Truyện ngắn: Có Một Thứ Được Giấu Trong Cốp Xe

01/04/202020:24(Xem: 6111)
Truyện ngắn: Có Một Thứ Được Giấu Trong Cốp Xe

minh hoa TRONG COP XE
Truyện ngắn

CÓ MỘT THỨ ĐƯỢC GIẤU TRONG CỐP XE

 

           Có một thứ được cất giấu, nếu nói là bí mật thì hơi quá, chỉ là hơi kín đáo trong cốp chiếc xe Future còn mới cáu xèng của anh. Anh lẳng lặng ghé chỗ cửa hàng bán vật liệu ống nước và sắt thép để mua nó, cất kỹ, lấy chiếc khăn lông dùng để lau bụi xe mà phủ úp lên che lại. Vợ con của anh chắc là không biết, vì xe là xe riêng của anh, không ai tò mò táy máy mở cốp ra làm gì. Vậy nên, người ngoài càng không hề biết.
          Nó, thứ được cất giấu kín đáo, đã nằm im trong cốp xe được gần ba tháng rồi vẫn chưa được sử dụng, mặc dù hằng ngày anh vẫn hi vọng, vẫn ham muốn dùng nó. Chưa đến lúc. Chưa có duyên. Anh mỉm cười nghĩ vậy.
          Anh mua thứ đó sau một lần bất chợt nhớ đến những tháng ngày nghèo khó gian nan của mình. Thuở hàn vi không phải xa xưa gì, chỉ chừng năm năm về trước thôi. Lúc đó anh còn đang làm thợ xây dựng, chạy chiếc xe máy cũ cà tàng cà rịch đi làm, vượt quãng đường gần mười cây số đi đi về về… Một buổi chiều mưa bay lất phất, trên đường chạy xe về nhà, qua đoạn xổ dốc Cầu Dứa thì xe tắt máy. Hết xăng. Trong túi không còn một đồng. Nếu như có cây xăng nằm gần đó thì anh cũng chào thua mà dắt bộ đi qua thôi. Tự trọng. Không thể mở miệng xin tiền người khác, làm phiền người không quen không biết. Thà dắt bộ gần năm cây số về nhà mà lòng được yên, tối ngủ không áy náy. Vậy là anh dắt bộ đi.
         Dòng người ngược xuôi đoạn đường ngoại thành rất thưa thớt, và chừng như ai cũng đang vội vã. Không ai đoái hoài gì đến một người đàn ông lầm lũi lội bộ đẩy chiếc xe máy đi dưới trời vẫn đang còn mưa bay bay... Anh chú tâm niệm Phật, đúng ra là niệm "Chuẩn Đề đà -la-ni", chỉ để thêm đạo lực, thêm ý chí mà vượt qua thời khắc khó khăn thử thách, quên đi mệt nhọc thân xác...
        Ngang qua cây xăng. Vắng hoe. Chỉ thấy một chị nhân viên ngồi trực trên chiếc ghế dựa, cắm cúi với chiếc điện thoại. Anh đẩy mạnh cho chiếc xe cùng mình lướt qua nhanh nhanh... Được mấy bước, chợt nghe tiếng xe máy rồ gần bên, rồi một giọng rang rảng cất lên:
      "Xì lốp hở?"
      Anh quay qua nhìn. Một phụ nữ lạ hoắc. Anh dừng lại, cười:
     "Không chị à..."
      "Vậy sao dắt bộ?"
      "Xe hết xăng, túi hết tiền rồi chị..."
      Người phụ nữ vui vẻ, cởi mở:
     "Trời đất... cây xăng kìa, quay vô chế đỡ một lít rồi chạy về nhà, tính sau..."
      Anh ngượng ngùng, gượng gạo:
      "À ừm... ừm... Tui có quen với chị không?"
      Hỏi xong, anh biết mình vừa hỏi một câu vô duyên thái thậm, nên đưa tay che miệng mình lại. Vô duyên thiệt.
       "Phải là quen mới giúp đỡ nhau sao?"
       Anh im bặt. Người phụ nữ mở túi xách, lấy ra chiếc ví nhỏ, rút đưa cho anh tờ giấy bạc năm mươi nghìn đồng.
       "Anh quay xe lại, vô chế đỡ xăng đi, chuyện nhỏ mà, đừng ái ngại..."
       Anh biết lỗi, nên nhận ngay tiền, cảm ơn người tốt bụng không quen biết. Người phụ nữ lạ rồ ga vot xe đi, sau khi buông một câu chúc an lành...Anh không bao giờ quên câu chuyện và gương mặt đầy nét phúc hậu của chị. Nếu tình cờ gặp lại chị giữa đám đông, anh cũng sẽ nhận ra ngay. Nhưng anh chưa có duyên gặp lại ân nhân của mình.
         Ba năm sau lần được ân nhân giúp đỡ khi lỡ đường, cha anh bán đất ruộng, chia cho mấy đứa con làm vốn sinh sống. Anh là con trai cả nên được chia đến nửa tỷ, đổi đời. Anh lập một nhóm thợ xây dựng gồm sáu người, là bạn bè đồng nghiệp gắn bó bao năm cơ hàn, anh làm ông chủ thầu nhỏ, nhận những công trình xây cất và sửa chữa, tân trang nhà cấp bốn, nên đỡ vất vã hơn xưa.
         Mới chiều hôm qua, trên đường về nhà, đến quãng dốc cầu vắng vẻ, anh bắt gặp một chàng trai trẻ đang dắt đẩy chiếc xe máy một cách khổ nhọc phía ngược chiều. Anh cho xe quay lại, đuổi đến nơi.
       "Xe bị gì vậy em?"
       "Dạ, xe hết xăng anh ơi..."
       "Chứ không phải lủng bánh hả?"
      "Dạ không. Hết xăng, mà em hết tiền chế xăng rồi..."
      "Thiệt vậy sao?"
       "Dạ thiệt mà. Không lẽ em rảnh em dắt bộ đi cho vui sao anh?"
       Anh khẩy cười. Anh hỏi vô duyên thiệt. Chúa tể vô duyên. Anh tắt máy, dựng xe gần bên xe của chàng trai, nhỏ nhẹ:
        "Mở cốp, mở nắp bình xăng ra đi, anh tiếp xăng cho..."
       Thấy chàng trai ngơ ngác, nhướng mắt nhìn anh, chần chừ, anh vừa mở cốp xe của mình, dựng yên lên, vừa nói:
       "Cây xăng gần đây nhất phải là hai cây số, bây giờ mà em có tiền trong túi thì em cũng phải dắt bộ thôi. Anh tiếp tế chút xăng cho nè..."
       Vậy là, lần đầu tiên anh dùng đến nó. Nó, ống cao su mềm, dài hơn nửa thước, đường kính nhỏ hơn ngón út của anh một chút, được anh lôi ra khổi chỗ cất giấu kín đáo.
       Mặt anh tràn trề niềm hân hoan khi xăng từ bên bình xe của anh đang chảy theo ống cao su đổ vào lòng bình xăng xe của người khác.
        Vui thiệt. Và sướng làm sao!

                                                                                                 Tâm Không – Vĩnh Hữu

 

Ý kiến bạn đọc
02/04/202006:04
Khách
Truyện hay quá đầy NHÂN BẢN. Nếu trên thế gian tất cả đều sống bằng TÌNH NGƯỜI biết nghĩ và thương người khác thì sẽ không có chiến tranh.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 281)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 341)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1288)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 925)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1289)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1015)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1528)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 2708)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4255)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 3824)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S