III
GIAI ÐOẠN THỐNG
NHẤT PHẬT GIÁO
ÐẦU TIÊN
(1951 – 1956)
Ðây
là giai đoạn đặt nền tảng cho sự phát triển lâu dài của Phật giáo, sau
bước khởi đầu của phong trào chấn hưng.
Chính trị, xã
hội đất nước trong giai đoạn này có nhiều biến động : sự lớn mạnh của lực
lượng cách mạng đấu tranh giữ gìn một Nhà nước độc lập tự chủ đầu tiên
hình thành từ năm 1945, và sự trở lại của thực dân dưới hình thức chính
phủ bảo hộ để củng cố quyền lực, đàn áp cách mạng, hạn chế sự phát triển
của Phật giáo qua đạo dụ số 10.
Mở đầu cho việc
đặt nền tảng là sự kiện Phật giáo Việt Nam trở thành hội viên sáng lập Hội
Phật giáo Liên hữu Thế giới tại hội nghị gồm 26 nước tổ chức ở Sri Lanka
(Tích Lan), chính thức lấy lá cờ năm sắc làm Phật kỳ (1950) và việc Hội
Phật học Nam Việt ra đời tại Sài Gòn (1951), xuất bản tạp chí Từ Quang.
Bước thứ hai,
tiến tới thống nhất Phật giáo cả nước bằng Ðại hội Phật giáo toàn quốc tại
chùa Từ Ðàm ngày 6.5.1951, thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, suy cử
Hòa thượng Tịnh Khiết làm Hội chủ. Sau đó, các đoàn thể Tăng già ba miền
họp tại chùa Quán Sứ – Hà Nội để thành lập Giáo hội Tăng Già toàn quốc
(7.9.1952) suy cử Hòa thượng Tuệ Tạng làm Thượng thủ. Cùng năm này là việc
ra đời của Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam và Giáo hội Tăng già Nguyên thủy
Việt Nam.
Ở bước phát
triển, Tổng hội Phật giáo Việt Nam làm được các việc : ra mắt tờ bán
nguyệt san Phật giáo Việt Nam; thực hiện chương trình phát thanh Phật giáo
hàng tuần; cung nghinh xá lợi Phật đến Việt Nam rầm rộ; và sự ra đời hàng
loạt Gia đình Phật tử ở khắp nơi, minh chứng cho sức sống quật khởi trong
giai đoạn thống nhất Phật giáo đầu tiên.
Tập thứ I đã
giới thiệu được 6 vị, đến tập thứ II xin tiếp tục giới thiệu thêm 3 vị
Danh Tăng đã viên mãn sự nghiệp ở giai đoạn này.
HÒA THƯỢNG THUBTEN OSALL
LAMA MINH
TỊNH-NHẪN TẾ (1889
– 1951)
Hòa thượng
Thubten Osall Lama, pháp danh Chơn Phổ, pháp hiệu Nhẫn Tế, nối pháp đời
thứ 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau Ngài cầu pháp với Tổ sư Huệ Ðăng, được
ban pháp danh là Trừng Liến, pháp hiệu là Minh Tịnh, nối pháp đời thứ 42
dòng Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Ngài thế danh là
Nguyễn Tấn Tạo, sanh ngày Rằm tháng Bảy năm Kỷ Sửu – 1889, tại làng An
Thạnh (thường gọi Búng) Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình
Dương). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Lập, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ri,
Ngài sinh trưởng trong một gia đình trung lưu trí thức, nên từ thuở nhỏ đã
được song thân cho đi học Quốc ngữ và Pháp ngữ.
Năm Giáp Thìn
1904, khi lên 16 tuổi, Ngài tìm đến chùa Thiên Tôn, một ngôi chùa cổ nổi
tiếng trong vùng, xin quy y với Hòa thượng Ấn Thành – Từ Thiện, được pháp
danh là Chơn Phổ để nghiên cứu và tham học giáo điển Phật đà. Nhờ có trí
tuệ mẫn thiệp và trình độ thế học, Ngài chóng thâm nhập vào áo nghĩa kinh
tạng, và có ý muốn một ngày nào đó sẽ thực hiện hạnh giải thoát.
