MỤC LIÊN THANH ĐỀ

 TRUYỆN THƠ

 

Tâm Minh NGÔ TẰNG GIAO

 

LỜI NÓI ĐẦU

     Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên). Bà tính tình tham lam, độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi nặng nề, gây ra nhiều “nhân” xấu nên khi chết đi chịu “quả” ác, bị đày vào ác đạo, sinh làm loài ngạ quỷ, đói khát triền miên trong đại địa ngục.

     Ngài Mục Liên là một trong số mười đại đệ tử của Đức Phật, tài giỏi hàng đầu về thần thông. Một ngày ngài dùng “đạo nhãn” xem trong thế gian và nhận thấy mẹ mình bị sinh vào con đường đói khổ trong chốn địa ngục thẳm sâu, chịu bao nhiêu cực hình. Ngài thương xót nên mang cơm đến dâng cho mẹ. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên nên khi bà mẹ đưa cơm vào miệng thì cơm hóa thành ra than hồng, bà không ăn được.

     Ngài Mục Liên hết sức đau buồn, trở về bạch với Phật mọi sự tình và cầu xin Phật chỉ dạy cho phương cách cứu độ mẹ mình. Phật dạy rằng mặc dù lòng hiếu thảo của ngài vô cùng lớn lao và tuy rất giỏi về thần thông ngài cũng không thể một mình mà cứu độ được cho mẹ. Phải cần nhờ đến oai thần, đến đức lớn như biển, đến lực gia trì của chư tăng, ni trong mười phương, mới mong giải thoát được cho mẹ.

     Ngài Mục Liên đã thực hiện đúng những lời Phật dạy, vào ngày RẰM tháng BẢY, ngày lễ VU LAN, thành tâm kính lễ trai tăng nên mẹ mới thoát khỏi kiếp quỷ đói và sinh về cảnh giới an lành.

     Truyện MỤC LIÊN – THANH ĐỀ nhấn mạnh đến luật “nhân quả”, đến lòng hiếu thảo chí thành của ngài Mục Liên và công đức trì trai, giữ giới thanh tịnh trong ba tháng an cư kiết hạ của chư tăng, ni. Tất cả cùng thành tâm chú nguyện mà tạo ra sức mạnh cảm thông và kích thích đến tâm hồn bà Thanh Đề, làm bà tự bản thân mình thức tỉnh cơn mê, xoay chuyển tâm niệm ác, hướng về nẻo thiện và do đó thoát khỏi hình phạt khổ cực nơi địa ngục. Kinh Phật dạy rằng: “Tâm có thể tạo nghiệp, mà tâm cũng có thể chuyển nghiệp.”

     Ngài Mục Liên là một tấm gương sáng chói tượng trưng cho lòng chí hiếu và báo ân. Ngài đã thực hành phép sám hối để báo ân mà cứu được mẹ thoát khỏi địa ngục.

*

     Ngày lễ Vu Lan trong Đạo Phật là ngày “Phật Hoan Hỷ”, ngày “Tự Tứ”. Tăng, ni tập trung vào sự tu niệm và thỉnh cầu những bậc trưởng thượng chỉ dạy mọi lỗi lầm để mình thành tâm sám hối nên Phật rất vui vì tinh thần phục thiện, hối cải đó.

     Ngày Vu Lan cũng là ngày “Báo Hiếu”, gợi lại lòng hiếu thảo của người con Phật. Nhân dịp này Phật tử nhớ lại công ơn cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng cực khổ mà nhờ đến sức chú nguyện của chư tăng, ni để phụ lực mà độ cho cha mẹ.

     Cha mẹ quá vãng dù đã qua bảy đời thì nếu có sa vào đường khổ cũng nhờ phúc đức này mà được thoát khỏi, được siêu thăng. Còn nếu cha mẹ không đi trong đường khổ thì nhờ phúc đức này mà được tăng trưởng thiện căn. Nếu cha mẹ còn sống, chưa qua đời, thời nhờ phúc đức đó mà tăng trưởng tuổi thọ và phát tâm Bồ Đề.

     Ngày lễ Vu Lan cũng là ngày “Xá Tội Vong Nhân”, ngày cầu siêu độ cho tiền nhân quá cố. Đó là ngày tha thứ mọi lỗi lầm. Mọi người đều ăn năn, xin cải đổi sám hối. Chư tăng, ni cầu nguyện cho các vong nhân được thoát khỏi cảnh đọa đày của ba đường ác là “địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh”.

     Hiếu thảo thường được hiểu là lo đầy đủ mọi thứ về vật chất cho cha mẹ. Nhưng cha mẹ sẽ qua đời một ngày nào đó. Theo Đạo Phật, chúng ta không chỉ có mặt ở một đời này mà còn có mặt ở vô số kiếp về trước và sau nữa, mất thân này sẽ mang thân khác. Bởi vậy người con hiếu còn phải lo cho cha mẹ cả về tinh thần, làm sao thức tỉnh cha mẹ hướng về đường thiện, tin vào nhân quả tội phước, quy y tam Bảo, niệm Phật làm lành để trong đời hiện tại cha mẹ được yên vui và khi mất đi sẽ được hạnh phúc, an lành trong đời sau.

