- Ân cha hơn núi lớn
- Nghĩa mẹ hơn đất dày
- Hy sinh lòng chẳng quản
- Mà vẫn không ngui ngoai.
- Mẹ già hơn trăm tuổi
- Vẫn thương con tám mươi.
- Tình thương nào ngơi nghỉ,
- Đến hơi thở cuối đời!
- (Ân đức thứ 10, Thích Nhật Từ trích dịch từ Kinh
Báo Ân Cha Me)
---o0o---
I. Nguồn
gốc của lễ hội Vu-lan trong đạo Phật [^]
Lễ hội vu-lan-bồn viết tắt là lễ vu-lan có nguồn
gốc từ Kinh Phật nói pháp vu-lan-bồn (Phật thuyết vu-lan-bồn
kinh), của Phật giáo đại thừa. Niên đại xuất hiện của kinh
này không rõ, nhưng trễ nhất là vào thế kỷ thứ 3 sau tây lịch.
Kinh này phát triển chủ yếu tại các nước theo Phật giáo Bắc
tông, truyền thống của Trung Quốc, chẳng hạn như Nhật Bản, Việt Nam,
Triều Tiên, Đài Loan v.v
Mặc dù tính chất nguyên thủy của bài
kinh còn trong vòng nghi vấn, nhưng giá trị giáo dục đạo hiếu và
đạo đức làm người trong kinh này là điều nổi bật và không
thể phủ nhận. Đó là đường hướng truyền bá Phật pháp chung
của các kinh điển đại thừa, nhấn mạnh đến tính giáo dục và
đạo đức chứa tải trong từng bài kinh hơn là lai lịch và xuất
xứ của các bài kinh đó.
II. Sơ
lược ý nghĩa của Vu-lan [^]
Thuật ngữ vu-lan viết đủ là vu-lan-bồn là từ dịch
âm của người Trung Quốc về chữ Phạn Ullambana. Một dịch âm khác
nữa là Ô-lam-bà-na tuy tương đối gần âm với chữ Phạn hơn nhưng
chữ này lại không thông dụng trong giới Phật giáo. Ý nghĩa của
chữ vu-lan-bồn còn trong vòng tranh luận. Theo quan niệm thông thường,
ullambana được ngài Trí Húc dịch nghĩa là "giải đảo huyền"
(Vạn 35/151B), về sau được diễn dịch thành "giải đảo huyền,
cứu thống khổ." Giải là động từ có ý nghĩa là cởi trói,
hay giải phóng ai ra khỏi một cái ách nào đó. Đảo là
"ngược" hay "dốc đầu xuống đất, chân chỏng lên
trời," nhằm ám chỉ cho hình thức nghiêm khắc và đau đớn tột
độ của hình phạt. Huyền là "treo." Như vậy giải đảo huyền
có nghĩa là "tháo bỏ các cực hình treo ngược" và
"cứu thống khổ" là cởi trói ách đau khổ cùng cực của
chúng sanh trong các đường dữ. Theo tinh thần của kinh vu-lan, cái khổ
nguy khốn nhất của chúng sanh là bị sanh vào cảnh giới quỹ đói. Do
đó, tháo gở cái cực hình treo ngược là tháo gở cái ách bị
đày đọa trong cảnh giới ngạ quỹ và địa ngục. Xin lưu ý thêm
rằng cách giải thích chữ "bồn" với ý nghĩa là cái chậu,
cái thau để đựng đồ cúng dường trong ngày rằm tháng 7 của chư
tăng là cách giải thích dựa vào nghĩa chữ Hán của chữ
"bồn", vốn là từ phiên âm của thành tố "bana"
chứ không có trong ý nghĩa từ nguyên của từ ullambana. Cách giải
thích như vậy rõ ràng không có cơ sở và lạc dẫn, mặc dù trong
suốt mạch văn của kinh có đề cập đến việc sử dụng cái thau
chậu để dâng cúng phẩm vật cho các vị thánh tăng.
III. Tóm
tắt nội dung kinh Vu-lan [^]
Phật thuyết Vu-lan-bồn kinh là một bản kinh ngắn kể
về nguyên nhân và phương pháp báo hiếu của tôn giả
Mục-kiền-liên đối với thân mẫu của ngài. Đại ý của kinh gồm
có 3 phần chính: (1) nói về nguyên nhân của pháp báo hiếu vu-lan, (2)
phương pháp báo hiếu nhờ vào đạo đức cộng đồng và (3) báo
hiếu là trách nhiệm chung của những người con.
