thành "Tôi cảm nhận hoặc Tôi nhận thấy". Khi một vật
được thấy đến thì tri giác liên quan
đến vật được thấy đó như là: "Đây
là một người, đây là một phụ
nữ, (hoặc đàn ông), hình dạng như thế
nầy, thời gian vào lúc ấy, điạ
điểm ở chốn nào
đó, v.v." Nếu có một vật gây tiếng
động được nghe đến, thì một tiến rình
tri giác tương tự cũng khởi lên. Khi kẻ nào nhớ lại các sự vật theo cách
đó, thì tưởng uẩn
được diễn
đạt, một cách sai lầm, như một thực thể cá nhơn. Sự diễn
đạt sai lầm đó là do sự tríu mến hay
sự bám chặt hoặc sự dính mắc vào các tri giác.
Đức Phật đ
ã ví tưởng uẩn
như một ảo ảnh, một hiện tượng huyển ảo đã
hiện ra như có thật. Trong sa mạc, ảo ảnh của vũng nước hoặc một ốc
đảo có thể hiện lên. Khi ta lái xe vào
một buổi nắng thật nóng nực, đoạn đường ở gần
phiá trước xem như đang ngập nước. Người ta thường nói vào mùa hè
loài nai ở Ấn độ, bị ảo ảnh xúi gạt,
đua nhau
đến chỗ vũng nước thường uống, để chỉ nhận thấy rằng vũng đã cạn
khô. Nhưng một ảo ảnh chỉ là một sự sai lầm về nhãn quan, do các tia sáng
từ các lớp không khí có trọng lượng và nhiệt
độ khác nhau đã gây nên.
Cùng một thế ấy, những kẻ cảm
nhận sai lầm về cái thấy, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm và pháp (= sự
vật) thì cho đấy là
đàn ông,
đàn bà, thú vật, v.v. Họ bị dính mắc vào các sự giải thích sai lầm,
bị bóp méo, của tri giác. Do đó mà một
cá nhơn được gọi là chúng sanh
(satta), nếu đã bám chặt vào
tưởng uẩn, hoặc đã bị vướng mắc nặng
nề vào tưởng uẩn.
Để vứt bỏ cái quan
kiến
sai lầm đó, thiền giả phải tỉnh thức
đối với tất cả các hiện tượng vật chất
và tâm linh khởi sanh nơi ngưỡng cửa của sáu căn.
Khi một người đã đạt đến một trình
độ định lực mạnh mẽ, tương quan nguyên
nhân và hậu quả sẽ nổi lên rõ rệt trong tâm trí. Khi nào mối tương quan
đó được ghi nhận, thiền giả lâm thời
sẽ thể nghiệm thấy được sự biến diệt
của các hiện tượng vật chất và tâm linh.
Thế rồi, những gì trước
đây được cảm nhận như là thường hằng
-- một cá nhơn, đàn bà,
đàn ông, một thực thể tự ngã -- nay
được hiểu thấu rằng đấy chỉ là sự dối
gạt. Sự dối gạt đó cũng giống như một ảo
ảnh, một ảo tưởng của nhãn quan. Trên thật tế, vị thiền giả bằng sự thể
nghiệm của chính bản thân, sẽ thấy rõ được
bản thể của sự khởi sanh và sự biến diệt của mọi hiện tượng. Vị ấy
sẽ hiểu thấu rõ ràng rằng đặc tướng
chung của các hiện tượng đó là vô
thường, gây đau khổ và chẳng có linh
hồn gì cả.
4.- Hành
uẩn (Sankhàrakkhandha): Tập hợp các tâm hành. ^
-- Nầy thiện nam tử Ràdha,
Đức Phật nói, lý do khiến một kẻ
được gọi là chúng sanh (satta)
là vì sự kiện có các hành vi cố ý (tâm hành)
được tríu mến, hoặc bị vướng mắc nặng nề."
Có hai loại tâm hành (sankhàra):
(1) hành vi chịu ảnh hưởng của các điều kiện,
(2) hành vi tạo điều kiện gây ra ảnh hưởng.