     “Tâm hiếu là tâm Phật. Hạnh hiếu là hạnh Phật”. Với truyền thống người Việt ta, hiếu thảo là một nền tảng đạo đức rất cần thiết, rất thiêng liêng và cao cả. Có hiếu trong gia đình thì mới có thể là một công dân tốt ngoài xã hội. Hiếu là bước đầu để xây dựng một gia đình tốt đẹp, một xã hội văn minh và tiến lên thành một quốc gia cường thịnh.

*

     Soạn giả đã dựa vào một số tài liệu xưa và nay mà viết lại toàn bộ truyện MỤC LIÊN – THANH ĐỀ bằng những dòng thơ “lục bát” nhẹ nhàng, trong sáng và bình dị để độc giả dễ đọc, dễ hiểu và dễ cảm nhận. Mong rằng ý nghĩa của truyện xưa này sẽ là ngọn đuốc tuệ soi sáng cho con người nương vào đó để vượt qua những con đường vô minh, hành phép sám hối mà diệt tội, hầu vượt qua biển khổ sinh tử mà ghé bờ giải thoát thơm hương.

 

DIỆU PHƯƠNG    

 

_____________________

 

Truyện xưa có kể lại rằng

Thời kỳ Đức Phật còn đang tại trần

Nơi thành Vương Xá xa xăm

Có ông trưởng giả vô ngần giàu sang

Nhiều vườn ruộng, lắm bạc vàng

Từng bầy voi ngựa, từng đàn trâu dê

Gia nhân đông đúc cận kề

Ông tên Phó Tướng muôn bề tốt thay

Giữ gìn đạo đức hàng ngày

Thường tu Lục Độ lâu nay chẳng rời:

“Một là bố thí cho người

Hai là trì giới sống đời sạch trong

Ba là nhẫn nhục tột cùng

Bốn là tinh tấn quyết lòng theo tu

Năm là thiền định công phu

Sáu là trí tuệ rạng như ánh hồng.”

Bà Thanh Đề là vợ ông

Than ôi trái lại vô cùng xấu xa

Vừa tham lam lại gian tà

Làm điều ác đức tính ra đủ mười.

Sinh con trai được một người

Tên là La Bốc tính thời dễ thương

Vừa thông minh đủ mọi đường

Lại thêm hiếu thảo xóm làng nổi danh.

Thời gian thấm thoắt trôi nhanh

Ít lâu sau đó gia đình không vui

Vì ông trưởng giả qua đời

Chàng trai La Bốc tức thời cư tang

Đủ ba năm, rất đàng hoàng

Cho tròn chữ hiếu lòng chàng mới yên.

Mãn kỳ tang chế nói trên

Chàng bèn tìm mẹ và liền thưa ngay:

“Các kho châu báu lâu nay

Mở ra tính toán mai này rồi chia

Ba phần đều đặn trọn bề

Một phần dâng mẹ dùng chi hàng ngày

Một phần sửa soạn tiệc chay

Cúng dường Tam Bảo lòng đầy thành tâm

Còn con xin giữ một phần

Dùng làm vốn liếng vì cần đi xa

Nơi xứ lạ, không gần nhà

Kinh doanh buôn bán lo mà lập thân

Tạo nên cơ nghiệp sáng ngần

Thời nhà mình cũng thêm phần vẻ vang.”

Mẹ nghe, thuận ý cùng chàng

Chàng liền sửa soạn lên đường đi buôn,

Gia nhân Ích Lợi tinh khôn

Thỉnh cầu xin được đi luôn theo cùng.

Khi chàng vừa mới đi xong

Mẹ chàng vội triệu tập trong gia đình

Gia nhân tụ họp vây quanh

Bà Thanh Đề nói ý mình cho nghe:

“Con ta trước lúc ra đi

Dặn ta chu tất mỗi khi cúng dường

Cúng trai tăng chớ coi thường

Nhưng ta chẳng muốn theo đường này đâu

Ta không tin ở đạo mầu

Cho nên nếu có tăng nào tới đây

Để mà khất thực hàng ngày

Thời dùng roi gậy đánh ngay đuổi liền

Thế là họ hết làm phiền

Về sau không dám đến bên nhà mình,

Số tiền cúng ta để dành

Mua nhiều súc vật thỏa tình bấy lâu

Ngỗng ngan, dê ngựa, bò trâu

Heo cùng gà vịt giết mau tế thần

Rồi ăn cho sướng miệng luôn

Ăn xong mua nữa chẳng buồn tiếc thương

Ăn hoài cho đến chán chường

Tôi gì mà phải cúng dường cho ai!”

Gia nhân miễn cưỡng theo lời

Chỉ lo giết chóc, xa rời các tăng.

Về phần La Bốc buôn hàng

Ba năm trời đã lẹ làng êm trôi

Làm ăn cần kiệm xứ người

Bán buôn chịu khó nay thời giàu lên,

Một ngày chàng quyết định liền

Trờ về thăm viếng mẹ hiền yêu thương.

Mệt vì di chuyển dọc đường

Tới ngoài thành phố thời chàng dừng chân

Tạm ngừng cho khỏe đôi phần

Sai người về trước báo thân mẫu mình,

Gia nhân Ích Lợi nhiệt tình

Tuân theo lệnh chủ phóng nhanh về liền.