Duyên khởi của kinh như sau. Ngài Mục-kiền-liên vận
dụng 6 phép thần thông tìm thấy mẹ bị tái sanh trong cảnh giới ngạ
quỹ, đói khát, tiều tụy. Ngài liền lấy bát đựng cơm đem hiến
dâng cho mẹ. Do vì lòng tham, bà mẹ lấy tay trái che lấy cái bát, tay
phải vội vã vốc cơm. Nhưng cơm đã biến thành lửa, nên không ăn
được. Tôn giả sầu than trở về thưa Phật để cầu cách cứu mẹ
ngài.
Đức Phật dạy rằng chỉ nhờ vào uy lực đạo đức
tu tập của chư tăng trong ba tháng an cư mới có thể độ được mẹ
ngài Mục-kiền-liên. Ngài Mục-kiền-liên đã y theo lời Phật dạy
thiết lập trai đàn, nhờ oai đức chuyển hóa nghiệp lực của chư
tăng mà mẹ ngài được thoát khỏi cảnh ngạ quỹ, tái sanh về cõi
trời.
Nhân dịp đó, đức Phật đã khuyên tất cả những
người con nên học theo gương hiếu hạnh của ngài Mục-kiền-liên
để báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ hiện tại
và cha mẹ bảy đời qúa khứ.
IV.
Các vấn đề Phật học trong kinh Vu-lan [^]
1. Đạo hiếu
thảo [^]
Điểm nổi bật và quan trọng nhất trong kinh vu-lan là
đạo hiếu như một phương pháp tu tập. Điều cần lưu ý ở đây là
đương sự báo hiếu của kinh là ngài Mục-kiền-liên, vị đệ tử
lỗi lạc với thần thông số một đã chứng qủa A-la-hán, chứ
không phải là người phàm phu. Giá trị giáo dục của ngụ ý này
rất cao: một bậc thánh nhân còn hiếu thảo với cha mẹ như vậy thì
huống hồ là người phàm phu tục tử chúng ta mà không chịu sớm lo
báo đáp. Điều đó còn nói lên rằng đạo hiếu là nền tảng của
đạo làm người và đạo thánh nhân. Thiếu hiếu thảo, tính cách
đạo đức của con người đã bị phá vỡ và do đó không thể
trở thành các bậc hiền thánh để đời ca tụng và học hỏi theo
được. Chính vì thế mà kinh Nhẫn Nhục thuộc hệ Đại thừa đã
đẳng thức hóa "hiếu" với "điều thiện tối cao"
và "bất hiếu" là điều ác nguy hại: "Điều thiện
tối cao là chí hiếu, điều ác tối cao là bất hiếu." Kinh điển
đại thừa cũng còn khẳng định: "Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh
hiếu là hạnh Phật" nhằm xác quyết rằng đạo hiếu là con
đường mà tất cả các bậc thánh hiền, các bậc giác ngộ đã đi
qua.
Nói cách khác đạo hiếu thảo là đạo làm người
và đạo làm thánh. Đây là bước khởi đầu của mọi đạo lý
trên đời. Nếu tính cách thiêng liêng của đạo hiếu đã bị phá
vở thì tính cách đạo đức của một cá nhân cũng không thành
tựu được. Nghĩa là người bất hiếu không phải là người hiền
lương và đạo đức, và do đó không phải là con người đúng
với nghĩa là một động vật tiến hóa về ý thức và đạo đức.
Bằng cách đưa vai trò của chữ hiếu lên ngang hàng với điều
thiện cao cấp, Phật giáo đại thừa đã nhấn mạnh tinh thần luân
lý đạo đức của xã hội loài người như là điều kiện tiên
quyết của sự sống nhân loại.
2. Thần
thông, tha lực và nghiệp báo [^]
Các nhà Phật học Nguyên thủy dù khó tánh cách mấy
cũng phải thừa nhận điểm mấu chốt của kinh Vu-lan là "thần
thông và tha lực không thể thắng được nghiệp lực." Kinh Vu-lan
còn đề cập đến sự kiện 4 vị thiên vương hộ đời (Trì Quốc ở
phương đông, Tăng Trưởng ở phương nam, Quảng Mục ở phương tây,
Đa Văn ở phương bắc) cũng không thể giúp mẹ tôn giả
Mục-kiền-liên ra khỏi quả báo ngạ quỹ.