Sau khi học hành
thành đạt, Ngài được bổ làm công chức trong ngành Y tế, được một thời
gian, Ngài chán cảnh thế gian đầy đua chen danh lợi, cũng như bất mãn
trước sự cai trị hà khắc của thực dân Pháp đối với dân chúng Việt Nam, nên
có ý muốn hồi hưu. Nhân mắc phải trọng bệnh trong khi thừa hành công vụ,
Ngài xin thôi việc, dứt bỏ trần nghiệp, vân du học đạo khắp mọi nơi, lúc
thì tu hạnh đầu đà, khi thì khoác màu nguyên thủy để tìm cho mình hướng đi
đích thực trên con đường giải thoát.
Năm Bính Dần
1926, chùa Long Hòa núi Thiên Thai, Bà Rịa mở giới đàn, do Hòa thượng Huệ
Ðăng làm Ðàn đầu truyền giới, Ngài đến đăng đàn thọ Cụ túc giới. Cảm phục
đức độ và tư tưởng yêu nước của Tổ sư Huệ Ðăng, Ngài xin cầu pháp với Tổ
sư, được ban pháp danh là Trừng Liến, pháp hiệu là Minh Tịnh, nối pháp đời
thứ 42 dòng Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Ðến tháng 8 năm
Quý Dậu – 1933, chùa Thiên Tôn mở Ðại giới đàn, do Hòa thượng Ngộ Ðịnh –
Từ Phong làm Ðàn đầu truyền giới, Ngài được thọ đại giới lại với Sơn môn,
được ban pháp hiệu là Nhẫn Tế, để nối pháp đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chúc
Thánh, chùa Thiên Tôn.
Trải qua thời
gian tu hành và tham học, Ngài cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn chí nguyện, muốn
tìm về cội nguồn Phật tổ, trước là để chiêm bái đảnh lễ thánh tích, sau là
tham cứu học hỏi phương pháp tu trì, mong đạt sở chứng tỏ ngộ bản tâm,
thoát ly sanh tử. Vì thế, Ngài rời chùa Thiên Tôn, ra cất một cái am đặt
hiệu Thiên Chơn để tu và ngày đêm ấp ủ mộng lớn, chuẩn bị tư lương, học
tập thêm Anh ngữ để đợi ngày thực hiện ý định.
Năm Ngài 47
tuổi, hội đủ nhân duyên, Ngài xuống tàu thủy tại Sài Gòn khởi hành sang Ấn
Ðộ vào ngày 17 tháng 4 năm 1935. Trong thời gian trên đất Ấn, tùy thuận
phong tục, Ngài đắp y theo xứ Tích Lan và học tiếng Tamil khi ở Nam Ấn,
học tiếng Hindu khi ở Bắc Ấn. Lúc đến xứ Bhutan, Tây Tạng, Ngài lại đổi
sang pháp phục Lạt Ma và học tiếng Tây Tạng để ứng hợp việc tham cầu giáo
pháp.
Ngày 6 tháng 2
năm 1936, Ngài đến xứ Nepal tham lễ chùa tháp. Khi đến Tháp Bodha Nath,
Ngài được đảnh lễ chiêm ngưỡng Xá lợi Phật tổ, và cần cầu Thượng tọa quản
tháp xin thỉnh được một phần Xá lợi để đem về bổn quốc làm chứng tín cho
hàng đệ tử Phật tôn thờ. Ngài là người đầu tiên thỉnh được Xá lợi Phật về
Việt Nam.
Ngày 27 tháng 2
năm 1936, Ngài bắt đầu khởi hành đi Tây Tạng theo các vị Lạt Ma trong đoàn
chiêm bái Bồ Ðề Ðạo Tràng khi họ trở về xứ. Ðường đi gian khổ vất vả, đi
hơn hai tháng mới đến xứ Bhutan, mất một tháng ở lại đây học hỏi ngôn ngữ,
phong tục, chờ tuyết tan và đi thêm một tháng nữa mới đến thủ đô Lhasa.
Ngài đến xứ Tây Tạng vào ngày 28 tháng 6 năm 1936.