Một hầu gái thấy trước tiên

Chạy vào tìm chủ báo tin bất thường

Bà Thanh Đề vội phô trương

Làm như mình cũng cúng dường chư tăng

Nên trong nhà bày vội vàng

Mang nhiều phan phướn trang hoàng êm xuôi

Vừa khi Ích Lợi tới nơi

Bà bèn nghiêm chỉnh cất lời hỏi ngay:

“Con ta về thật mừng thay

Sao chưa có mặt? Giờ này ở đâu?”

Gia nhân vội vã trình mau:

“Thưa bà công tử chưa vào tới đây

Hãy còn ở tận phía Tây

Ngoài thành Vương Xá vài ngày nữa thôi.”

Bà Thanh Đề nói giọng vui:

“Sau khi La Bốc và ngươi lên đường

Ta liền tổ chức cúng dường

Hơn năm trăm vị chư tăng tại nhà.”

Gia nhân Ích Lợi nghe qua

Trong lòng chợt thấy chan hòa niềm vui

Khi vào nhà thấy khắp nơi

Đây thời phan phướn, kia thời bông hoa

Chiếu giường, bàn ghế phô ra

Lại thêm bát chén thật là ngổn ngang

Đều chưa dọn dẹp đàng hoàng

Bao điều trước mắt rõ ràng đáng tin.

Nghĩ đây là đấng mẹ hiền

 Gia nhân trở lại nào quên tường trình

Những gì trông thấy rành rành

Nghe xong La Bốc quả tình hân hoan

Vội về, hoan hỉ ngập tràn

Vừa đi vừa lạy vô vàn thành tâm.

Họ hàng, quyến thuộc, người thân

Nghe chàng trở lại xa gần họp nhau

Kéo ra đón tiếp trước sau

Nhìn chàng đi đứng thấy sao bất thường

Vừa đi vừa lạy dọc đường

Họ bèn xúm hỏi: “Ông đương làm gì

Phật đâu có phía trước kia

Tăng thời không có ở về phía sau

Vậy ông lễ lạy ai nào?”

Chàng La Bốc ngại ngần đâu trả lời:

“Chính là tôi lạy mẹ tôi

Tôi vì buôn bán vừa rồi đi xa

Mẹ tôi lúc ở lại nhà

Kính tin Tam Bảo, thiết tha cúng dường

Hơn năm trăm vị cao tăng

Bà mời cung kính đàng hoàng lắm thay.”

Mọi người kinh ngạc nói ngay:

“Vì ông đi vắng nào hay sự tình

Mẹ ông ở lại gia đình

Bao nhiêu ác nghiệp tự mình gây ra

Chư tăng khất thực trước nhà

Bà đều đánh đuổi thấy mà tang thương,

Còn tiền ông dặn cúng dường

Bà mua súc vật và thường giết ăn

Sau khi cắt tiết tế thần

Chính tay bà đã bao lần sát sinh.”

Chàng nghe tội lỗi mẹ mình

Tưởng như sét đánh thình lình bên tai

Ngã luôn xuống đất nằm dài

Lịm người bất tỉnh một hồi thật lâu

Tin nghe mang lắm đớn đau

Thấy mà tội nghiệp biết bao cho chàng.

Bà Thanh Đề rất hoang mang

Khi nghe tin dữ vội vàng chạy ra

Được con cho biết chính bà

Gây bao ác nghiệp trong nhà mới đây

Nên con lâm tình cảnh này,

Bà bèn cứu chữa con ngay tức thì

Rồi bà lớn tiếng nguyện thề:

“Trời cao đất rộng bốn bề thênh thang

Bể kia lồng lộng sóng vàng

Nếu mà mẹ chẳng cúng dường chư tăng

Sau khi con rời khỏi làng

Thời về mẹ bệnh liệt giường luôn thôi

Rồi khi nhắm mắt lìa đời

Đọa vào địa ngục đúng lời thề đây

Chịu bao quả báo sau này

Mong con hãy trở về ngay gia đình!”

Nghe lời thề của mẹ mình

Nặng như trái núi quả tình gớm ghê

Tin lời mẹ dối gian thề

Nên chàng La Bốc chịu về nhà ngay.

Về nhà chỉ được ít ngày

Ai ngờ xảy chuyện không hay mất rồi

Mẹ chàng khó chịu trong người

Rồi lâm bệnh nặng, tứ thời mê man

Dù cho có uống thuốc thang

Bệnh không thuyên giảm, ngày càng nặng thêm,

Qua bảy ngày và bảy đêm

Sau hồi nguy kịch bà liền mệnh chung

Lời thề ứng nghiệm vô cùng

Diêm Vương có lẽ đã không tha rồi

Sai Quỷ Vương lên tận nơi

Bắt hồn bà xuống đúng lời thề kia.

Biết rằng mẹ nghiệp nặng nề

Cho nên La Bốc tức thì lo toan

Vừa mai táng mẹ chu toàn

Vừa lo tạo phước há ngần ngại chi

Hồi hướng cho mẹ tức thì,

Bán buôn kiếm bởi chuyến đi có lời

Chàng đem bố thí khắp nơi

Giúp dân thiếu mặc, cứu người đói ăn

Lập chùa chiền, cúng chư tăng

Bản thân tu học đạo vàng tại gia

Tụng kinh, niệm Phật thiết tha

Trì trai, giữ giới thật là thành tâm.