Đây là điểm nhất quán giữa hai hệ tư tưởng Phật
giáo nguyên thủy và đại thừa: thần thông và tha lực không thể
giúp chúng ta thoát khỏi luân hồi sinh tử được. Với 6 phép thần
thông biến hóa và dù cho có được sự trợ giúp (tha lực) của
bốn vị thiên vương hộ đời, vậy mà tôn giả Mục-kiền-liên đã
không thể giúp cho mẹ ngài ăn được bát cơm, huống hồ là cứu
mẹ ra khỏi cảnh khổ hành hình của ngạ quỹ.
Sáu phép thần thông bao gồm thần thông biến hóa,
thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông và
lậu tận thông. Loại thứ nhất bao gồm các hình thức khinh thân, bay
đi đây đó, độn thổ, xuống nước lên mây không trở ngại. Loại
thứ 2 là thị giác siêu việt, vô ngại. Loại thứ ba là thính giác
siêu việt, vô ngại. Loại thứ tư là biết được tâm lý của
loài người và chúng sanh khác. Loại thứ năm là nhớ biết chính
xác kiếp trước của mình và người. Và loại thứ sáu là nhổ
sạch gốc rễ phiền não. Năm thứ đầu không cần tu tập chánh pháp
của Phật cũng có được. Riêng lậu tận thông chỉ có các bậc
A-la-hán trở lên mới có thể thành tựu được. Đây cũng là
điểm cho thấy đạo Phật đã vượt trội lên các tôn giáo khác.
Sự kiện sáu phép thần thông của ngài
Mục-kiền-liên mà không thể cứu được nghiệp ngạ quỹ của
người mẹ cho thấy rằng nghiệp của chúng sanh chỉ có thể được
cải tạo và chuyển hóa do chính nội tâm và hành vi thiện ích của
họ. Tất cả sự hỗ trợ nếu có của người khác cũng chỉ là
những chất xúc tác để giúp họ tự chuyển hóa nghiệp của chính
họ mà thôi. Nói khác hơn, rừng tiền biển bạc không thể mua
được sự an lạc và giải thoát. Chỉ có con đường thiền định,
phát triển đạo đức tâm linh mới thật sự giúp chúng ta thoát
khỏi các đau khổ đang hoành hành. Đây là thông điệp của kinh
Vu-lan nói riêng, kinh điển Phật giáo (nhất là Nguyên thủy) nói chung
trao tặng cho chúng ta.
3. Oai lực
của đạo đức cộng đồng [^]
Cách thức mà ngài Mục-kiền-liên cứu thoát mẹ
ngài khỏi cảnh quỹ đói là nhờ vào oai đức giáo hóa qua hình
thức chú nguyện của cộng đồng tỳ-kheo thanh tịnh và có đủ giới
đức. Đây là điểm quan trọng thứ hai trong kinh vu-lan. Oai đức của
cộng đồng được xem như là biển cả bao la (chúng đức như hải),
có thể giúp chúng ta hoàn tất các Phật sự một cách mỹ mãn: ở
đây là giáo hóa và cứu độ nạn nhân trong thế giới ngạ quỹ.
Nội dung của bài kinh khuyến khích và dạy bảo chúng ta nên sống
nương tựa vào đạo đức cộng đồng trong việc tu tập và làm Phật
sự. Sự tách rời tập thể theo tính cách cá nhân, muốn biến mình
thành một "vô thượng sư" là điều không những cấm k?
trong giáo lý đạo Phật mà còn là điều không thể nào thực hiện
thành công được. Đạo Phật luôn khích lệ đời sống cộng đồng.
Do đó đạo đức cộng đồng được xem là giải pháp của mọi vấn
đề đạo đức và luân lý của thời đại.