Loại tâm hành thứ nhứt, chịu
điều kiện hoá, là những hiện tượng vật
chất và tâm linh khởi sanh ra do bốn yếu tố:
(1) hành vi cố ý, tạo nghiệp (kamma),
(2) ý thức,
(3) thời tiết, và
(4) thức ăn bồi dưỡng.
Bắt
đầu từ lúc được quan niệm, các hiện
tượng tâm linh bị điều kiện hoá là tâm
thức và các tâm sở tương tùy. Các hiện tượng tâm linh phát triển tiếp theo
sau đó gồm có: (1) tánh nhạy cảm của
mắt, (2) tánh nhạy cảm của tai, (3) tánh nhạy cảm của mũi, (4) tánh nhạy
cảm của lưỡi, (5) tánh nhạy cảm của thân và (6) tâm căn.
Tất cả các món trên đều là các
tâm hành (sankhàra) chịu ảnh hưởng của nghiệp lực trong quá
khứ.
Các tâm hành bị
điều kiện hoá nầy, chịu ảnh hưởng của
ý thức, gồm có tất cả các hành vi vật chất của thân và của miệng. Cúi
xuống, duỗi ra, di chuyển, đi, đứng, ngồi,
nói, mỉm cười -- tất cả đều là những
tâm hành do ý thức tạo nên. Các tâm sở tương tùy hỗ tương nhau mà sanh
khởi, cái nọ ảnh hưởng đến cái kia. Có thể
gọi chúng là những tâm hành tạo điều
kiện gây ảnh hưởng, hoặc là những tâm hành bị
điều kiện hoá.
Nhiệt
độ nóng hay lạnh là những hành uẩn bị
điều kiện hoá do ảnh hưởng của thời
tiết. Sự thay đổi sức nóng trong cơ
thể sau khi tiêu hoá thức ăn là do
hảnh uẩn bị điều kiện hoá bởi ảnh
hưởng của thức ăn bồi dưỡng. Các tâm
trạng liên tiếp nhau và các tâm sở cũng là những tâm hành bị
điều kiện hoá, vì chúng chịu ảnh hưởng
của những hiện tượng tâm linh đã xảy
ra trước chúng.
Do
đó, tất cả hiện tượng vật chất và tâm linh, bị
điều kiện hoá do bốn yếu tố: nghiệp
lực, ý thức, thời tiết và thức ăn bồi
dưỡng, đều được gọi là những hành uẩn
bị điều kiện hoá. Và các hành uẩn nầy,
vì bị các nguyên nhân liên hệ ảnh hưởng đến,
nên cũng đều là vô thường và
gây đau khổ.
Theo
Đức Phật, khi được nhìn qua tuệ giác
minh sát, thì năm uẩn được thấy ra như là
vô thường, gây đau khổ và khiếm khuyết
một tự thể. Để có thể thấy rõ và hiểu
thấu ba đặc tướng của các hành uẩn vật
chất và tâm linh đó, thiền giả phải
luôn luôn tỉnh thức lưu tâm đến chúng, mỗi
khi chúng sanh khởi lên.
Khi cường
độ của định lực trở nên
đủ mạnh, thì trong tâm trí có khởi lên
sự hay biết rất bén nhạy về việc sanh khởi và biến diệt của ba
đặc tướng, dầu chúng thoáng qua trong
giây lát. Như thế, bản thể vô thường của chúng sẽ trở nên rõ rệt trong tâm
trí của thiền giả. Dưới áp lực nặng nề do nơi sự sanh khởi và biến diệt
chẳng ngừng của các tâm hành, hành giả cảm thấy lo sợ về chúng. Rồi bản
thể gây đau khổ cũng trở nên rõ ràng
thêm trong tâm trí vị ấy. Đường lối quán
chiếu nầy đã
được sự thực tập, do
Đức Phật chỉ dạy, công nhận.
Chúng ta sắp cứu xét loại hành
uẩn thứ nhì, tức là loại gây ra các điều
kiện tạo nên ảnh hưởng. Theo văn kinh
trong Tạng Pali, Tương ưng Bộ Kinh, Phẩm Uẩn (Samyutta, Khandha Vagga)
loại hành uẩn nầy được định nghiã như
là hiện tượng gây nên các hành vi vật chất và tâm linh.