Dựng lều cỏ cạnh mộ phần

Nơi chôn mẹ chốn sơn lâm an bình

Ba năm thủ hiếu chí tình

Muôn chim bay đến đậu quanh rộn ràng

Tha đất mới, lượm hoa vàng

Để lên ngôi mộ mẹ chàng kính dâng.

Thời gian xoay chuyển lẹ làng

Ba năm thủ hiếu nhẹ nhàng trôi qua

Một ngày La Bốc nghĩ ra

Cho rằng mình phải xuất gia tu hành

Mới mong báo đáp mẹ mình

Báo cho trọn vẹn ân tình sâu xa

Chàng bèn nghĩ đến Phật Đà

Núi Kỳ Xà Quật tìm qua hầu Ngài.

Sau khi quỳ lễ xong xuôi

Chàng La Bốc mới thốt lời thiết thân

Kính thưa: “Bạch Đức Thế Tôn

Song thân con đã lìa trần vắng xa

Nếu giờ đây con xuất gia

Có đem phước báu cho cha mẹ mình?”

Phật bèn giảng giải điều lành:

“Này người con thảo tâm thành chớ quên

Ở trên trần thế muộn phiền

Song thân nếu có lòng tin đạo mầu

Cho con theo đạo tu mau

Hoặc trai, hoặc gái, chỉ cầu một thôi

Xuất gia trọn vẹn được rồi

Bao công đức ấy so thời vô biên

Hơn xây tháp quý triền miên

Hơn xây bốn vạn tám nghìn tháp trên,

Bởi vì cha mẹ hiện tiền

Nhờ công đức ấy được thêm rất nhiều

Thêm phước tuệ biết bao nhiêu,

Còn như cha mẹ quý yêu qua đời

Dù trong quá khứ một thời

Được sinh tịnh độ vào nơi an lành.”

Nghe xong La Bốc tâm thành

Mở lòng rộng lớn quyết tình xuất gia

Quỳ xin Phật thật thiết tha,

Phật nhìn thấy dáng nhu hòa hiền lương

Lại thêm hiếu đễ mọi đường

Nên hoan hỷ thuận nhận chàng thật mau

Cạo luôn tóc, cạo cả râu

Cà sa đơn giản khoác vào đẹp thay

Phật liền thọ ký cho ngay

Đặt cho pháp hiệu từ đây thường dùng

Mục Kiền Liên, đẹp vô cùng

Tấm gương hiếu đễ vang lừng theo tên.

Từ đây ngài Mục Kiền Liên

Cõi trần lánh bước, cửa thiền nương thân

Lo tu thiền định chuyên cần

Nhờ vào tri thức sáng ngần vốn xưa

Lại thêm dốc chí quyết tu

Tiến mau tới bậc thượng thừa thật nhanh

Bản tâm tỏ ngộ đạt thành

“Thần thông” chứng được nổi danh đương thời

Đứng vào bậc nhất ngay thôi

Trong hàng đệ tử của nơi cửa Thiền.

Một ngày ngài Mục Kiền Liên

Nhớ về mẹ quý tâm liền xót xa

Công ơn cha mẹ bao la

Như trời như biển sao mà báo đây

Mẹ nơi nào khó kiếm thay,

Phần mình giải thoát thân này đã xong.

Ngài liền dùng đến thần thông

Kiếm tìm hồn mẹ ở trong cõi trời,

Xuống tìm địa ngục tận nơi

Đều không thấy mẹ khiến ngài đau thương

Mới về bạch Phật tỏ tường,

Phật bèn cho biết rõ ràng như sau:

“Mẹ con đáng trách lắm sao

Khi bà còn sống gây bao tội tình

Không tin Tam Bảo đã đành

Nói năng dối trá, tranh giành tham lam

Vừa gian xảo, lại bất nhân

Nhẫn tâm sát hại vô vàn sinh linh

Sau khi chết chịu cực hình

Đọa vào địa ngục thân mình thảm thê.”

Nghe lời Phật dạy mọi bề

Mục Kiền Liên thấy não nề tâm can

Nghẹn ngào thương xót bội phần

Bèn vào nhập định dùng thần thông ngay

Đi tìm mẹ khắp đó đây

Khắp tầng địa ngục lòng đầy hoang mang.

Đầu tiên ngài tới “Nhân Quan”

Nơi đây địa ngục người đang thụ hình

Kẻ thời bị móc mắt mình

Kẻ thời bị chặt thân hình thương thay

Chặt một chân hoặc một tay

Kẻ kia bị xẻo mất ngay mũi rồi

Có người bị xẻ làm đôi

Từ đầu trở xuống chân ôi hãi hùng.

Ngài nhìn thấy xót vô cùng

Hỏi thăm chúa ngục với lòng cảm thương

Tức thời chúa ngục thưa rằng:

“Bọn này khi sống tính thường gian manh

Lừa thầy, phản bạn, tuyệt tình

Nghe lời phỉnh nịnh quẩn quanh hại người

Mắt nhìn điều phải buông xuôi

Tai nghe chuyện xấu mãi rồi hùa theo

Tay chân sát hại đủ điều

Khiến người lương thiện chịu nhiều nguy nan.”