Kinh điển Nguyên thủy và đại thừa đều có đề
cập đến 6 phương pháp tạo nên sự hoà hợp, đoàn kết và sức
mạnh trong đời sống cộng đồng là "thân hòa cùng ở, lời
hòa không tranh cải, ý hòa cùng vui, giới đức hòa đồng tu, quan
điểm hòa cùng hiểu và lợi hòa phân chia bình đẳng." 6 phương
pháp này được xem là khuông vàng thước ngọc cho đời sống tập
thể. Nó một mặt hàn gắn sự đoàn kết không thể phân ly của
các thành viên trong một tổ chức, mặt khác tạo thành sức mạnh
bất khả chiến bại. Tương tự trong công cuộc giáo hóa chúng sanh,
chúng ta cần đến một sức mạnh đạo đức tổng hợp và mang tính
cộng đồng như vậy. Chính nhờ vào đạo đức cộng đồng của các
vị thánh tăng và cao tăng nghiêm trì giới luật, mẹ ngài
Mục-kiền-liên đã được "cảm hóa" rồi đi đến "tự
chuyển hóa" và nhờ đó bà được giải thoát.
Cần nói rõ thêm rằng, bà được thoát cảnh ngạ
quỹ không chỉ đơn thuần do sức chú nguyện của mười phương tăng.
Thật chất là do sức oai thần đạo đức của mười phương tăng
đã cảm hóa được bà, giúp bà tự chuyển hóa các nghiệp
xấu ác của ngạ quỹ, phát huy tối đa nghiệp thiện, tái sanh về
cảnh giới tốt. Đây là một quy trình vừa tâm lý vừa đạo đức
trên nền tảng nỗ lực của nội tâm. Nói cách khác nếu bản thân
mẹ của Ngài Mục-kiền-liên không tự nỗ lực để chuyển hóa
nghiệp xấu ác của chính bà thì oai đức của chư tăng cũng vô
phương cứu chữa. Đó là mấu chốt của vấn đề cứu độ trong kinh
điển đại thừa nói chung, kinh Vu-lan-bồn nói riêng.
4. Phẩm vật
và tấm lòng
[^]
Một vấn đề cần lưu tâm về kinh Vu-lan là vấn đề
phương pháp báo hiếu qua việc cúng dường trai tăng trong ngày rằm
tháng 7. Kinh văn chép đó là ngày Phật hoan hỷ và chư tăng thanh
tịnh sau 3 tháng chuyên ròng tu tập thiền định và phát huy giới
đức. Thực ra, không phải chỉ có ngày rằm tháng 7 đức Phật mới
hoan hỷ. Đức Phật luôn hoan hỷ trong mọi tích tắc của thời gian.
Nói cách khác nơi nào và lúc nào có những người con hiếu thảo,
cung kính, nuôi dưỡng cha mẹ đúng pháp, nơi đó có sự hoan hỷ
của Phật, nơi đó có sự sống của đạo đức. Nơi nào con cái
bất hiếu ngỗ nghịch với cha mẹ nơi đó không có sự hoan hỷ, mà
chỉ có mặt của đau khổ và bất hạnh. Sở dĩ kinh văn nói đến
rằm tháng 7 là ngày Phật hoan hỷ là nhằm nhấn mạnh vào hành vi
hiếu thảo của các người con trong ngày mang tính chất biểu tượng
đạo hiếu và báo hiếu này.
Kế đến vấn đề cúng dường chư tăng, kinh văn có
nói "sắm đủ mọi thứ phẩm vật tươi tốt và thượng
hạng." Đây là cách mô tả mang tính ẩn dụ văn học trong kinh
điển đại thừa. Cách mô tả của kinh văn phản ánh một quan niệm
rằng người con hiếu thảo phải sẳn lòng vì cha mẹ không tiếc tiền
của để báo đáp công ơn sanh thành của cha mẹ. Sắm các thức ăn
ngon và sang trọng phải được hiểu là cách thể hiện lòng chí
thành hay chân thành của người con đối với việc chu lo cho cha mẹ,
chứ không nhất thiết là các phẩm vật thượng hạng trong thực
tế. Một khi lòng đã chân thành rồi thì số lượng và khối
lượng vật chất dùng vào việc hiếu thảo không còn là vấn đề
nữa. Nói cách khác, khi có đủ lòng chân thành thì cúng cho tam
bảo một nén hương, một bát nước, một cành hoa, một trái cây
cũng là báo hiếu cha mẹ được. Thế mới biết trong đạo Phật
chữ tâm quan trọng đến thế. Tâm là tiêu chí đánh giá thiện ác
và là cái cân để đo lường các trị số đạo đức của hành vi,
trong báo hiếu nói riêng trong cuộc sống nói chung. Đạo Phật trong ý
nghĩa này được xem là đạo dạy về tâm, huấn luyện về tâm và tu
tập về tâm.