Tại Tây Tạng,
Ngài tham học về Kim Cang thừa Mật giáo với Lama Quốc Vương. Ðể học được
pháp môn này, Ngài phải trải qua khảo thí khắt khe nghiêm mật trong cuộc
thi tuyển toàn quốc, Ngài là một trong hai người được tuyển chọn cuối
cùng. Sau một trăm ngày tu học ở Tây Tạng, Ngài được Lama Quốc Vương ấn
chứng sở đắc thiền quán, truyền tâm pháp Kim Cang thừa và ban cho pháp
danh là Thubten Osall Lama. Thành tựu sở nguyện, ngày 29 tháng 10 năm
1936, Ngài lên đường rời xứ Tây Tạng, mất một tháng để trở lại Ấn Ðộ. Ngài
ở lại đây đi chiêm bái và học hỏi một thời gian nữa, rồi xuống tàu về
nước.
Ngày 30 tháng 6
năm 1937, Ngài về đến Việt Nam, kết thúc chuyến tường khảo thánh tích dài
2 năm 4 tháng. Ngài đến chùa Thiên Thai đảnh lễ Tổ sư, dâng cúng ngọc xá
lợi lên Hòa thượng để làm biểu tượng chánh pháp tại đây. Về lại trụ xứ
Bình Dương, uy tín đạo đức của Ngài lan rộng, bổn đạo làng Phú Cường cung
thỉnh Ngài chứng minh trụ trì ngôi chùa Bửu Hương, vốn thuộc giáo phái Bửu
Sơn Kỳ Hương, Ngài đổi tên chùa thành Tây Tạng tự, để ghi nhớ nơi Ngài đã
đến cầu pháp.
Năm Mậu Dần
1938, Ngài khởi công xây dựng lại ngôi chùa Thiên Chơn ở làng An Thạnh,
ngay trên nền cũ của am nơi Ngài ở tu trước khi đi Ấn Ðộ. Chùa được khánh
thành vào năm 1940.
Năm Ất Dậu 1945,
hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Ngài tham gia Hội Phật giáo
Cứu quốc Thủ Dầu Một và được để cử làm Chủ tịch. Tháng 6 năm 1946, Ngài là
thành viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Thủ Dầu Một tại khu Thuận An Hòa. Ngài
đã đóng góp nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân
Việt Nam. Dù ước muốn xây dựng lại chùa Tây Tạng, nhưng với tấm lòng yêu
nước và ủng hộ kháng chiến, Ngài đã nói: “khi còn chiến tranh thì một viên
ngói, một viên gạch cũng không được sử dụng xây chùa...”.
Trong cuộc đời
tu học và hoằng đạo, Ngài hóa độ rất nhiều đồ chúng xuất gia và tại gia,
đệ tử truyền thừa của Ngài là Hòa thượng Như Trạm - Tịch Chiếu.Ngài có hai
tác phẩm lưu lại hậu thế :
-
Lăng Nghiêm Tông Thông (1997).
-
Nhật Ký Tham Bái Ấn Ðộ, Tây Tạng (1999).
Ngày 17 tháng 5
năm Tân Mão – 1951, Ngài thâu thần viên tịch tại chùa Tây Tạng, trụ thế 63
năm, giới lạp 25 mùa Hạ. Môn đồ nhập Bảo tháp nhục thân của Ngài tại chùa
Thiên Chơn và lập Bảo tháp thờ vọng tại khuôn viên chùa Tây Tạng
HÒA
THƯỢNG THÍCH CHÁNH QUẢ (1885 – 1956)
Hòa thượng Thích
Chánh Quả, pháp hiệu Ngộ Giác, truyền thừa đời thứ 40 dòng Lâm Tế Ðạo Mẫn.
Ngài thế danh Phạm Văn Ngưu, sinh năm Canh Thìn 1880 tại làng Tân Hòa,
tỉnh Vĩnh Long.
Năm Ất Mão 1915,
giác ngộ thế gian vô thường, Ngài tìm đến chùa Giác Hải (Chợ Lớn) xin quy
y thế phát với Hòa thượng Tổ Thích Từ Phong, được Tổ cho pháp danh là
Chánh Quả, pháp hiệu là Ngộ Giác.
Sau khi xuất
gia, dưới sự dìu dắt, dạy dỗ của Tổ Từ Phong, Ngài chuyên tâm tu học kinh
luật thiền môn, rèn trau giới hạnh.