Mục Kiền Liên buồn chứa chan

Tìm đâu thấy bóng mẫu thân của mình.

Ngài bèn tiếp cuộc hành trình

Bước qua địa ngục “Xảo Minh” nhìn vào

Thấy tội nhân thảm biết bao

Bị treo, bị trói ngược vào phía trên

Tóc thời bị lửa đốt lên

Đầu trâu, mặt ngựa moi liền tim ra,

Kẻ kia treo ở phía xa

Thân lăn vách đá hét la rợn người

Nơi đây chúa ngục thốt lời:

“Bọn này khi sống trên đời gian manh

Vong ân, bội nghĩa, bạc tình

Bao công ơn kẻ giúp mình mau quên

Hưởng lành mà chẳng chịu yên

Tranh giành cao thấp gây nên oán hờn,

Khi tiền nhiều lại lên chân

Không màng phải trái, đuổi luôn thâm tình

Kiếp sau hôi hám thân mình

Đọa làm thú vật dáng hình khó coi.”

Mục Kiền Liên kiếm khắp nơi

Vẫn không thấy mẹ đành dời chân đi.

Qua tầng “Bác Hoạch” gần kề

Chốn này địa ngục thảm thê đọa đày

Chúng sinh bị bỏ cối xay

Máu me lênh láng thân gầy nát tan

Phơi ra xương thịt ngổn ngang

Chết đi sống lại khóc than bao lần.

Cảnh tang thương thấy nhẫn tâm

Hỏi thăm chúa ngục nguyên nhân cực hình.

Ngài nghe chúa ngục phẩm bình:

“Nơi đây là những chúng sinh ở đời

Không tin Tam Bảo mãi thôi

Lại còn mưu giết hại người chung quanh

Luôn luôn gieo khổ sinh linh

Gây nhiều tội ác tày đình trước sau

Mình làm mình chịu thoát đâu

Ngày nay quả báo gánh mau tức thì.”

Bóng hình mẹ chẳng thấy chi

Mục Kiền Liên bước chân đi ngậm ngùi.

Xuống tầng địa ngục dưới rồi

Ngẩng nhìn “Kiếm Thọ” là nơi chốn này

Tội nhân đang bị đọa đày

Ngồi trên mũi kiếm thân gày tang thương

Tay vin thép nhọn kinh hoàng

Đường gân lìa đứt, đốt xương rã rời.

Hỏi thăm chúa ngục trả lời:

“Tội nhân này sống trên đời nhởn nhơ

Không tin nhân quả bao giờ

Sát sinh tàn bạo chực chờ để ăn

Cho như vậy bổ tấm thân

Ăn cho sướng miệng, tạo nhân dữ dằn

Giờ đây nào có kịp than

Gây nhân trả quả lời vàng không tin.”

Trong đây ngài Mục Kiền Liên

Tìm không thấy mẹ nên liền đi luôn.

Xuống ngay địa ngục kinh hồn

Chốn này tên gọi “Đao Sơn” bít bùng

Đao, gươm nhọn hoắt kín tường

Xẻ thân, lóc thịt, máu vương tràn trề

Tội nhân gào thét não nề

Hỏi thăm, chúa ngục tức thì thưa ngay:

“Trên dương gian những kẻ này

Dùng dao xẻ thịt phanh thây trâu bò

Lợn dê mổ bụng đút lò

Nấu ninh hầm rán ăn cho thỏa lòng

Gieo nhân độc ác vô cùng

Ngày nay quả báo não nùng tiêu ma.”

Kiếm hoài bóng mẹ không ra

Ngài liền tới ngục “Khôi Hà”ø kế bên

Tội nhân trong đó kêu rên

Người thời đang bị bỏ lên vạc dầu

Người thì chạy trốn trước sau

Khắp mình lửa đốt từ đầu tới chân

Chen nhau chạy muốn thoát thân

Tới ngay bốn cửa mở gần chung quanh

Vừa rên xiết vừa tranh giành

Cửa kia tự động đóng nhanh lại rồi

Quẩn quanh lò lửa tới lui

Thoát đâu ngọn lửa cháy thui thân hình.

Mục Kiền Liên thấy tội tình

Hỏi thời chúa ngục thưa trình đầu đuôi:

“Bọn này lúc sống trên đời

Âm mưu cố sát bao người nhẫn tâm

Kéo bè kết cánh ác nhân

Ra tay ức hiếp người dân lành hiền

Gây bao ác nghiệp triền miên

Giờ đây phải trả nghiệp liền thoát đâu.”

Trong lò lửa cháy ngập đầu

Tìm không thấy mẹ nỗi sầu gia tăng.

Mục Kiền Liên bước chân sang

Ngục tên “Đồng Trụ” kinh hoàng diễn ra

Tội nhân ôm cột kêu la

Cột đồng nóng bỏng đốt da thịt người

Khắp mình lửa cháy bốc hơi

Miệng thời sắt nóng nuốt rồi nhả ra

Thật đau đớn, thật xót xa,

Theo lời chúa ngục: “Đó là tội nhân

Khi còn ở cõi dương trần

Cậy quyền cậy thế luôn ăn hiếp người

Giam cầm kẻ yếu mãi thôi

Ngày nay quả báo thấy thời thương tâm.”

