05. Hai Nhà Vua Hiền Ðức

29/08/201105:03(Xem: 6536)
05. Hai Nhà Vua Hiền Ðức

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòathượng Thích Ðức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế, California, 1998

Hai Nhà Vua Hiền Ðức

Một hôm đức Phật đangở trong vườn Trúc-Lâm thuộc thành Vương-Xá, giải đáp những điều thắc mắc chocác đệ tử, thì bất ngờ vua nước Câu-Tát-La đến xin được ra mắt hầu thăm Phật.Vừa trông thấy Phật, vua Câu-Tát-La thành kính cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật.Ðảnh lễ xong, vua Câu-Tát-La ngồi qua một bên. Ðức Phật hướng về nhà vua ôn tồnhỏi: "Bệ hạ có việc chi mà ngự giá đến đây một cách bất thường như thếnày?"

Nhà vua đáp:"Bạch đức Thế-Tôn! Vừa rồi con phê một vụ án khó xử, phải vận dụng nhiềutâm trí, phí nhiều thì giờ mà lòng vẫn thấy chưa được an ổn trọn vẹn".

Ðức Phật nói:"Hay thay! Hay thay! Thưa Bệ-hạ, trị nước an dân nên bằng vào sự công bằngđạo đức mà phê xử. Ấy là con đường thánh thiện trị quốc của bậc minh quân.Như-Lai tin Bệ-hạ thấm nhuần giáo pháp từ bi hỷ xả trí tuệ của Như-Lai, chắcthiên hạ đều được an cư lạc nghiệp".

Ðức Phật lại tiếp:"Có những nhà vua thời xưa không gặp được Phật chỉ nghiên đọc sách vở củacác bậc hiền triết mà khéo tu tâm trị quốc, thế mà cũng đã tránh được việc ác,hiện đời quốc gia được thanh bình thạnh trị, khi mạng chung, những nhà vua đóđược sanh về cõi trời hưởng phước báu đời đời".

Vua Câu-Tát-La nghePhật nói thế xong, liền thưa: "Bạch đức Thế-Tôn! Xin ngài thương xót kểcho con được biết một vài vị vua nào ở thời quá khứ, hành xử đạo đức chánhtrực, tiêu biểu để cho con học hỏi theo".

Ðức Phật nói:"Tốt lắm! Thưa Bệ-hạ! Thuở xưa có một vị vua, kinh đô ở thành Ba-La-Nại,sanh được một thái tử thông minh tuấn tú, tài đức song toàn, nên hoàng thânquốc thích, dân chúng lớn nhỏ đều quý mến. Thái tử tuổi vừa mười sáu, thì vuacha băng hà, và được triều thần suy tôn lên ngôi kế vị, lấy vương hiệu làPhạm-Ða-Ta. Vua Phạm-Ða-Ta đạo đức công bình, tánh tình thuần hậu trung trựchơn cả vua cha. Nhờ vậy mà tiếng thơm đồn xa, thiên hạ trong nước không cótiếng kêu ca ai oán, khắp nơi dân chúng an cư lạc nghiệp. Những vụ kiện tụngtrong nhân gian gần như không còn. Vua Phạm-Ða-Ta thấy dân chúng sống thanhbình, đất nước thạnh trị, nên lại càng tự xét mình về đường tu tâm dưỡng tánh,hành xử chánh pháp. Nhà vua ấy tự nghĩ rằng, chắc ta không thể nào thấy hết lỗilầm của ta. Vậy ta nên nhờ mọi người khác soi sáng nhắc chỉ dùm ta, như thế,họa hoằn mới có thể thấy được lỗi lầm của mình, và như thế ta mới thật sự tiếnbộ trên bước đường thánh thiện an dân trị quốc.

Nghĩ vậy rồi, nhà vualiền cho truyền rao khắp từ trong thành thị cho đến ngoài thôn quê: "Aibiết được lỗi lầm của đức vua nêu ra, thì sẽ được trọng thưởng. Ai có những oanức nên trình bày ra, thì sẽ được bảo đảm công minh xét xử".

Trải suốt hơn một nămtrời, lời truyền rao ấy lan khắp mọi nơi trong dân gian. Nhưng nhà vua chỉ tiếpnhận được những lời khen ngợi, mà không có một lời chê trách nào. Nhà vua tựnghĩ rằng, có lẽ vì ta ở ngôi vị đế vương đầy quyền uy tuyệt đỉnh thiên hạ, nênchẳng ai dám mở miệng ra phê phán lỗi lầm của ta chăng? Nghĩ vậy rồi, nhà vualiền bí mật gọi quan tể tướng đầu triều thay thế nhà vua xử lý việc triềuchính. Nhà vua lại bảo quan hầu cận đổi y phục thường dân cũng như ngài. Rồingài cùng với quan cận thần lặng lẽ lên ngựa ra khỏi hoàng thành. Suốt támtháng trời, nhà vua giả dạng thường dân đi khắp miền quê đô thị hỏi về đời sốngcủa dân chúng, hỏi về cung cách của nhà vua trị nước. Ðến đâu ai nấy cũng đềuhết lời khen ngợi vua của họ là bậc minh quân hiền đức.

Lúc bấy giờ có vị vuanước láng giềng tên là Ma-Ly-Ca được dân chúng từ trên đến dưới đều kính mếntài đức. Vua Ma-Ly-Ca cũng biết tu tâm dưỡng tánh, thi hành chánh sự công minhcũng đã từng giả dạng thường dân đi khắp trong nước để hỏi thăm về đời sống dântình, dò xem dân chúng đối với mình như thế nào.