Năm Bính Thìn
1916, Ngài được Tổ trao truyền Sa di giới tại chùa Giác Hải. Kế đến, được
Tổ cho đăng đàn thọ Tỳ kheo-Bồ tát giới tại trường Kỳ chùa Giác Lâm cùng
trong năm này.
Năm Mậu Ngọ
1918, nhờ học lực uyên thâm, giới đức minh tịnh, Ngài được Tổ đề cử giảng
bộ Long Thơ Tịnh Ðộ tại đạo tràng chùa Giác Hải. Từ đó danh tiếng của Ngài
được Tăng Ni, tín đồ khắp lục tỉnh biết đến.
Năm Nhâm Tuất
1922, Ngài được cung thỉnh giảng dạy Luật học cho Tăng Ni an cư tại trường
Hương chùa Long Phước, Vĩnh Long.
Từ năm Kỷ Tỵ
1929 đến năm 1950, Ngài về trụ trì chùa Kim Huê (Sa Ðéc). Tại đây, Ngài mở
lớp gia giáo giảng dạy kinh luật cho chư Tăng khắp lục tỉnh quy ngưỡng về
tu học rất đông. Ðạo tràng đào tạo nhiều bậc cao Tăng đã góp phần rất lớn
trong phong trào chấn hưng Phật giáo như : Hòa thượng Hành Trụ, Thiện
Tường, Thới An, Huệ Hưng, Từ Nhơn...
Năm Tân Mùi
1931, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học do chư Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ
Quang, Thiên Trường, Bổn Viên... thành lập, Hội quán đặt tại chùa Linh Sơn
(Sài Gòn). Ngài được mời làm hội viên sáng lập.
Năm Giáp Tuất
1934, Ngài được bầu làm Hội trưởng Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học đến năm
1935. Trong thời gian này, Ngài tham gia giảng dạy tại các trường Hương ở
miền Tây. Ngoài ra, Ngài cũng cộng tác viết bài cho tạp chí Từ Bi Âm,
tiếng nói của Hội.
Năm Ðinh Sửu
1937, khi Hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập tại Trà Vinh, Ngài được
mời làm Chứng minh và cộng tác viết bài cho báo Duy Tâm, cơ quan ngôn luận
của Hội.
Năm Bính Tuất
1946, do Ni chúng theo học rất đông mà chùa Kim Huê chỉ đủ chỗ cho Tăng
chúng, Ngài thành lập Phật học Ni viện tại chùa Phước Huệ (Sa Ðéc) để tập
trung giảng dạy cho Ni chúng.
Năm Mậu Tý 1948,
để tục diệm truyền đăng, Ngài khai Ðại giới đàn truyền giới cho học Tăng
tại Phật học viện chùa Kim Huê, giới tử có Hòa thượng Huệ Hưng, Trí
Châu... thọ Cụ túc giới trong đàn giới này.
Ðương thời, Ngài
là một bậc cao Tăng rất nổi danh khắp miền Tây lục tỉnh Nam kỳ nên Tăng Ni
quy ngưỡng tựu về tu học rất đông. Ðệ tử xuất gia, cầu pháp với Ngài cũng
rất nhiều, đa số đã trở thành trụ cột của phong trào chấn hưng Phật giáo
như : Hòa thượng Huệ Hưng, Huệ Phát, Huệ Thông, Huệ Hòa... chư Ni như : Ni
trưởng Như Thanh, Như Ngọc, Chí Kiên, Như Hòa, Như Nhẫn, Phước Hiển...
Năm Bính Thân
1956, tuổi hạc đã cao, nhận biết duyên sắp mãn, Ngài thu xếp mọi việc, phó
chúc Phật sự cho đệ tử rồi niệm Phật chờ ngày vãng sanh. Vào buổi trưa lúc
12 giờ ngày 13 tháng Giêng năm Bính Thân, Ngài an nhiên thu thần thị tịch
tại chùa Kim Huê, trụ thế 76 năm, công hạnh tròn 40 Hạ lạp.
Sự nghiệp hoằng
hóa Phật pháp suốt đời của Ngài đã trợ duyên rất lớn cho phong trào chấn
hưng Phật giáo tại miền Tây Nam bộ, góp phần phát triển Phật giáo rộng
khắp ở giai đoạn nửa sau của thế kỷ.