Trong ngũ uẩn, mỗi uẩn có chức
năng riêng của nó và chỉ thực hiện
được chức năng
ấy mà thôi. Tuy nhiên, sắc uẩn rất đặc
thù, độc nhứt. Mặc dầu chẳng thể tự
mình làm được gì, nhưng sắc uẩn lại
được biến
đổi bởi các yếu tố đối nghịch
về môi trường. Do nơi thực chất của nó, sự biểu hiện của sắc uẩn chỉ nổi
bật lên khi nó được chuyển biến bởi
các hành uẩn.
Thọ uẩn chỉ có
được thể nghiệm qua các
đối tượng thích thú, chán ghét hay
trung hoà. Cũng như một người thơ ký, tưởng uẩn chỉ biết ghi nhận mà thôi.
Còn thức uẩn thì chỉ hay biết suông thôi về các
đối tượng, chỉ thấy, chỉ nghe, v.v.
Nhưng với hành uẩn, thì đi, đứng, ngồi, nằm,
cúi xuống, duỗi ra, di chuyển, mỉm cười, nói, suy nghĩ, thấy, nghe,
và tất cả các hoạt động về vật chất
hay tâm linh đều do hành uẩn gây nên
cả. Ước muốn đi, đứng, ngồi và nằm
ngủ, tất cả đều do hành uẩn cả.
Được h
ành uẩn thúc
đẩy, tất cả các động tác về vật lý, về
lời nói, hay về tâm linh, khởi sanh lên. Do
đó mà sự biểu hiện của hành uẩn dưới hình thức vật chất, lời nói,
hay tâm linh mới bị nhận ra một cách lầm lẫn là do một thực thể tự ngã nào
đó, do cái ‘Tôi’ nào
đó, đã thực hiện,
để rồi từ dó mà nẩy sanh ra sự luyến
mộ hoặc sự vướng mắc vào.
Thực ra, hành uẩn chẳng hề có
một cốt tủy nội tại nào cả, chẳng hề có một linh hồn nào cả. Sự biểu hiện
của hành uẩn chỉ là các hiện tượng thiên nhiên xảy ra do theo một tiến
trình thuộc tương quan nhân quả mà thôi. Hành uẩn chẳng có linh hồn và vì
thế mà các chúng sanh mới bị đè nén.
Nơi hành uẩn, chẳng có một cốt lõi, chẳng có một bản thể nào cả, chỉ có sự
gây nên đau khổ mà thôi.
Kẻ nào giao du với bạn dữ, hay
theo học với một vị thầy xấu, hoặc suy tư chẳng
đứng đắn
về các kinh nghiệm bản thân mình, thì có thể phạm vào các hành vi
bất thiện về thân thể, về lời nói và về tâm ý. Các thí dụ về hành vi bất
thiện và đáng trách, trong cuộc đời hiện
tại, gồm có việc vi phạm luật pháp và trật tự, uống rượu, dùng các chất ma
túy và cờ bạc.
Bị ảnh hưởng bởi sự tham lam và
giận hờn, các hành động và lời nói
chẳng thích đáng đưa đến sự mất mát
tài sản, bị trừng phạt, mất bạn bè, và phải chịu các tai nạn trong cuộc
đời hiện tại nầy. Và vượt xa hơn cõi
đời hiện tại, thì phải chịu tái sanh
vào các ác đạo. Để tránh khỏi các điều bất
hạnh đó, chúng ta cần phải nên hiểu rõ
rằng chúng ta đang bị đè nặng dưới các
hành vi cố ý của hành uẩn.
Nhìn kỹ với tuệ giác minh sát,
ta có thể quan sát thấy chẳng có một thực thể tự ngã nào, một cốt lõi nội
tại nào, một bản thể nào đang hiện hữu
trong hành uẩn cả. Vì thế cho nên Đức Phật đã
ví hành uẩn như các bẹ chuối. Các bẹ ấy trông giống như một thân cây và
dường như có một lõi cứng chắc ở trong ruột. Tuy nhiên, nếu dùng dao mà
cắt và lột từng bẹ ra, thì ra nó là rỗng ruột, chẳng có lõi, chẳng cốt tủy
nào cả. Chỉ có bẹ, từng bẹ, từng bẹ, lớp nầy
đến lớp khác. Cũng như thân cây chuối, hành uẩn chẳng hề có một cốt
tủy nội tại nào có giá trị cả.