5. Đối
tượng giáo dục của kinh Vu-lan [^]
Khi nghiên cứu kinh vu-lan có một vấn đề cần đặt ra
là đối tượng giáo dục của kinh này là ai? Ngài Mục-kiền-liên?
Mẹ ngài? hay chúng sanh nói chung? Câu trả lời ngắn gọn là thông
điệp của kinh Vu-lan dành cho tất cả loài người, những người
từng là con và do đó phải có trách nhiệm đền đáp ân nghĩa sanh
thành và nuôi nấng của cha và mẹ. Kế đến thông điệp vu-lan còn
hướng đến những chúng sanh đang bị đau khổ, do bị nghiệp bất thiện
gây ra trong đời sống hiện tại cũng như trong quá khứ.
Do đó việc báo hiếu không chỉ dành cho hàng đệ tử
tại gia mà còn chung cho hàng xuất gia; việc cứu độ không chỉ dành
cho người còn sống mà còn cho người quá vãng. Với tinh thần
cứu sanh độ tử, đạo Phật đã thật sự đi vào ngỏ ngách của
cuộc sống. Độ người còn sống để giúp họ sống hạnh phúc ở
hiện tại và tương lai. Độ người đã chết để giúp họ sớm
thoát khỏi cảnh giới xấu xa và đau khổ. Nếu người hành trì đạo
Phật muốn biến đạo Phật thành đạo chỉ "độ người sống"
mà không có "độ người chết" thì họ đã làm cho đạo
Phật trở nên không trọn vẹn. Ngược lại, nếu biến đạo Phật
thành đạo chỉ có độ người chết mà không có độ người sống
lại càng làm cho đạo Phật không còn là đạo Phật nữa. Nói cách
khác, đạo Phật quan tâm đến nhiều phương diện của đời sống, bao
gồm sống và chết, để từ đó hướng tới con đường niết-bàn
chấm dứt vĩnh viễn quy trình tái sanh của sống và chết. Các hình
thức nghi lễ cúng kiến cho người chết mà không thuyết pháp để
độ người còn sống sẽ biến đạo Phật thành một "đạo ma
chay," điều mà đức Phật đã từng lên án khi ngài còn tại
thế. Mong sao những người con Phật ý thức được việc làm của
mình, không biến đạo Phật từ một đạo vị nhân sinh sống động
thành một đạo vì người chết.
Một ý khác cần nói thêm là quan niệm báo hiếu của
đạo Phật khác xa với Nho giáo. Theo Nho giáo có ba loại bất hiếu,
loại bất hiếu nặng nhất là không có sinh con cái để nối
dòng" (bất hiếu hữu tam, vô tự vi đại). Quan niệm này thực
chất là một hệ quả của chủ thuyết thế tập, cha truyền con nối
trong chế độ phong kiến quân chủ ngày xưa. Sanh con nối dòng để kế
thừa sự nghiệp của cha ông, dù cho người con đó không xứng
đáng về phương diện đạo đức và trí tuệ. Đạo Phật bất đồng
với quan niệm thế tập như vậy. Theo Phật giáo, người con xuất gia,
nghĩa là tuyệt hẳn chuyện nối dòng, nếu tu tập đoàng hoàng cũng
là một trong những cách tốt để đền đáp công ân của cha mẹ.
Ở đây đạo Phật khuyến khích tinh thần tự do dân chủ trong lựa
chọn và hướng nghiệp. Mọi người phải quyết định lấy số mạng
của mình, không nương tựa và dựa dẫm người khác, không chạy
theo các thế lực chính trị v.v
Đời sống đạo đức và thiền
định là những thành trì mà người Phật tử có thể dựa vào
một cách vững chắc, bền bĩ và an toàn nhất.
6. Giá trị
đạo đức của kinh Vu-lan [^]
Nếu kinh Vu-lan-bồn là thông điệp hiếu kính cha mẹ thì
mùa Vu-la-bồn là mùa biểu tượng của đạo hiếu trong đạo Phật.