Chốn này không thấy mẫu thân

Ngài liền rộng mở lòng nhân của mình

Nói cùng chúa ngục chân tình:

“Nay tôi muốn chịu cực hình tại đây

Thay cho các tội nhân này

Chịu bao khổ não đọa đày được chăng?”

Nghiêm trang chúa ngục thưa rằng:

“Ai làm nấy chịu đã hằng bao lâu

Điều ngài muốn không được đâu

Mẹ con cũng chẳng thế nào chịu thay

Huống chi ngài lạ tới đây,

Theo tôi chỉ có cách này là hơn

Nếu ai muốn cứu tội nhân

Thoát ra địa ngục vô ngần đớn đau

Thời tìm Phật để thỉnh cầu

Thành tâm sám hối rồi mau nhiệt tình

Ăn chay, niệm Phật, tụng kinh

Chăm lo thiền định cho tinh tấn hoài

Mười điều lành làm đủ mười

Giúp người hoạn nạn, cứu người nguy nan

Lo truyền bá ánh đạo vàng

Mới mong cơ hội tiêu tan tội tình

Giải trừ nghiệp chướng của mình

Cùng tìm về cõi tịnh thanh tâm hồn

Cùng thành Chánh Giác được luôn

Con đường địa ngục không còn sa chân.”

Mục Kiền Liên tìm mẫu thân

Qua bao cửa ngục xa gần thấy đâu

Bước đi buồn bã cúi đầu

Xuống tầng địa ngục dưới sâu kiếm tìm

Nơi đây lạnh buốt khắp miền

“Hàn Băng” địa ngục là tên chốn này

Tội nhân lạnh cóng chân tay

Thịt da nứt nẻ, mặt mày tái xanh

Nằm ôm tuyết lạnh chung quanh

Nào đâu được phép cựa mình thoát đi.

Ngài thương cảm hỏi tội gì

Thời nghe lời chúa ngục kia tỏ bày:

“Tội nhân trong địa ngục này

Nhiều tiền lắm bạc trước đây ở đời

Mượn người làm việc xong rồi

Cậy tiền ức hiếp đám người làm công

Nhẫn tâm bóc lột vô cùng

Nắng mưa, nóng lạnh cũng không đoái hoài

Nay thời quả báo dài dài.”

Mục Kiền Liên kiếm mẹ thời không ra.

Ngài sầu não bước chân qua

Vào ngay địa ngục rất là tối tăm

Ngục “Hắc Ám” tối quanh năm

Không còn ánh sáng, tội nhân kinh hoàng

Thần kinh căng thẳng vô vàn

Khó mong thoát cảnh lầm than thân mình.

Ngài đau xót hỏi sự tình

Được nghe chúa ngục tường trình như sau:

“Nhóm này lúc sống hùa nhau

Vô minh, ngu dại lao đầu bến mê

Không phân thiện ác đôi bề

Không tin nhân quả, không hề thương ai

Cho nên tạo nghiệp xấu hoài

Giờ đây quả báo thấy thời đớn đau.”

Kiếm tìm không thấy mẹ đâu

Mục Kiền Liên lại đi vào ngục bên

Ngục “Canh Thiệt” vang tiếng rên

Tội nhân bị móc miệng liền kêu la

Câu bằng sắt kéo lưỡi ra

Thay trâu khổ nhọc để mà cày sâu

Nghiệp này trả thật dãi dàu

Khổ đau không biết giờ nào thoát ly.

Quan cai ngục nói tức thì:

“Bọn này lúc sống muôn bề dối gian

Lời thêu dệt, miệng nói càn

Thốt lời hung ác, nói năng đôi chiều

Gieo nhân xấu đã quá nhiều

Giờ đây quả báo đủ điều gặt thôi.”

Tìm không thấy mẹ khắp nơi

Ngài liền đi nữa nhìn thời thấy ngay

Một bày quỷ đói quanh đây

Đầu to như của trâu cày khác chi

Bụng to như cái trống kia

Cổ thời lại nhỏ khác gì cây kim

Hình thù xấu xí khó nhìn

Đói ăn lê lết khắp miền gần xa,

Đồ ăn đôi lúc kiếm ra

Cổ thì quá nhỏ khó mà nuốt trôi

Lửa trong miệng, lửa trên môi

Bốc ra ngùn ngụt thấy thời hãi thay.

Ngài bèn thăm hỏi nhóm này:

“Tội chi mà bị đọa đày thảm thê

Trước kia tạo nghiệp ác gì?”

Quỷ bèn lên tiếng não nề thưa luôn:

“Chúng tôi khi sống cõi trần

Tham lam, bỏn xẻn vô ngần ngài ơi,

Của thời giấu kỹ một nơi

Mặc cho cha mẹ tứ thời đói ăn

Không hề tỏ chút ăn năn

Ngoài ra Tam Bảo chẳng cần kính tin

Quanh năm chỉ nghĩ bạc tiền

Giờ đây quả báo hiển nhiên thảm sầu!”