Hành uẩn gồm có năm
mươi hai tâm sở tương tuỳ, do tâm sở tác ý (cetana)
cầm đầu. Hai mươi tâm sở quan trọng
nhứt trong số đó là:
(1) tâm sở xúc (phasa)
khởi lên khi các phần nhạy cảm của sáu căn
tiếp xúc với các đối tượng như
các vật được thấy, các tiếng được nghe, v.v.,
(2) tâm sở chú tâm (manasikarà)
khởi lên khi có sự chú ý đến các sự
vật,
(3) tâm sở
định (ekaggatà) khi có
sự tập trung tâm ý vào một điểm duy
nhứt trên đối tượng,
(4) tâm sở tầm (vitaka)
là sự tiếp xúc sơ khởi của tâm lên đối
tượng,
(5) tâm sở tứ (vicàra)
là sự tiếp xúc kéo dài liên tục dán chặt tâm lên trên
đối tượng
để khán nghiệm,
(6) tâm sở nỗ lực (viriya),
gắng sức
(7) tâm sở tham (lobha)
(8) tâm sở sân hận (dosa),
giận hờn, (9) tâm sở vô minh (moha), mê muội,
(10) tâm sở kiêu mạn (màna),
phách lối,
(11) tâm sở tà kiến (ditthi),
ý kiến sai lầm, (12) tâm sở nghi ngờ (vicikicchà)
đối với Đức Phật, Chánh Pháp và Tăng
già,
(13) tâm sở vô tham (alobha),
chẳng tham lam,
(14) tâm sở vô sân (adosa),
chẳng giận hờn,
(15) tâm sở vô si (amoha),
chẳng mê muội,
(16) tâm sở tín (saddhà),
tin tưởng,
(17) tâm sở tỉnh giác (sati),
(18) tâm sở từ (metta),
(19) tâm sở bi (karunà),
(20) tâm sở hỉ (mudità).
Thân hành, khẩu hành và ý hành
do tâm sở tác ý (cetanà) thúc
đẩy và tạo nhiều hành nghiệp (sankhàra dhamma). Tuy nhiên,
chỉ có các tâm hành chịu điều kiện
hoá, các hành vi, lời nói và động tác
tâm ý, mới được thấy rõ ràng hiển
nhiên.
Tà kiến cho rằng "mọi hành
động đều do ‘Tôi’ làm cả" sở dĩ
đã khởi lên
được là do các hành nghiệp. Vì thế cho
nên Đức Phật có nói: "Khi một kẻ nào
hoặc tríu mến, hoặc bị vướng mắc nặng nề vào hành uẩn, thì kẻ ấy
được gọi là một chúng sanh (satta).
5.-
Thức uẩn (Vinnanakkhandha): tập hợp các sự hiểu biết.
^
Đức Phật có nói
: "Nầy
thiện nam tử Ràdha, sự luyến mộ vào ý thức hoặc vào thức uẩn xảy ra nơi
các sanh vật. Khi sự luyến mộ vào ý thức xảy ra, thì sanh vật
đó được gọi là một chúng sanh (satta)."
Thức uẩn gồm có:
(1) nhãn thức,
(2) nhĩ trhức,
(3) tị thức,
(4) thiệt thức,
(5) thân thức, và
(6) ý thức.
Sáu loại thức
đó đã
được nhận thức một cách sai lầm như có một tự ngã, hoặc linh hồn,
bởi vì chúng có các đặc tánh khác với
các vật vô tri như phiến đá, hòn
đất, miếng gỗ và
đồ sành. Cho nên khi ý thức nhận thức
bất cứ sự vật nào tiếp xúc với ngưỡng cửa của năm
giác quan, thì sự ý thức đó được giải
đoán ra như thể một tự ngã, hoặc một
linh hồn. Thật sự ra chẳng hề có một linh hồn, hoặc một thực thể tự ngã
nào nơi thức uẩn cả.
