ANGULIMALA,
Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Thích Nguyên Tạng dịch
---o0o---
Thuở xa xưa có một chàng trai con của một vị Bà la môn (giai cấp "tu
sĩ" cao nhất ở Ấn Độ) sống dưới triều đại vua Pasenadi (Ba Tư Nặc), kinh
thành Xá Vệ, thuộc vương quốc Kosala (Kiều Tát La). Tên của chàng là
Ahimsaka (người thất bại). Chàng được gởi đến thành phố Taxila để học
hành. Ahimsaka rất thông minh và biết vâng lời thầy, nên chàng được cả
thầy lẫn bà vợ thầy yêu mến. Điều này đã khiến cho các học viên khác
ganh tỵ với chàng. Vì thế họ tìm đến thầy giáo và vu cáo Ahimsaka có mối
quan hệ bất chính, trái đạo lý với bà vợ của thầy. Thoạt tiên, vị Thầy
không tin họ; nhưng sau khi nghe điều đó lập đi lập lại nhiều lần, ông
nghĩ rằng đó là sự thật và thề sẽ trả thù Ahimsaka. Ông thầy nghĩ rằng
việc giết người học trò sẽ gây tai tiếng, sẽ ảnh hưởng xấu đến bản thân
ông. Cơn giận dữ thúc giục ông đã đưa ra mệnh lệnh giết người, một việc
không thể tưởng tượng nổi đối với chàng thanh niên Ahimsaka trẻ tuổi và
ngây thơ kia. Ông ta bảo cậu học trò phải giết một ngàn người và mang về
ngón tay cái của từng người để trả học phí. Cố nhiên chàng thanh niên
không muốn nghĩ đến một việc kinh khủng như vậy và từ chối không theo
mệnh lệnh kia. Vì thế chàng đã bị tống cổ ra khỏi nhà thầy và trở về với
gia đình Cha Mẹ.
Khi Cha chàng biết được tại sao Ahimsaka đã bị đuổi, người Cha vô
cùng tức giận về đứa con của mình và không chịu nghe lời giải thích của
con. Cũng chính trong ngày ấy, lúc trời đang đổ mưa như trút nước, người
Cha xua đuổi Ahimsaka ra khỏi nhà. Ahimsaka chạy đến Mẹ chàng và xin lời
khuyên. Nhưng bà cũng không thể chống lại quyết định của chồng. Sau đó
Ahimsaka tìm đến nhà vị hôn thê của chàng (theo cổ tục hứa hôn từ lâu
trước khi đi đến hôn nhân thực sự ở Ấn Độ). Nhưng khi gia đình này biết
lý do Ahimsaka bị đuổi ra khỏi trường, họ cũng xua đuổi chàng. Nỗi ô
nhục, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của Ahimsaka đã làm cho chàng điên
tiết. Trong nỗi đau đớn cùng cực đó, đầu óc của chàng chỉ nhớ lại mệnh
lệnh khắc nghiệt của người thầy, góp nhặt một ngàn ngón tay người. Và vì
thế mà chàng bắt đầu lao vào cuộc chém giết như vậy, những ngón tay góp
nhặt được chàng treo chúng lên cành cây. Nhưng chúng bị bầy quạ và diều
hâu phá hoại, sau đó chàng đã mang vào người vòng ngón tay để giữ gìn và
theo dõi số lượng.
Cũng vì điều này mà Ahimsaka dần dần được biết qua cái tên Angulimala
(người đeo vòng ngón tay) và đã trở thành nổi hãi hùng cho vùng
nông thôn thành Xá Vệ này. Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của
Angulimala và ra lệnh bắt tên sát nhân. Khi bà Mantani, Mẹ của Ahimsaka,
biết được lệnh truy nã của vua, bà vào rừng để tìm con, với những nỗ lực
tuyệt vọng để cứu đứa con của mình. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala
chỉ còn một ngón nữa là đủ túc số một ngàn.
Đức Phật biết được tình thương và nỗ lực ngăn cản của người Mẹ đối
với con và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp thì chắc chắn Angulimala,
đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số một ngàn, sẽ gặp chính Mẹ của
mình và y có thể giết bà. Trong trường hợp đó, y sẽ chịu đau khổ còn lâu
dài hơn nữa vì nghiệp ác của mình. Do lòng bi mẫn, Đức Phật đã quyết
định đi đến khu rừng kia.
Sau nhiều ngày đêm mất ngủ, Angulimala rất mệt và gần như kiệt sức, y
rất nôn nóng tìm cách giết người cuối cùng để đủ số lượng một ngàn và
hoàn tất phận sự của mình, y quyết định giết người đầu tiên mà mình gặp.
Khi nhìn xuống từ nơi ẩn mình trên núi, y thấy một người đàn bà trên con
đường phía dưới. Y muốn làm trọn lời thề của mình để có đủ một ngàn ngón
tay, nhưng khi đến gần, y nhìn thấy người đó chính là Mẹ mình. Cùng lúc
ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết
chết người tu sĩ kia để thay thế cho Mẹ mình. Y liền vung gươm bắt đầu
đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt y.
Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên: "Này,
tên khất sĩ kia, hãy đứng lại ! Đứng lại !", Đấng Giác Ngộ trả lời:
"Ta đã đứng lại từ lâu rồi, chỉ có ngươi mới là người chưa dừng lại
thôi !" Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì
thế y lại hỏi: "Tên khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại,
còn tôi vẫn chưa dừng, nghĩa là sao ?"

Angulimala vung gươm chạy theo Đức Thế Tôn
Đức Phật đáp: "Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta từ bỏ việc giết
hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an
trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy
quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại và đối xử tàn bạo với
người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi
loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại".