HÒA
THƯỢNG THÍCH LIỄU THIỀN (1885 – 1956)
Hòa thượng Thích
Liễu Thiền (còn gọi là Liễu Thoàn), pháp hiệu Tu Trì, thuộc tông Thiên
Thai Giáo Quán đời thứ 21. Ngài thế danh là Nguyễn Văn Ðo, sinh năm Ất Dậu
(1885), tại làng Mỹ Lệ (Chợ Trạm), huyện Cần Ðước, tỉnh Long An. Thân phụ
là cụ ông Nguyễn Văn Tín, thân mẫu là cụ bà Phan Thị Chí.
Gia đình Ngài
vốn theo đạo Minh Sư, rất mực nhân nghĩa, đạo đức với đời. Năm lên 8 tuổi,
Ngài được song thân cho học với một danh nho nổi tiếng trong vùng. Vốn bản
tính thông minh lại thêm siêng năng, hiếu học nên chỉ trong ba năm Ngài đã
làu thông các bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh, Minh Tâm của Nho giáo. Tuy thông minh
học giỏi nhưng Ngài lúc nào cũng khiêm tốn, lễ độ, kính trên nhường dưới,
hài hòa với bạn đồng học nên được thầy yêu, bạn mến. Trong gia đình, Ngài
hết lòng hiếu kính mẹ cha, chia xẻ, gánh vác việc nặng nhọc với anh em,
dịu dàng, thân ái với thân quyến xóm làng. Từ bé, Ngài được mọi người yêu
thương, quan tâm, chỉ bảo.
Năm Giáp Thìn
(1904), một trận bão kinh hoàng gieo đau thương tang tóc khắp nơi. Hai
huyện Cần Ðước, Cần Giuộc bị tàn phá nặng nề, cây ngã, nhà sập, xác người
chết đó đây, nhân dân trong vùng đói rét khốn khổ. Thảm trạng này đã đánh
động vào tâm thức non trẻ của Ngài, khiến Ngài nhận ra rằng thế gian này
vốn vô thường, tạm bợ mà kiếp nhân sinh thì quá đỗi khổ đau. Cũng từ đây
một bước ngoặt tâm lý được mở ra. Ngài bắt đầu hướng tâm đến đạo giáo,
trường trai giới sát, tu nhân tích đức. Khi thiện duyên chín mùi, Ngài đến
chùa Vĩnh Nguyên (đạo Minh Sư) xin xuất gia, thọ giáo với ông Lão Tiễn.
Theo đạo Minh Sư, người xuất gia không cắt tóc, chỉ đoạn trừ ân ái, tĩnh
lặng dụng công tích phép luyện đơn. Ngài ở đây, dưới sự dẫn dắt của Thầy,
chuyên tâm tu tập, khổ hạnh nhiều năm. Khi công hạnh đã tinh thuần, Ngài
được điểm đạo và tôn xưng lên ngôi vị ông Lão.
Tháng Giêng năm
1933 (Quý Dậu), do túc duyên nhiều đời với Phật pháp, Ngài cùng phái đoàn
bảy người trong đạo Minh Sư sang Trung Quốc, lãnh thọ giới pháp của đức
Phật do Tổ Hiển Kỳ nhiếp hóa và khuyến tấn. Phái đoàn được Tổ Hiển Kỳ, Tổ
đình Thanh Sơn, cho lưu trú tại bổn viện và trong suốt 15 ngày liền Tổ
khai hóa chánh pháp, giảng giải tông yếu của pháp môn cho mọi người. Sau
đó, Tổ khai đàn truyền Cụ túc giới cho cả phái đoàn. Ðắc giới xong, Ngài
được Tổ ban pháp hiệu Liễu Thiền nối pháp tông Thiên Thai Giáo Quán đời
thứ 21, chính thức truyền sang Việt Nam.
Sau đó Ngài cùng
phái đoàn trở về Việt Nam. Về lại chốn cũ chùa Vĩnh Nguyên, với tâm nguyện
truyền bá chánh pháp lợi lạc quần sanh. Ngài chuyển lối tu từ đạo Minh Sư
sang pháp tu của đạo Phật. Lấy kinh Pháp Hoa làm căn bản, mượn pháp Tam
Quán làm phương tiện. Và đây cũng là điểm khởi thủy của Tông Thiên Thai
Giáo Quán ở Việt Nam mà Ngài là Sơ Tổ.