Trong số năm
mươi hai loại hiện tượng tâm linh, phần
đông dân chúng trên thế gian nầy chỉ
nhận thức ra được có ý thức thôi, và
hiểu cho đó là "tâm trí" hoặc là "linh
hồn". Họ còn chưa đủ khả năng
để phân biệt các tâm sở tương tùy khác, như tâm sở xúc, tâm sở tác
ý, tri giác, cảm thọ, v.v.
Chẳng phải chỉ
đối với nhơn loại, mà các bực Trời
cũng nghĩ rằng ý thức chính là tự ngã, hoặc linh hồn. Nhưng dầu cho dân
chúng có thấy hay nghĩ gì đi nữa, thì
cái tự ngã, cái linh hồn cũng chẳng hề hiện hữu bao giờ cả. Khi còn khiếm
khuyết về trí huệ thâm sâu, một người có thể bám chặt vào ý thức và tin
tưởng rằng đó là một linh hồn vĩnh
cửu.
Đức Phật ví ý
thức như
một huyễn thuật, một ảo tưởng suông, một mánh khoé của nhà ảo thuật.
Thường nhơn lầm xem nhãn thức như là một người
đàn bà, một người
đàn ông, một con chó, một con mèo, một
con gà mái, một con chim, v.v. Họ cũng nhận
định sai lầm về ý thức như là "Tôi" thấy, "tôi"nghe, "tôi" ngửi,
"tôi" nếm, "tôi sờ" và "tôi" nghĩ. Sự hay biết
được quan niệm sai lạc như thế thật
hoàn toán trái ngược với Chơn lý tuyệt đối.
Do các quan niệm lầm lạc đó mà
ta bám níu vào thức uẩn như một thực thể thường hằng. Bởi thế cho nên
Đức Phật mới nói: "Danh tứ chúng
sanh được đưa ra để trỏ vào những
ai đã bị vướng mắc nặng nề vào thức
uẩn."
Có năm
loại ý thức khởi lên tại ngưỡng cửa của năm
giác quan:
(1) nhãn thức vào lúc mắt thấy,
(2) nhĩ thức vào lúc tai nghe,
(3) tị thức vào lúc mũi ngửi,
(4) thiệt thức vào lúc ăn, và
(5) thân thức vào lúc sờ mó.
Vào lúc mà ta thể nghiệm
đối tượng của giác quan, thì hình ảnh
và âm thanh còn chưa được ý niệm hoá
như là một thực thể về con người. Ý thức, tự nó, chỉ có
được một cơ năng:
sự hay biết suông về đối tượng.
Ý thức đó chỉ giản dị nhìn thấy hình
sắc của đối tượng, hoặc nghe
được âm thanh của tiếng
động mà thôi.
Tuy nhiên, nếu ta khảo sát tiến
trình tư duy, ta cũng sẽ thấy được ý
thức nơi cửa ý. Hồi tưởng lại và suy tư về các
đối tượng
đang hiện trước ngưỡng cửa của năm giác quan, ý thức cửa ý liền ý
niệm hoá các đối tượng
đó.
Nêu lên thí dụ về tiến trình tư
duy, một vị Sa di trẻ tuổi đắc được đạo
quả A la hán, đã chỉ dạy cho một vị Tỳ
kheo tên là Pautila cách thức làm thế nào để
quán sát ý thức. Và để cho các bạn
được lợi lạc có thêm vài kiến thức về tiến trình tư duy khởi diễn
ra như thế nào, chúng tôi sẽ vắn tắt cứu xét các giai
đoạn của ý thức khởi lên tại ngưỡng
cửa của mắt.
Khi một vật có thể cảm giác
đến được nhưng chưa có sự tiếp xúc
giữa vật đó với các phần nhạy cảm của
giác quan, thì hữu phần tâm (bhavanga consciousness), tức là
dòng liên tục của cuộc sống vẫn cứ bình thản trôi theo chiều của nó, chẳng
bị làm rộn. Nhưng khi một vật hữu hình đến
gần và xúc chạm vào phần nhạy cảm của mắt, thì dòng (liên tục) của
hữu phần tâm (bên trong) bị tạm ngưng trôi. Giây phút chót ấy của hữu phần
tâm được nhãn thức ở ngưỡng cửa mắt
thay thế và báo cho ý thức biết để chú
ý đến vật đang hiện ở trước mắt.