Vào một dịp đi dự hộiquốc vương ở nước lân bang, giữa đường, xe vua Ma-Ly-Ca gặp xe vua Phạm-Ða-Ta.Quan đánh xe của vua Ma-Ly-Ca bảo vị quan đánh xe của vua Phạm-Ða-Ta rằng:

- "Anh tránh xera một bên, để cho xe đức vua Ma-Ly-Ca của ta đi trước".

Vị quan đánh xe chovua Phạm-Ða-Ta cũng nói: "Anh nên tránh xe anh ra, để cho xe đức vuaPhạm-Ða-Ta của ta đi trước mới phải".

- "Nhà ngươi nênbiết đây là xe của đức vua Ma-Ly-Ca, ngài là bậc vua hiền đức được toàn dân cảnước Kosala ca tụng".

Người đánh xe của vuaPhạm-Ða-Ta nghĩ bụng rằng: "Bên kia xe cũng đường đường là một nhà vua,thì biết phải làm sao để họ nhường cho xe của vua ta đi trước bây giờ?"

Ðang lúc suy tư tự tìmlời thuyết phục đối phương, thì như nghĩ ra một điều gì kỳ diệu, ông tự nói:"ờ! Ta có cách!"

Rồi xoay hỏi ngườiđánh xe hầu vua Ma-Ly-Ca kia: Vậy tuổi tác đức vua của nhà ngươi là baonhiêu?"

- Ðáp rằng: "VuaMa-Ly-Ca của ta bằng tuổi vua Phạm-Ða-ta của ngươi".

Khi hỏi đến diện tíchđất nước, dân số, quân lính, hoàng thân quốc thích, quần thần thì được quan hầukia cho biết thế lực của quốc vương Ma-Ly-Ca không kém gì thế lực của vuaPhạm-Ða-Ta. Người đánh xe của vua Phạm-Ða-Ta. Người đánh xe của vua Phạm-Ða-Talại nghĩ rằng, thế lực hai nước đã bằng nhau, bây giờ chỉ còn có cách sánh vềđạo đức thử xem ai hơn ai, nên liền hỏi: "Vua của nhà ngươi đức hạnh nhưthế nào? Lấy gì làm vinh quanh?"

Ðể trả lời, người đánhxe của vua Ma-Ly-Ca ngâm lớn rằng:

Với người thế lực hùngcường,
Vua tôi quyết thắngchẳng nhường cho ai,

Gặp người thanh nhãvăn tài,

Vua tôi khuyến lệnhững bài ái êm,

Với người đôn hậuthanh liêm,

Vua tôi quý mến lòngthêm kính nhường

Gặp kẻ hung ác đứngđường,

Ngài quyết trừng trịkhông đường thoát thân.

Ðọc xong bài thơ,người đánh xe cho vua Ma-Ly-Ca hỏi: "Vậy đức tánh của vua nhà ngươi nhưthế nào, sao không nói ra, để chúng ta cùng quyết định ai nên tránh đườngnhường xe cho đức vua của ai đánh được đi trước. Còn đức tánh của vua Ma-Ly-Cata thì đã rõ ràng như thế rồi đó".

Vị quan đánh xe chovua Phạm-Ða-Ta ôn tồn đáp:

Vua tôi hiền đức ônhòa,
Anh minh từ thiện nhànhà an vui,

Kẻ hung, người ác, hậnđời,

Vua tôi độ lượng dùnglời nhủ khuyên,

Khắp trong thiên hạlành hiền,

Bỏ lòng bỏn xẻn, tinhchuyên tu hành,

Vua tôi dân chúng tínthành,

Nói lời chân thật, giữmình tu tâm,

Việc lành nào chẳngkhông làm,

Việc ác nào chẳng lưutâm tránh chừa,

Ðức vua tâm hạnh đạithừa,

Nhân dân trên dướihưởng mưa phước lành.

Ngồi trong xe, nghe rõlời đối đáp, thấy rõ cung cách của vua tôi Phạm-Ða-Ta đã hơn hẳn mình, nên vuaMa-Ly-Ca liền bước xuống xe ra lệnh cho quan hầu kéo xe mình qua một bên đểnhường lối cho vua Phạm-Ða-Ta đi trước. Nhân đây vua Phạm-Ða-Ta dùng đạo lýkhuyến hóa vua Ma-Ly-Ca.

Những lời khuyến hóađầy đạo lý của vua Phạm-Ða-Ta như những giọt nước mát chảy sâu vào tim phổi vuaMa-Ly-Ca. Thế rồi, cả hai nhà vua sau khi chia tay từ biệt ai về nước nấy, mỗingười đều lấy đạo đức trị dân, còn chính bản thân mình thì ngày đêm ngoài việcquốc sự ra cũng hết sức chuyên cần tinh tấn tu tâm dưỡng tánh hành thiện bố thíkhông một chút giải đãi. Cả hai nhà vua ấy khi mạng chung đều sanh lên cõi trờihưởng phước báu và tiếp tục tu hành không đời kiếp nào gián đoạn.

Nói xong, đức Phậtkhai thị cho vua nước Câu-Tát-La biết rằng: Người đánh xe cho vua Ma-Ly-Catrong kiếp quá khứ đó, chính là tiền thân của Mục-Kiền-Liên ngày nay. Còn vuaMa-Ly-Ca của kiếp quá khứ xa xưa kia, chính là A-Nan. Người đánh xe cho vuaPhạm-Ða-Ta thuở xưa, chính là tiền thân của Xá-Lợi-Phất. Còn vua Phạm-Ða-Tatrong quá khứ đó, chính là tiền thân của Như-Lai ta đây vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 533)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 718)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1683)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1244)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1593)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1168)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1747)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3322)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4573)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4114)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S