Đó là mùa gợi chúng ta nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục
của cha mẹ. Mùa Vu-lan do đó đã trở thành mùa báo hiếu. Lễ hội
vu-lan là lễ hội của hiếu thảo, thương cha kính mẹ. Hiếu thảo với
cha mẹ thì chúng ta phải biết kính trọng cha mẹ, vâng lời cha mẹ
dạy, phụng dưỡng nuôi nấng cha mẹ, sớm thăm tối viếng khi cha mẹ
đau ốm, hướng dẫn cha mẹ qui y tam bảo, trở thành người Phật tử
chân chánh, nếu cha mẹ chưa trở về với chánh pháp. Nói chung,
người Phật tử phải biết đền ơn cha mẹ hiện đời cũng như cha
mẹ trong các đời quá khứ. Đạo lý của vu-lan như vậy là đạo
lý vì con người, vì sự an lạc của tất cả chúng sinh.
Từ phương diện xã hội, lễ vu-lan còn là dịp tốt
để người Phật tử phát tâm cúng dường tam bảo, làm việc nhân
từ, phóng sanh giúp vật v.v
Tinh thần vu-lan dạy chúng ta ý thức
độ lượng, bao dung, hướng đến và giúp đỡ người khác trong tinh
thần vô vị lợi. Ngoài ra, vu-lan còn là cơ hội tốt cho chúng ta
phát tâm bồ-đề hướng đến các chúng sanh ngạ quỹ đang đau khổ,
làm các việc công đức để hồi hướng cho họ. Một lễ hội có
nhiều giá trị đạo đức và luân lý như vậy cần được phát huy
để cho sự sống của con người hôm nay và mai sau thật sự an lạc
trong đạo lý và tình người.
V.
Kết luận [^]
Nói tóm lại, bản kinh Vu-lan là một thông điệp gồm 3
nội dung: (1) đề cao đạo đức chữ hiếu, (2) hướng dẫn phương
pháp độ sanh qua chuyển hóa tâm thức của đối tượng và (3)
khuyến khích các hình thức tôn kính và phụng sự tam bảo trong các
dịp thích hợp.
Đề cao đạo đức chữ hiếu để cuộc đời có
nhiều người con hiếu thảo, bớt đi tình trạng suy thoái đạo đức
trong dân gian, xây dựng một xã hội an bình và hạnh phúc. Độ sanh
qua chuyển hóa tâm thức chúng sanh là phương pháp đề cao giáo lý
nghiệp và tinh thần tự lực của từng chúng sanh trong ba cõi. Chỉ
có con đường tự chuyển hóa tâm thức chính mình, qua sự hướng
đạo của tam bảo, hành vi và lời nói của chúng ta sẽ trở nên
thiện. Đây là con đường cứu độ bản thân và tha nhân có hiệu
quả nhất. Mọi hình thức trông chờ vào tha lực của người khác
chỉ là phản ánh của một nhận thức sai lầm về lý nhân quả
"ai làm lấy chịu, ai tu nấy chứng" của đức Phật và tệ hơn
nữa là một sự đổ vỡ của đời sống hướng thượng của bản
thân. Khuyến khích các hình thức tôn kính và cúng dường tam bảo
một mặt gắn liền sự sinh hoạt của người con Phật với đạo
pháp, mặt khác phản ánh thái độ tôn kính chân lý và đạo đức
của những con người đã dầy công tu tập, quảng bá chánh pháp vì
lợi ích cho số đông, vì lợi ích cho chư thiên và loài người.
Với một thông điệp gồm ba nội dung như vậy, kinh
Vu-lan và lễ hội báo hiếu đã, đang và sẽ còn tiếp tục sống mãi
trong đạo đức chữ hiếu và đạo lý làm người, của tất cả con
người trên hành tinh này cho dù, nguồn gốc của nó còn trong vòng
tranh luận. Nói cách khác, các giá trị đóng góp của kinh vu-lan và
lễ hội vu-lan cho đạo đức cuộc sống của nhân sinh đã lấn át
hoàn toàn các nghiên cứu có tính cách lịch sử nhưng lại không
phục vụ được gì cho cuộc sống đầy đau khổ và thương tâm của
con người hôm qua, hôm nay và mai sau. Trong bối cảnh đó, kinh vu-lan
đã nghiễm nhiên chói sáng mãi như vị cứu tinh cho đời sống đạo
đức, cho đạo lý hiếu thảo, cho tình người hôm nay và mai sau!
- Mùa Vu-lan tại Ấn Độ
- 12-7-2000
---
o0o
---
|
Mục lục Tác giả
|
--- o0o ---
Trình
bày:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày: 01-08-2002