Khi việc thông báo ở cửa mắt
chấm dứt thì nhãn thức ở mắt hiện lên, và ngay trong lúc ấy, nhãn thức ở
mắt ấy chỉ hay biết suông về sự hiện diện của vật hữu hình ấy mà thôi. Khi
nhãn thức ở mắt biến đi, thì ý thức
tiếp nhận khởi lên và đón nhận đối
tượng của vật hữu hình đó. Khi ý thức
tiếp nhận biến đi, thì ý thức khảo sát
khởi lên để xét xem đối tượng vừa tiếp
nhận đó có đáng thích thú hay
đáng chán ghét. Khi ý thức khảo sát
biến đi, thì ý thức xác
định khởi lên, quyết
định xem đối tượng vừa khảo sát
đó có phải là
đáng thích hay đáng chán.
Tiếp theo sau ý thức quyết
định, có bảy thời động tác của tâm (javana)
kế tiếp nhau khởi lên để thể nghiệm
đầy đủ về
đối tượng. Khi thời động tác
tâm javana cuối cùng chấm dứt, thì có hai thời ý thức ghi nhận khởi
lên để duyệt lại tiến trình tư duy vừa
qua. Sau khi thời ý thức ghi nhận thứ nhì biến
đi, thì dòng hiện hữu hữu phần tâm
(bhavanga) trở lại trôi chảy đều
đều như trước. Đấy là các giai đoạn
thông thường của một tiến trình tư duy.
Tuy nhiên, khi một vật hữu hình
chẳng được xúc chạm thật mạnh mẽ vào
phần nhạy cảm của các giác quan, thì các thời
động tác của tâm (javana) sẽ có ít giai
đoạn hơn trong tiến trình tư duy.
Đôi khi tiến trình tư duy chấm dứt
ngay ở thời động tác ý thức thứ bảy,
mà chẳng được hai thời động tác ý thức
ghi nhận tiếp theo. Vào lúc cuộc sống nầy sắp chấm dứt, chỉ có năm
thời javana khởi lên, thay vì
đủ bảy thời như thường lệ. Và khi người bịnh
đã quá yếu ớt thì tiến trình tư duy ấy
lại ngừng ở ý thức quyết định.
Khi
định lực minh sát (vipassana)
trở nên thật mạnh mẽ, thì các giai đoạn của
tiến trình tư duy lại cũng ngưng ở ý thức quyết
định. Nhưng trong trường hợp nầy, hai
hoặc ba thời ý thức quyết định sẽ khởi lên
và các giai đoạn liên tục của tiến
trình tư duy ngưng lại. Điều nầy khiến cho dòng
hiện hữu bhavanga tiếp tục trôi chảy lại
đều đều chẳng bị gián
đoạn.
Trong sự mô tả vừa qua về tiến
trình tư duy trong việc nhìn thấy một vật hữu hình, ý thức chỉ hay biết
đến đối tượng ở cấp bực thực tại tuyệt
đối. Nhưng đó chỉ mới là bước
đầu. Tiến trình
đó còn chưa ý niệm hoá
đối tượng nhận thấy nơi mắt theo
đường lối quy ước thông thường, ví dụ
như thấy ra là một người đàn bà hơặc
là một người đàn ông chẳng hạn.
Tiến lên từ cấp bực thực tại
tuyệt đối sang cấp bực ý niệm hoá,
đòi hỏi có bốn giai
đoạn tiến trình tư duy. Tiến trình tư
duy khi thấy, như đã
được mô tả trước
đây, khởi lên trước nhứt, rồi
được vài ba thời
động tác tâm ý thức bhavanga
tiếp theo. Kế đó ba tiến trình tư duy
ở cửa ý xảy ra, bị ngắt quảng bởi một số thời
động tác tâm ý thức bhavanga.
Nơi tiến trình tu duy cửa ý lần
thứ nhứt gồm có mười thời như sau: một thời ý thức nơi cửa ý báo nhận
được đối tượng, bảy thời
động tác tâm ý thức bhavanga,
và hai thời ý thức ghi