Mẹ hiền tìm mãi thấy đâu

Mục Kiền Liên lại cúi đầu bước đi

Trong lòng chất ngất sầu bi

Bước lần tới cửa ngục kia xa vời

Ngẩng nhìn thấy khó vào rồi

Ngục “Cao Tường” chính là nơi chốn này

Vây quanh có vách sắt dày

Tường cao muôn dặm bao ngay bốn bề

Lại thêm lưới thép giăng che

Chó đồng to lớn hăm he canh chừng

Bốn con khạc lửa đỏ hừng

Sủa vang gầm thét dữ hung dọa người.

Ngài tìm cách để vào coi

Tiếc thay cửa đóng kín rồi còn chi

Dùng mắt tuệ không thấy gì

Pháp thân chẳng lọt, cửa kia khó vào

Ngài đành chịu không biết sao

Trong lòng thất vọng nghẹn ngào trở lui

Than rằng: “Đi đã khắp nơi

Qua bao cửa ngục mẹ thời thấy đâu

Đến đây chất ngất buồn đau

Con qua không nổi ngục Cao Tường rồi

Trở về dương thế đành thôi

Con tìm đến Phật xin lời từ bi

Chỉ đường chỉ lối con đi

Quyết tâm tìm mẹ quản chi nhọc nhằn!”

Trên đường trở lại dương gian

Ngài quay nhìn lại dặm ngàn đã qua

Nghĩ ngoài ngục Cao Tường ra

Còn nhiều ngục nữa dễ mà thấy đâu

Mắt thường nhìn chẳng được nào

Pháp thân cũng khó lọt vào cho cam

Bởi vì trên chốn dương gian

Còn bao nhiêu tội vô vàn điêu linh

Gây ra bởi khắp chúng sinh

Ít ai có dịp tự mình nghe ra

Nên đành tâm niệm Phật Đà

Nghĩ về mẹ quý xót xa nỗi niềm.

Và rồi ngài Mục Kiền Liên

Sau khi quyết định xả thiền xong xuôi

Thế là thần thức tức thời

Trở về thực tại ngay nơi dương trần

Vẫn còn đau đớn xót thầm

Nào quên cảnh tượng xa gần tang thương

Khắp trong địa ngục kinh hoàng,

Càng mong gặp mẹ lòng càng nôn nao

Tình thương mẹ mãi dạt dào

Bèn tìm đến Phật mong sao giúp ngài.

Sau khi tới chỗ Phật ngồi

Ngài bèn đi nhiễu quanh nơi ba vòng

Rồi quỳ bạch Phật nỗi lòng:

“Theo lời Phật dạy con không ngại ngần

Xuống bao tầng ngục xa gần

Nhưng không tìm thấy mẫu thân chốn nào,

Thấy chúng sinh khổ xiết bao

Xương tan, thịt nát khóc gào, rên la

Thật là thảm cảnh xót xa

Đủ thành phần cõi ta bà dương gian

Sau cùng con phải dừng chân

Tại nơi ngục nọ tường ngăn cao vời

Cửa thời kín mít khắp nơi

Gọi không ai mở, bóng người thấy đâu

Con dùng mắt tuệ nhìn vào

Cũng không thấy được chút nào phía trong

Con xin từ phụ xót thương

Chỉ bày cho cách vượt tường êm xuôi.”

Nhìn người đệ tử nổi trôi

Tấm lòng hiếu đễ ít ai sánh cùng

Phật thương chỉ dạy hết lòng:

“Cao Tường là ngục mẹ con đọa vào

Bà mang tội nặng xiết bao

Hàng ngày thọ khổ đội đầu máu tươi

Bàn chông ngồi thủng thân người,

Cao Tường ngục lớn là nơi khó vào

Phải nhờ tích trượng nhiệm mầu

Cùng là y, bát mới mau hoàn thành

Đây là báu vật hiển linh

Của ta sẵn có nay dành cho con

Mang theo tới ngục đó luôn

Dùng tích trượng dộng ba lần xuống hiên

Sẽ long chốt, sẽ rơi then

Cửa ngục tự động mở liền ra mau,

Cầm thêm viên ngọc minh châu

Soi tầng tăm tối, xua mầu u minh.”

Mục Kiền Liên tạ ân tình

Trong tay nắm gậy, trên mình khoác y

Cầm theo bình bát ra đi

Sẵn bao vật báu nên chi vững lòng

Lại thêm ngài có thần thông

Tới ngay cửa ngục cũng không khó gì

Vẻ trang nghiêm, dáng uy nghi

Ngài cầm tích trượng tức thì khoan thai

Dộng ba cái trước cửa cài

Ngục trong vang dội, vách ngoài nhẹ rung

Lưới vén lên, cửa mở tung

Ngài bèn nhẹ bước ung dung đi vào

Bên trong náo loạn xiết bao,

Tức thời chúa ngục tới mau hỏi rằng:

“Thấy ngài là một vị tăng

Tai sao mở cửa ngục đường vào đây

Vì người bị nhốt tầng này

Đều là tội phạm đọa đày triền miên

Trước đây Tam Bảo không tin

Làm điều ngũ nghịch gây nên tội tình?”

Mục Kiền Liên nói chân thành

Rằng ngài muốn kiếm mẹ mình đã lâu

Tỏ lòng hiếu, báo ân sâu

Dù bao gian khó há đâu ngại ngần.