Cũng trong thời
gian này, ông Lão Tiễn quy tiên, kế đó song thân Ngài cũng lần lượt từ giã
cõi đời. Ngài phải lo chu tất việc cúng tế thờ tự cho người thầy đầu tiên
của mình, cũng như việc an táng, siêu độ cho song thân, vẹn toàn hiếu
hạnh.
Tháng 4 năm 1933
(Quý Dậu), nhận lời thỉnh cầu của ông Cả Tiệm, Ngài về trụ trì chùa Tôn
Thạnh, xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Ðây là một đại già lam u
tịch, cổ kính, do Tổ Viên Ngộ khai sáng năm 1807. Ngài cho sửa sang lại tự
viện, chỉnh đốn tông môn và một năm sau, năm 1934 (Giáp Tuất) Ngài mở Ðại
trai đàn cầu quốc thới dân an, siêu độ cho thập loại chúng sanh. Cũng
trong năm này, Ngài khai Ðại giới đàn, cung thỉnh Giới sư tôn túc, truyền
bá giới pháp cho hơn 300 Tăng Ni, cư sĩ. Ðây là một đàn giới trang nghiêm
long trọng nhất ở Long An từ trước đến nay.
Nhằm giúp Tăng
chúng thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, trong suốt 20 năm (1934 –
1954) trụ trì tại Tổ đình Tôn Thạnh, hàng năm Ngài đều mở khóa An cư kiết
Hạ. Kính mộ uy đức của Ngài, Tăng chúng quy ngưỡng về tụ học mỗi lúc một
đông hơn. Ngoài ra, Ngài còn có thông lệ, hằng năm vào ngày 17, 18, 19
tháng 2 Âm lịch, tức ngày vía Bồ Tát Quán Âm, Ngài đều khai đàn truyền
giới cho Tăng Ni, Phật tử.
Về phương diện
tu tập, Ngài tuân thủ tôn chỉ của tông Thiên Thai, lấy tam pháp quán
(Không quán; Giả quán; Trung quán) làm pháp môn chủ yếu. Ngài còn chuyên
tâm trì tụng kinh Pháp Hoa và kinh Kim Cang. Về phương diện giáo hóa, Ngài
tích cực hiển dương pháp môn Tịnh Ðộ dạy người niệm Phật cầu vãng sanh.
Ngài hành trì giới luật rất tinh nghiêm. Ðể tu tập thiền quán, Ngài không
ăn chiều, không uống sữa bò, đi bộ đường dài trên 20km, nhất quyết không
ngồi xe để ngựa kéo. Mến mộ giới đức của Ngài, trong các trường Hương, chư
tôn thiền đức thỉnh Ngài giảng dạy Luật tạng. Và trong các lớp gia giáo,
Ngài luôn được mời dạy các bộ kinh Ðại thừa.
Kính ngưỡng đức
hạnh của Ngài, biết bao người xả tục quy chơn. Trong số đệ tử xuất gia của
Ngài, đã có biết bao vị trở thành pháp khí Ðại thừa làm rường cột trong
Phật pháp như : Hòa thượng Ðạt Hương, Viện chủ chùa Linh Phong (Tân Hiệp,
Tiền Giang), Hòa thượng Ðạt Pháp, trụ trì chùa Bồ Ðề (Cần Giuộc, Long An),
Hòa thượng Ðạt Tân, trụ trì chùa Phước Lâm (Củ Chi), Hòa thượng Ðạt Ðồng,
trụ trì chùa Ðông Thạnh (Cần Giụôc, Long An). Về Ni giới có Ni trưởng Ðạt
Lý, Viện chủ chùa Long Nhiễu (Thủ Ðức), Ni trưởng Ðạt Cung, Viện chủ chùa
Pháp Ðàn (Gò Ðen), Ni trưởng Ðạt Thuận, trụ trì chùa Linh Sơn (Bình
Chánh)... Rất nhiều thiện nam, tín nữ quy y nơi Ngài đều được Ngài khuyến
hóa tu tập theo pháp môn Tịnh độ, và có nhiều người lúc lâm chung chứng
nghiệm được điềm lành.