Nghe qua những lời này, Angulimala như được nhắc nhở thực tại và suy
nghĩ, đây là những lời của một bậc hiền nhân. Vị khất sĩ này hiền thiện
và rất mực dũng cảm như thế chắc hẳn vị này là một nhà lãnh đạo các khất
sĩ . Quả thực, chính Ngài hẳn là đấng Giác Ngộ rồi đây. Hẳn ngài đến đây
chỉ vì mục đích làm cho mình thấy được ánh sáng. Suy nghĩ như vậy, y ném
vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận y vào giáo đoàn khất sĩ, Đức
Phật đã chấp thuận việc ấy.
Khi đức vua và quân lính đến bắt Angulimala, họ thấy người ấy đang ở
trong Tịnh xá Kỳ Hoàn của Đức Phật. Biết rằng Angulimala đã từ bỏ ác đạo
của mình và trở thành một vị tỳ kheo, vua và quần thần đều đồng ý để yên
vị này. Suốt thời gian ấy, Angulimala nhiệt tâm thực hành thiền định.

Angulimala đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn
Vị khất sĩ Angulimala vẫn không được định tâm vì ngay cả trong lúc
thiền định tĩnh lặng, Angulimala thường nhớ lại quá khứ cùng với những
tiếng gào thét thê thảm của những nạn nhân bất hạnh. Cũng vì ác nghiệp
kia, mà một ngày nọ trong lúc đi khất thực trên đường phố, Tôn giả đã
trở thành mục tiêu trả thù của đủ thứ gậy gộc, đá ném vào và thường trở
về Tịnh xá vỡ đầu chảy máu, đầy vết thương bầm tím, rồi lại được Đức
Phật nhắc nhở: "Này pháp tử Angulimala, con đã từ bỏ việc ác, hãy
kham nhẫn lên. Đây là hậu quả của ác nghiệp mà con đã gây tạo. Đáng lẽ
ác nghiệp sẽ còn làm cho con khổ đau qua vô lượng kiếp, nếu như con
không có duyên gặp được ta". Anguliama nhiệt tâm tinh cần tu tập
thiền định, không lâu sau đó, Ngài đã đắc quả A la hán.
Rồi một buổi sáng nọ, trong lúc đang trên đường đi khất thực ở thành
Savatthi, Tôn giả Angulimala nghe tiếng ai đang kêu khóc đau đớn. Khi
Tôn giả biết đó là một thai phụ đang đau vì chuyển dạ và gặp khó khăn
lúc sanh con. Tôn giả suy nghĩ tất cả chúng sanh trên thế gian này đều
phải chịu đau khổ. Động lòng từ, Tôn giả về kể lại với Đức Phật nỗi khổ
đau của người phụ nữ đáng thương kia. Đức Phật dạy Tôn giả hãy nói lên
những lời chân thật để giúp cho người thiếu phụ, lời khai thị đó về sau
này có tên là Anggulimala Paritta (thần chú hộ mệnh Angulimala).
Sau đó, Ngài Angulimala liền đi đến trước mặt người sản phụ đang chịu
đau đớn kia, Tôn giả ngồi xuống cách bà ấy một tấm màn che và phát
nguyện những lời sau: " Này thưa chị, từ ngày tôi đắc quả A la hán
đến nay, Tôi chưa từng cố ý sát hại mạng sống của sinh linh nào. Nhờ sự
thật này, cầu nguyện cho chị được an lành và đứa bé sắp sanh của chị
cũng được an lành".
Ngay lập tức người sản phụ liền sanh con một cách dễ dàng. Cả mẹ lẫn
con đều được khỏe mạnh bình an. Cho đến nay nhiều người vẫn dùng đến
thần chú hộ mệnh này.
Tôn giả Angulimala thích sống độc cư và biệt lập. Sau đó Tôn giả viên
tịch một cách yên bình. Là một vị A la hán, Tôn giả chứng đắc Vô dư Niết
bàn.
Các Tỳ kheo thỉnh cầu Đức Phật cho biết về nơi tôn giả Angulimala tái
sanh, và khi Đức Thế Tôn đáp rằng Tôn giả Angulimala đã chứng đắc Vô dư
Niết bàn, thì đại chúng không thể tin điều đó. Vì thế chư vị lại hỏi
rằng, liệu một người đã giết hại quá nhiều người như vậy, có thể chứng
đắc Niết bàn Vô dư y chăng. Trước câu hỏi này, Đức Phật đáp: "Này các
Tỳ kheo, Angulimala đã tạo quá nhiều ác nghiệp, vì vị ấy không có thiện
hữu tri thức giúp đỡ cũng như có những lời khuyên tốt, nhưng một khi
Angulimala đã hội ngộ được với Chánh Pháp, vị ấy đã trở nên kiên định và
chuyên tâm thực hành giáo pháp và thiền định. Như vậy, nghiệp ác của vị
ấy đã được thiện nghiệp lấn át che phủ, giải trừ và tâm của vị ấy đã
hoàn toàn đoạn trừ cả lậu hoặc. Đức Phật lại nói bài kệ về tôn giả
Angulimala:
"Ai dùng các hạnh lành
Xoá mờ bao nghiệp ác
Chiếu sáng cõi đời này
Như trăng thoát khỏi mây"
Vì thế, sức mạnh của lòng từ
bi bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào. Và đó cũng là điều kiện
tuyệt đối để đạt đến giác ngộ.
Thích Nguyên Tạng
(dịch từ tập sách Love in
Buddhism/Taiwan/1990)
(xem bài của cùng dịch giả)