Ngục quan thắc mắc hỏi luôn:

“Làm sao ngài biết mẫu thân chốn này?”

Ngài từ tốn đáp: “Lành thay!

 Tôi nhờ Đức Phật chỉ bày cho hay.”

Ngục quan mừng rỡ hỏi ngay:

“Nhờ ơn Đức Phật thật may vô vàn,

Ngài cùng Phật có họ hàng?”

Ngài nghe hỏi vậy vội vàng xưng tên:

“Tội hiệu là Mục Kiền Liên

Vốn là đệ tử Phật trên dương trần

Xuống đây tìm kiếm mẫu thân

Họ Lưu, tên gọi phu nhân Thanh Đề

Ở thành Vương Xá xưa kia.”

Ngục quan mở sổ tức thì kiểm tra

Sau khi đã kiếm được ra

Bèn lên tiếng gọi tên bà vang âm:

“Ai là Thanh Đề phu nhân

Ở thành Vương Xá? Tôi cần gặp đây!

Có thầy tăng xuống ngục này

Ngỏ lời muốn gặp, lâu nay kiếm tìm

Thầy tên là Mục Kiền Liên

Chắc không lâu nữa bà liền rời thôi

Sẽ mau thoát khỏi ngục rồi!”

Tiếng vang lên hỏi, không ai trả lời.

Ngục quan tìm gặp tận nơi

Bà Thanh Đề mới bồi hồi nói ra:

“Lúc tôi còn sống tại nhà

Sinh ra được một con và đặt tên

Là La Bốc rất lành hiền

Chứ không phải Mục Kiền Liên bao giờ,

Con tôi cũng chẳng xuất gia

Nên tôi không dám đi ra gặp thầy.”

Ngục quan quay trở lại ngay

Gặp thầy tăng nói thầy hay sự tình

Rằng bà cho biết con mình

Không hề trong giới tu hành khi nao

Và tên gọi chẳng giống nào.

Người con thảo nói nghẹn ngào thiết tha:

“Khi còn mẹ, lúc còn cha

Cái tên La Bốc chính là tên tôi

Sau khi cha mẹ qua đời

Thời tôi theo Phật tu nơi cửa Thiền

Có tên là Mục Kiền Liên

Xót tình mẹ quý lo tìm biết bao!”

Ngục quan quay gót trở vào

Nói: “Thầy tăng đó ai nào khác xa

Chính là La Bốc con bà.”

Bà Thanh Đề vội tỏ ra vui mừng

Muốn xin gặp mặt vô cùng.

Ngục quan lúc đó đồng lòng giắt đi

Cho bà gặp được thầy kia

Mong bà thoát cảnh não nề lầm than.

Mục Kiền Liên gặp mẫu thân

Chao ơi thấy mẹ dao đâm khắp mình

Toàn thân lửa cháy tội tình

Trên người lưới thép khoác quanh phía ngoài

Cổ mang gông sắt làm đai

Chân lông lênh láng máu thời tuôn ra.

Ngài nhìn mẹ thấy xót xa

Lòng đau như cắt liền oà khóc vang

Thưa cùng bà mẹ ngay rằng:

“Con thường cúng lễ trai tăng tâm thành

Hơn năm trăm vị tu hành

Hằng mong mẹ thoát tội tình xưa kia

Hầu sinh Thiên được trọn bề,

Bao lần tìm mẹ có hề thấy đâu

Khắp nơi trên cõi trời cao

Ai ngờ mẹ lại đọa vào ngục sâu!”

Bà Thanh Đề nói nghẹn ngào:

“Tưởng rằng mẹ chẳng khi nào gặp con

Ngàn đời xa cách nhau luôn

Ai ngờ địa ngục mừng còn có duyên.”

Ngài bèn khẽ hỏi mẹ liền:

“Con làm Phật sự ở miền dương gian

Thường xuyên cúng tế thành tâm

Chẳng hay mẹ có được phần ích chăng?”

Bà Thanh Đề cất tiếng than:

“Dù cho cúng tế rình rang ích gì

Mẹ nào ăn được chút chi

Ngục sâu “Vô Gián” mẹ thì đọa thêm

Cần lập công đức ngày đêm

Mới mong cứu mẹ khỏi miền đau thương

Ngày xưa mẹ đã lầm đường

Không lo tu phước nên vương tội tình

Khiến bao ác nghiệp tạo thành

Lại thề độc ác miệng mình thốt ra

Nói gian cũng chẳng nề hà

Ngày nay đọa ngục khó mà thoát đi

Đớn đau, khổ não, thảm thê

Phải ăn sắt nóng mỗi khi đói lòng

Khát thời phải uống nước đồng

Ngục này mẹ chắc chẳng mong thoát rồi!”

Bà Thanh Đề chưa hết lời

Đã nghe chúa ngục thúc đòi bà đi:

“Tới giờ chịu tội còn gì!”

Mẹ và con phải chia ly đôi đàng

Thế là chúa ngục vội vàng

Đẩy bà vào phía ngục đường bên trong

Bà bèn ngoảnh lại dặn con:

“Mẹ giờ đau đớn chẳng còn chịu thêm

Con về cầu Phật chớ quên

Ngài thương tình sẽ giúp liền ngay cho

Vì ngài vố