Ngài tận tụy
truyền thừa tông chỉ bổn môn nhưng vẫn hòa mình vào đại thể Phật giáo,
luôn cùng với các vị tôn túc trưởng lão chung lo Phật sự, hết lòng hết
sức, không tị hiềm, không phân chia. Do vậy, Ngài rất được chư tôn thiền
đức quý kính. Chùa nào khai Hương, mở Hạ cũng cung thỉnh Ngài chứng minh
hoặc làm Thiền chủ. Ðàn giới nào cũng thỉnh Ngài ở vị Tam Sư, để truyền
trao giới pháp cho đàn hậu tấn.
Khi phong trào
chấn hưng Phật giáo được các Hòa thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang
khởi xướng và phát động mạnh ở miền Nam, các lớp Phật học liên tiếp ra đời
để đào tạo Tăng tài, Ngài luôn được quý Hòa thượng mến mộ, cung thỉnh vào
ngôi vị:
- Chứng minh Ðạo
sư Liên Hải Phật Học Ðường.
- Chứng minh Ðạo
sư Hội Phật Học Nam Việt (1955).
- Chứng minh Ðạo
sư Hội Lưỡng Xuyên Phật Học (1934).
- Chứng minh Ðạo
sư Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Nam Việt.
- Chứng minh Ðạo
sư Phật Học Ðường Nam Việt.
Có thể nói Tổ
đình Tôn Thạnh trong thời gian Ngài đương gia khai hóa, thật sự đã biến
thành một thánh địa cho Tăng, Ni, Phật tử quy ngưỡng rèn trau giới đức.
Trong số đó có 2 vị cao Tăng : Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích
Thiện Hòa, năm nào các Ngài cũng về đây tịnh tu một thời gian, hoặc để
nghiên tầm kinh, luật hoặc để trợ giúp Phật sự với Ngài.
Năm 1950 (Canh
Dần), cảm nghĩa ân khai tâm, mở trí của ông Lão Tiễn, vị thầy đầu tiên,
Ngài cho khởi công trùng tu lại ngôi chùa Vĩnh Nguyên, chùa được hoàn tất
trong năm, khang trang, đẹp đẽ.
Năm 1955 (Ất
Mùi), Ngài được gia tộc chùa Pháp Tánh nhường cho một mẫu đất ở xã Tân
Kim, huyện Cần Giụôc, tỉnh Long An. Ngài khởi công xây dựng Tổ đình cho
tông phái. Chùa được hoàn tất khang trang, tráng lệ theo lối kiến trúc cổ.
Ngài đặt hiệu là Bồ Ðề. Từ đây chùa Bồ Ðề chính thức là Tổ đình của tông
Thiên Thai Giáo Quán, là nơi thờ tự chư tiền bối tông môn mà cũng là chỗ
quy ngưỡng của Tăng tín đồ tông phái.
Khi hoàn thành
các tâm nguyện, Ngài vui vẻ đi thăm viếng tất cả các già lam, trú xứ mà
trước đây Ngài đã ở qua. Sau chuyến đi này, sức khỏe Ngài yếu hẳn, biết
trước lẽ vô thường, Ngài gác bỏ vạn duyên để chuyên tâm niệm Phật.
Ngày 21 tháng 4
năm Bính Thân (1956), hóa duyên đã mãn, Ngài an nhiên thị tịch, hưởng thọ
71 tuổi, 23 Hạ lạp. Tang lễ của Ngài được tông môn Thiên Thai cử hành vô
cùng trọng thể, dưới sự chứng minh của chư vị tôn túc Giáo hội Phật giáo
Tăng Già Nam Việt. Nhục thân của Ngài được nhập tháp tại Tổ đình Bồ Ðề.
Hơn 20 năm tấn
đạo nghiêm thân, hiển dương tông phái, hoằng pháp độ sanh, công hạnh của
Ngài to lớn biết bao ! Ngài xứng đáng là Tòng Lâm thạch trụ, khai môn, mở
phái, là thiền môn quy cảnh cho tứ chúng đồng soi, là thềm thang lối Phật
cho hậu tấn noi theo.
--- o0o ---
[
Mục Lục ]
[
Phần tiếp theo ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-02-2003